Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Cách mạng Tháng 8 – 1945 bước ngoặt lịch sử cách mạng Việt Nam

Năm 1941, cuộc chiến tranh thế giới đã bước sang năm thứ ba. Tháng 6- 1941, phát xít Đức mở cuộc tấn công Liên Xô. Cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô bắt đầu. Tính chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi về căn bản. Trên thế giới hình thành hai trận tuyến: một bên là lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu, một bên là khối phát xít Đức, Ý, Nhật.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (Hội nghị lần thứ tám). Hội nghị đã nêu một số mâu thuẫn cần giải quyết lúc bấy giờ như mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc Pháp – phát xít Nhật. Hội nghị chủ trương trước hết phải giải phóng các dân tộc Đông Dương ra khỏỉ ách áp bức Pháp - Nhật. Hội nghị chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) gồm các tổ chức quần chúng, cùng nhau giải phóng dân tộc.

Từ sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng trở thành hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc. Lực lượng cách mạng giương cao ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng.Giữa lúc đó, chiến tranh thế giới thứ hai đã có những chuyển biến mau lẹ, phát xít Đức bị tiêu diệt và phải đầu hàng. Ở châu Á, quân phiệt Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Ngay lúc đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân đồng minh kéo vào.

Ngày 16 - 8 - 1945, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua đề nghị tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh. Đại hội đã nhất trí tán thành quyết định tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngay sau đó, Hồ Chủ tịch đã gửi thư tới đồng bào cả nước kêu gọi nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền''...Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”

Tại Hà Nội, không khí cách mạng vô cùng sôi động. Các tầng lớp nhân dân hăng hái gia nhập các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ chiến đấu. Tối ngày 15-8, đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh đã tổ chức diễn thuyết công khai ở các rạp hát lớn trong thành phố. Ngày 16 - 8, truyền đơn, biểu ngữ kêu gọi khởi nghĩa xuất hiện khắp nơi. Chiều ngày 17 - 8, Tổng hội Viên chức tổ chức một cuộc mít tinh tại Nhà hát lớn. Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng bộ Thủ đô đã huy động quần chúng trong các tổ chức cứu quốc thành phố, biến cuộc mít tinh thân Nhật thành cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh, rồi biến thành một cuộc biểu tình tuần hành qua các phố, có cờ đỏ sao vàng dẫn đầu, vừa cổ động chương trình Việt Minh, vừa hô hào nhân dân tham gia khởi nghĩa. Đến ngày 19 tháng 8, khí thế cách mạng tràn ngập khắp thủ đô Hà Nội.

Nhân dân thủ đô kéo tới quảng trường Nhà hát lớn dự cuộc mít tinh lớn do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình, nhân dân nhanh chóng chiếm phủ Khâm sai, Toà Thị chính, trại lính bảo an, Sở cảnh sát và các công sở của chính phủ bù nhìn. Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Thủ đô hoàn toàn thắng lợi.

Ngày 2 - 9 - 1945 tại quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời.

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, ngọn cờ dân tộc đã được Đảng ta giương cao hơn bao giờ hết, Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành nhân tố trung tâm quy tụ sức mạnh của nhiều lực lượng và cá nhân yêu nước tiến bộ. Chỉ sau 15 ngày nổ ra, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ với 15 năm tuổi đời cùng với lực lượng nhỏ bé của mình (khoảng 5.000 đảng viên) lại có thể tổ chức cách mạng thành công trên hầu khắp Việt Nam. Thành công này không thể xảy ra nếu chỉ dựa vào số lượng đảng viên ít ỏi này, mà đến từ sự chuẩn bị kiên trì suốt 15 năm của Việt Minh: các đảng viên của Mặt trận Việt Minh đoàn kết, gắn bó sâu rộng với quần chúng, đồng cam cộng khổ, hiểu được tâm tư của nhân dân nên được nhân dân tin tưởng. Khi thời cơ đến, chỉ 5.000 đảng viên đó đã có thể kêu gọi hàng triệu người dân nổi dậy, đoàn kết ủng hộ Việt Minh. Thắng lợi đó là việc tận dụng đúng thời cơ của ban lãnh đạo Việt Minh, đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỷ tại Việt Nam, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngàn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp đã trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai.

Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi đã mở đầu cho thời kì suy sụp của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần vào quá trình giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới.Qua đó khẳng định vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với sứ mệnh giải phóng dân tộc. Cách mạng tháng 8 năm 1945 còn khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, năm 1946, Việt Nam diễn ra cuộc bầu cử đầu tiên trong lịch sử, bầu ra quốc hội đầu tiên. Thành công đã mở đường đưa dân tộc Việt Nam tiến hẳn vào kỷ nguyên mới trong lịch sử của mình: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Kỷ nguyên mới đánh dấu bước nhảy vọt: Lần đâu tiên trong lịch sử, một nhà nước được thành lập do nhân dân Việt Nam bầu cử ra, do nhân dân Việt Nam lãnh đạo và để bảo vệ lợi ích của nhân dân Việt Nam được thành lập. Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chấn hưng dân tộc


Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Chiến thắng từ đâu

Cách đây tròn 72 năm, chỉ trong khoảng hai tuần cuối tháng 8-1945, toàn thể dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền để tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc.
Từ thân phận nô lệ, Tổ quốc Việt Nam đã độc lập, tự do, có quyền tự quyết; nhân dân Việt Nam trở thành người chủ và làm chủ trong một chế độ dân chủ cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã làm rung chuyển và chấn động hệ thống thuộc địa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; đồng thời cũng là cột mốc đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa kiểu cũ trên phạm vi quốc tế.
Thành quả to lớn đó trước hết thuộc về sự nghiệp cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó, vai trò của Hồ Chí Minh là tiền đề và hết sức quan trọng. Để có được thắng lợi vĩ đại đó, Hồ Chí Minh đã phải bôn ba khắp năm châu bốn biển, đúc kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, lựa chọn con đường cách mạng vô sản duy nhất đúng cho dân tộc Việt Nam. Người đã nắm chắc thời cơ và khi thời cơ chín muồi, cũng chính Người đã “chớp lấy” kịp thời nhất, cùng toàn Đảng, toàn dân tộc đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi vĩ đại.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đúc kết bài học quý về quy tụ nhân tâm, quy tụ lòng người; bài học về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hài hòa “ý Đảng với lòng dân”, như một quy luật lịch sử tất yếu khách quan. Tin dân, dựa vào dân, hiểu thấu dân tâm là truyền thống quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta, trở thành một giá trị tiêu biểu của nền văn hóa-chính trị Việt Nam hiện đại.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chỉ khi nào lòng dân quy về một mối, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc thì nội lực dân tộc mới được phát huy cao nhất, đất nước mới trở nên thái bình, thịnh trị, dân chúng yên vui, hạnh phúc. Từ tổng kết kinh nghiệm lịch sử dân tộc, ngay từ năm 1942, trong cuốn sách nổi tiếng “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta”. Sử ta dạy cho ta bài học, khi nào dân ta đoàn kết thì độc lập nước nhà được giữ vững, nếu không đoàn kết thì độc lập nước nhà có nguy cơ bị xâm phạm. Và chính sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn là một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam, tạo ra nhân tố hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây là tiền đề quan trọng nhất cho những bước phát triển tiếp theo và cho thắng lợi hoàn toàn của cuộc đấu tranh giải phóng và công cuộc phục sinh, chấn hưng, phát triển của dân tộc.
Với sự trở về nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 của Đảng họp tháng 5-1941 đã hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, mở ra con đường đi tới thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”; xác định chủ trương hoàn toàn mới: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”. Trong “Kính cáo đồng bào” năm 1941, Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng”.
Hội nghị Trung ương 8 của Đảng và sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đánh dấu bước ngoặt trong đường lối lãnh đạo cách mạng hướng tới việc mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ và phát huy cao độ nội lực dân tộc cho một cuộc hồi sinh vĩ đại. Kể từ đây, chủ trương đoàn kết dân tộc của Đảng được đặt trên cơ sở của chính chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Chủ trương này được thực hiện nhất quán trong công tác vận động quần chúng của Đảng. Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, lần đầu tiên Mặt trận Dân tộc Thống nhất đã trở thành hiện thực và phát huy vai trò mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đặc biệt là sự lãnh đạo và trực tiếp chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh không chỉ làm cho khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng, củng cố, không ngừng “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”, mà còn nâng lực lượng của khối đại đoàn kết đó lên một trình độ mới, một chất lượng mới-Đại đoàn kết quy tụ dân tâm có hệ tư tưởng, có tổ chức, có lãnh đạo. Kết quả là chỉ trong khoảng hai tuần, được đồng bào cả nước đồng lòng, đồng sức, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã diễn ra một cách mau lẹ, đầy bản lĩnh và sáng tạo, thắng lợi hoàn toàn trong cả nước.
Hơn 70 năm đã qua, nhưng ký ức hồi sinh của cả một dân tộc thì không bao giờ quên lãng. Trong đáy lòng, ký ức mỗi người dân Việt, Cách mạng Tháng Tám vẫn là một sự kiện diệu kỳ của lịch sử dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đã có nhiều kiến giải khác nhau ở trong nước và trên thế giới về sự kỳ diệu của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 của Việt Nam. Và ở đó có một sự thực thống nhất, lịch sử không thể phủ nhận với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, ngọn cờ dân tộc được Đảng ta giương cao hơn bao giờ hết và trong suốt hơn 4 năm, Mặt trận Việt Minh đã thực sự trở thành nhân tố trung tâm quy tụ sức mạnh của nhiều lực lượng và cá nhân yêu nước tiến bộ. Khối đại đoàn kết toàn dân đã không những được khôi phục, được củng cố, mà còn được nâng lên tầm cao mới, kết hợp với sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ để bùng phát kịp thời, khi thời cơ đến. Và ở đó, dân tộc Việt Nam, nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình càng vô cùng yêu quý, khâm phục, tôn vinh thiên tài lãnh đạo và tổ chức thực hiện cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc biết nương tựa vào nhau, chung sức đồng lòng vì lẽ phải, lương tri và những giá trị làm người cơ bản, mà giá trị số một là quyền được sống trong một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cao đẹp, là kết quả của sự phát huy các nguồn lực con người, trí tuệ và của cải của chính nhân dân, nhằm giải phóng bản thân; là hội tụ của các nguồn xung lực mạnh mẽ của toàn dân tộc trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của Mặt trận Việt Minh, do Đảng ta và Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam càng tiếp tục nỗ lực học tập, nghiên cứu, thấm nhuần và thực hiện đường lối đại đoàn kết, bài học lịch sử “Việc cương thường muôn thuở là ở dân tâm”; thực hiện tốt hơn nữa, cao hơn nữa bài học nắm vững quy luật lòng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm khơi dậy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, xác định chủ nghĩa yêu nước chân chính là động lực vĩ đại trong tiến trình thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.

Cách mạng tháng Tám năm 1945: Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

Cách đây tròn 72 năm, chỉ trong khoảng hai tuần cuối tháng 8-1945, toàn thể dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền để tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc.

Từ thân phận nô lệ, Tổ quốc Việt Nam đã độc lập, tự do, có quyền tự quyết; nhân dân Việt Nam trở thành người chủ và làm chủ trong một chế độ dân chủ cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã làm rung chuyển và chấn động hệ thống thuộc địa, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam; đồng thời cũng là cột mốc đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa kiểu cũ trên phạm vi quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất-một điểm sáng của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Thành quả to lớn đó trước hết thuộc về sự nghiệp cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiền đề và hết sức quan trọng. Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đúc kết bài học quý báu và phong phú trong nghệ thuật cách mạng Việt Nam.

Trước hết, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công khẳng định sự vận dụng tài tình nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng ta. Thời điểm này, phong trào cách mạng nước ta đã lên tới cao trào, quần chúng cách mạng, mặt trận Việt Minh đã sẵn sàng hành động với một khí thế chưa từng có. Lực lượng cách mạng đã lôi kéo được các tầng lớp trung gian, trước đó còn lừng chừng, ngả hẳn về phía cách mạng. Đảng Cộng sản Đông Dương có kế hoạch cử cán bộ chủ chốt về các địa phương lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Đó là lúc quân Anh chưa vào miền Nam và quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật, cũng là lúc quân Nhật bại trận, mất tinh thần, ngồi chờ quân Đồng minh đến tước vũ khí, ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Nhờ vậy, sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước một cách nhanh, gọn, ít đổ máu và thành công triệt để.

Kết hợp tài tình nghệ thuật quân sự với chính trị, Đảng ta đã sử dụng phương thức quân sự, chính trị phối hợp, đồng thời với đòn tiến công của LLVT cách mạng và sự nổi dậy của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó, lực lượng chính trị đóng vai trò quyết định, tiến hành mít tinh, biểu tình, thị uy, bao vây các công sở, gây sức ép, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên truyền thanh thế của cách mạng, thị uy biểu dương lực lượng. LLVT làm hậu thuẫn cho lực lượng chính trị nổi dậy và giải quyết các tình thế đột xuất: Diệt ác ôn trừ gian, bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân dân.

Việc chọn địa bàn Tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị với tinh thần đồng loạt nổi dậy. Khi nhận được “Quân lệnh số 1”, cả nước đều nhất loạt khởi nghĩa, làm cho quân Nhật không kịp trở tay, không còn khả năng giải tỏa, ứng cứu chi viện cho nhau. Mục tiêu khởi nghĩa được chọn là các cơ quan đầu não, các công sở chính quyền địch, như ở Hà Nội là Tòa Khâm sai, Phủ Toàn quyền và các cơ quan đầu não ở các tỉnh, thành phố... Việc lựa chọn mục tiêu chính xác góp phần thúc đẩy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng trên cả nước.

Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đúc kết bài học quý về quy tụ nhân tâm, quy tụ lòng người; bài học về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hài hòa “ý Đảng với lòng dân”, như một quy luật lịch sử tất yếu khách quan. Tin dân, dựa vào dân, hiểu thấu dân tâm là truyền thống quý báu trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta, trở thành một giá trị tiêu biểu của nền văn hóa-chính trị Việt Nam hiện đại.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công để lại nhiều ý nghĩa và bài học kinh nghiệm quý, là tài sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Vận dụng bài học của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cần tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi trong nước và quốc tế, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước và cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khơi dậy lòng tự tin dân tộc…, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.

Bác Hồ với Cách mạng tháng Tám năm 1945

Với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, Bác Hồ đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới nhất là nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai đến gần, Bác Hồ đã đề nghị Quốc tế cộng sản để Người về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 02 năm 1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Bác Hồ trực tiếp triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (khóa I) của Đảng từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Tại Hội nghị, Bác đã phân tích, nhận định sáng suốt tình hình quốc tế và trong nước, đề ra nhiều chủ trương quan trọng, nổi lên bao trùm xuyên suốt là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất. Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do các Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11 năm 1939) và lần thứ 7 (tháng 11 năm 1940) của Đảng đề ra.

Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Nghị quyết đó đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của toàn dân tộc chống lại bè lũ cướp nước và bọn tay sai bán nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Cùng với việc mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho nhiều cán bộ cách mạng, Bác Hồ đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp yêu nước trong xã hội. Đâu đâu cũng phát triển mạnh mẽ các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Vai trò và sức mạnh to lớn của Mặt trận Việt Minh được phản ánh trong thực tiễn, có sức lôi cuốn hiệu triệu mạnh mẽ quần chúng đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do.

Cuối năm 1941, Bác Hồ cho xây dựng thí điểm đội vũ trang ở Cao Bằng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đội làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị, quân sự cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với miền xuôi. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ đạo của Bác Hồ, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với nhiệm vụ là hoạt động vũ trang tuyên truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị hơn quân sự. Ngay sau khi thành lập, Đội đã gây được tiếng vang lớn, nhờ chiến công xuất sắc, tiêu diệt gọn hai đồn giặc ở Phay Khắt và Nà Ngần. Để đẩy nhanh việc chuẩn bị khởi nghĩa giữa tháng 4 năm 1945 Bác Hồ cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định đặt nhiệm vụ quân sự lên hàng đầu, thống nhất sáp nhập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ - Anh - Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh - Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân Đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận Đồng minh chống phát xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do.

Với tầm cao trí tuệ tuyệt vời và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú Bác Hồ và Đảng ta đã nắm chắc thời cơ cách mạng, kịp thời đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa, động viên sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc, để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi Bác Hồ đã khẳng định, lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu cũng phải giành cho được độc lập. Và “Cần phải tranh thủ từng giây, từng phút tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”. Nắm chắc thời cơ đó Bác Hồ và Trung ương Đảng đã chuẩn bị gấp và triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội đại biểu Quốc dân ở Tân Trào. Tại đây đã chủ trương phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân đội Nhật. Ngay sau đó Bác Hồ đã gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước, trong đó khẳng định “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!...”.

Đáp ứng lời kêu gọi của Bác Hồ và Đảng ta, nhân dân ta triệu người như một tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Ngay sau khi thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập, quyết định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày 02/9/1945, trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là một trong những thắng lợi nổi bật, vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn và công lao to lớn của Bác Hồ. Công lao trời biển của Bác Hồ đối với cách mạng nước ta nói chung và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám nói riêng, luôn trường tồn cùng lịch sử dân tộc, sống mãi trong lòng nhân dân ta, đã, đang và sẽ là những chỉ dẫn quan trọng cho sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nước ta hiện nay.

Cách mạng tháng Tám: Giá trị lịch sử và hiện thực

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện trọng đại nhất của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX, cuộc cách mạng đã lật đổ chế độ phong kiến lỗi thời, đập tan sự thống trị hà khắc của chủ nghĩa thực dân, phát xít, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Giá trị và ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ ở những kết quả cuộc cách mạng này mang lại mà còn ở ngay trong những yếu tố đưa đến sự thành công của nó. Giá trị lịch sử và thực tiễn của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước hết là tư tưởng và ý chí độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đây cũng là biểu hiện cao nhất của sức mạnh toàn dân vì mục tiêu giành độc lập dân tộc.

Sức mạnh của Cách mạng tháng Tám chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc. Sức mạnh này đã được tập hợp, tôi luyện qua các phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo từ Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 đến cuộc vận động dân chủ 1936-1939 và cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã được Đảng tiếp tục xây dựng và phát huy trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, toàn dân, toàn diện 1945-1954, và tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm 1954-1975.

Thắng lợi của cuộc cách mạng này là thắng lợi của sự chủ động chuẩn bị lực lượng, của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động. Thành công của Cách mạng tháng Tám không phải là giành “khoảng trống quyền lực” như quan điểm của một số học giả nước ngoài, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị mọi mặt của Đảng từ tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang đến chủ động đón thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, khi quân đội Pháp bạc nhược.

Nghệ thuật Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám đã được Đảng phát huy trong các giai đoạn tiếp theo như trong cuộc “Đồng khởi” 1959-1960, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 và đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nói về tầm vóc và ý nghĩa lớn lao của Cách mạng tháng Tám, năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới và đã thu được những thành công đáng tự hào. Thành công đó là kết quả của sự sáng tạo của Đảng và nhân dân Việt Nam, là sự kế thừa những bài học kinh nghiệm của lịch sử đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước những năm qua kể từ ngày thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, trước sự khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới cũng như sự khủng hoảng kinh tế-xã hội trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mạnh dạn “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, quyết định tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Thành quả đạt được trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới đã chứng tỏ đường lối sáng tạo và đúng đắng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Trong xu thế hiện nay, không có quốc gia nào phát triển mà tách khỏi trào lưu chung của thế giới. Việt Nam phải kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại trên cơ sở giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ cao nhất nguồn lực bên ngoài, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Điều quan trọng là trong khi hội nhập phải giữ vững độc lập, tự chủ. Hiện nay, các cường quốc trên thế giới đang sử dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, quân sự can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các nước, nhất là những nước nhỏ nhằm thay đổi ý thức hệ hoặc xâm chiếm lãnh thổ.

Sự thật lịch sử của Việt Nam trong những năm 1945-1946, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong các Hội nghị Genena, Hội nghị Paris về Việt Nam và trong các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo, trong vấn đề diễn biến hòa bình, tranh chấp chủ quyền biển đảo hiện nay càng khẳng định sự quan trọng của việc giữ vững độc lập và tự chủ trong quan hệ quốc tế.

Xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là vấn đề then chốt và cấp bách. Đây là vấn đề quan trọng và cốt lõi nhất đưa đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ sóng gió, từ cuộc khủng bố trắng của địch sau năm 1930, có lúc “ngàn cân treo sợi tóc” trong những năm 1945-1946, hay những năm tháng đầy khó khăn ở miền Nam năm 1954-1959, 1968-1969, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã vượt qua tất cả. Đó chính là nhờ sự kiên trì và quyết tâm xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trên cơ sở lấy dân làm gốc, dựa vào dân và vì dân. Đảng không mạnh, chính quyền không trong sạch thì khối đại đoàn kết toàn dân khó thực hiện.

Trong cơ chế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, sự phân hóa giàu nghèo là tất yếu, tình trạng tham nhũng, quan liêu khó tránh khỏi. Do vậy, việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi là vấn đề then chốt và vì vậy, cần được đẩy mạnh, triển khai quyết liệt hơn, bởi đây là vấn vấn đề quan trọng hàng đầu để đảm bảo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, động lực quyết định thành bại của mọi cuộc cách mạng.



Thành công của cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam

Đoàn người biểu tình ngày 19 tháng 8 năm 1945 trước cửa Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Cách mạng tháng Tám (ngày 19 tháng 8 năm 1945) là cuộc cách mạng thắng lợi của Việt Minh với quân Pháp, Nhật Bản và chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn. Kết quả chính phủ cũ giải tán và sau đó đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phe trục gồm Đức Ý Nhật đánh lại phe đồng minh gồm Anh, Pháp, Liên Xô. Sau có Mỹ và nhiều nước nữa tham chiến.

Vào tháng 9 năm 1940, ngay giữa Thế chiến thứ hai, Chính phủ Vichy của Pháp, vì đã đầu hàng Đức Quốc Xã, đồng ý cho quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Bắc kỳ. Ngay lập tức quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trường Trung Quốc và Đông Nam Á.

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía đồng minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng đồng minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khuViệt Bắc.

Đến năm 1945, thấy quân đội Đức bị đánh bại hoàn toàn tại mặt trận châu Âu và ưu thế của quân đội Mỹ càng ngày càng lên tại mặt trận Thái Bình Dương, Nhật quyết định hoàn toàn khống chế Đông Dương. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật trao tối hậu thư cho Toàn quyền Đông Dương (Gouveneur de l’Indochine), Đô đốc Jean Decoux, yêu cầu đặt toàn bộ quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền chỉ huy và điều động của họ. Decoux từ chối và bị bắt giam ngay lập tức, không kịp báo lệnh cho lực lượng dưới quyền của mình. Quân đội Nhật, sau đó bất thần tấn công các doanh trại và cơ sở của chính quyền thuộc địa Pháp. Chỉ trong một đêm họ đã thanh toán xong toàn bộ cứ điểm và bắt giam tất cả các quan chức người Pháp.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp thành công và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam và mời nhà trí thức Trần Trọng Kim ra thành lập chính phủ khác dưới sự bảo hộ của Nhật. Ngày 17 tháng 4, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 thì ra lệnh giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12/3 /1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kì tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).

Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật. Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày.

Trong khi đó diễn biến tại miền Bắc, khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái… và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13/8/1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa. Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình….

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên.

Sáng ngày 18 tháng 8, Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội chuyển trụ sở làm việc về số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo). Các uỷ viên tích cực chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau.

Sáng sớm ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ, và nhanh chóng làm chủ toàn bộ khu vực này

Chiều tối 19 tháng 8, phái đoàn của đàm phán của Việt Minh do ông Lê Trọng Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long dẫn đầu đã trực tiếp gặp gỡ và đàm phán với tướng Tsuchihashi – Tổng Tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật – ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão). Cuộc đàm phán diễn ra khá gay go nhưng cuối cùng phía Nhật, đúng như đã được dự đoán, đã chấp nhận án binh bất động, không can thiệp vào công việc của Việt Minh; đổi lại binh lính của họ sẽ được bảo đảm an toàn, không bị Việt Minh tấn công. Họ đã chấp nhận chính quyền cách mạng. Kết quả đàm phán với Nhật mang ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Hà Nội bởi phe Việt Minh đã không chỉ tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng vũ trang của Nhật mà còn loại trừ mọi hy vọng của các lực lượng chính trị khác vào khả năng đảo ngược tình thế tại thủ đô vào thời điểm đó.

Ngày 20 tháng 8, khoảng 10 giờ 30 sáng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời, đã chính thức ra mắt quốc dân đồng bào tại Vườn hoa Con Cóc trước Bắc Bộ phủ.

Ngày 21 tháng 8 tại Huế phong trào Việt Minh bừng nổi dậy. Tướng tư lệnh Nhật đã nhận được chỉ thị của Đông Kinh phải giữ ngôi cho Hoàng đế Bảo Đại, đã bàn với Thủ Tướng Trần Trọng Kim như sau: “Mặc dù nước Nhật đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại đây vẫn có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự cho tới khi quân đội Đồng minh đến tiếp thu. Xin ngài hãy làm văn thư yêu cầu để chúng tôi tái lập trật tự.” nhưng Thủ Tướng đã từ chối sự giúp đỡ của họ.

Thắng lợi ở Hà Nội lập tức kéo theo một sự rung động và làm tan vỡ hệ thống chính quyền thân Nhật ở toàn vùng. Các tỉnh trưởng, thị trưởng Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh, Thái Nguyên… đang ngóng trông tin từ Hà Nội, phải vội vàng chuyển sang tìm gặp và theo Việt Minh ở địa phương. Ngày 23 tháng 8, chính quyền cách mạng ở Hải Phòng được thành lập.

Tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Quốc dân đảng… thành Mặt trận Quốc qia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh tổ chức biểu tình và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỉ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai.


Xuyên tạc thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 là có tội với lịch sử, là tội ác với toàn thể dân tộc Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám 1945 có ý nghĩa trọng đại trong tiến trình lịch sử dân tộc, cuộc cách mạng vĩ đại ấy đã giải quyết thành dông hai nhiệm vụ trọng đại, đó là giải phóng dân tộc và lật đổ chế độ phong kiến, như Bác Hồ đã viết trong bản Tuyên ngô Độc lập: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa...".

Trong khi người dân khắp nơi trên cả nước nô nức, hân hoan tiến hành các hoạt động kỷ niệm 72 năm cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2017) - một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, thì đâu đó vẫn có những kẻ mang dã tâm phá hoại, xuyên tạc lịch sử phục vụ mưu đồ xấu xa và đen tối của mình.

Trong bài viết của này rút ra những bài học kinh nghiệm từ thành công của Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng: “Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn - khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu-Tưởng vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng Minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam.”

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, có tên trên bản đồ thế giới. Đó là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công không phải tự nhiên mà có, đó là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc cách mạng này là thắng lợi của sự chủ động chuẩn bị lực lượng, của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động.Thành công của Cách mạng tháng Tám không phải là giành "khoảng trống quyền lực", không phải đến một cách ngẫu nhiên, tự nhiên mà có chính quyền, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị mọi mặt của Đảng từ tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang đến chủ động đón thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, khi quân đội Pháp bạc nhược.                                   

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám không chỉ được nhân dân và lịch sử dân tộc ta thừa nhận là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mà các dân tộc bị áp bức, nhân dân lao động trên toàn thế giới cũng có thể tự hào vì lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạocách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc. Thế nhưng, đâu đó vẫn có những kẻ mang dã tâm xấu xa, thâm độc, ngấm ngầm xuyên tạc sự kiện lịch sử trọng đại này nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối. Trong một bài viết có tên “Nhìn lại cách mạng tháng Tám” trên BBC, Trương Nhân Tuấn - một kẻ vong ân bội nghĩa đã xuyên tạc rằng, “Thực chất cuộc chạy đua giành chính quyền là Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để nắm lấy chính quyền, hy vọng đặt Đồng Minh vào sự đã rồi”. Việc “Hai mươi triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy” cũng chỉ là điều tưởng tượng. Nói 20 triệu người nhất tề vùng dậy là điều hoang đường, không thuyết phục được ai hết.

Trong khi đó, trong bài viết “Trả sự thật lại cho nhân dân và lịch sử”, kẻ có tên Đại Nghĩa đã hỗn láo xuyên tạc rằng, “70 năm nay cộng sản Việt Nam đã đánh tráo lịch sử ngày độc lập của Tổ quốc. Ngày 2-9-1945 chỉ là ngày cộng sản ăn cướp chính quyền từ một chính phủ hợp pháp đầu tiên của Việt Nam đó là chính phủ Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại ủy nhiệm sau khi Ngài tuyên bố độc lập ngày11 tháng 3 năm 1945”. Còn Lê Công Định, một người đã từng vào tù vì tội lật đổ chính quyền thì vênh váo xuyên tạc rằng “Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Từ ngày 19-8-1945, tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”. Nguyễn Minh Cần, kẻ sống lưu vong, bán nước cầu vinh thì lại tráo trở khi nói rằng, “Lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức ĐCS) cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim”.Các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước… đều là từ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo thông tin, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái để hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, sự thật lịch sử đã phơi bày sự vô lương tâm của họ, thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày hôm nay đã cho thấy sự trơ tráo của họ. Dù trước mắt còn không ít thử thách nhưng đất nước ta, dân tộc ta đang tiến bước để trở thành một đất nước phát triển, hội nhập với thế giới.

Xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 của Việt Nam cũng có nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm.

Tính sáng tạo cách mạng của tổng khởi nghĩa tháng Tám trong giành chính quyền tại Hà Nội

Khẳng định giá trị lịch sử lớn lao của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta".

Bước nhảy vọt kỳ diệu của dân tộc ta trong Cách mạng Tháng Tám khởi nguồn từ tư duy cách mạng, sáng tạo Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX: để cứu nước, để giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo, phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, đề cao tính chủ động cách mạng của các dân tộc thuộc địa, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vượt qua mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi".

Tổng khởi nghĩa mùa Thu năm 1945 là một kỳ tích lịch sử mở đường cho những thắng lợi vang dội của nhân dân ta qua hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp, chống Mỹ; giương cao ngọn cờ tiền phong, lần lượt đánh sập chủ nghĩa thực dân cũ và mới, vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội; đóng góp to lớn vào sự nghiệp hoà bình và phát triển của nhân dân các dân tộc trên thế giới.

Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, từ Hội nghị Trung ương 6 đến Hội nghị Trung ương 8 (khoá I), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có một quyết định tài tình, sáng tạo là kịp thời chuyển hướng tập trung sức lực của toàn Đảng và nhân dân cả nước vào nhiệm vụ đánh đế quốc, giải phóng dân tộc. Trong Lời kêu gọi đồng bào tháng 6 - 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng"(1). Từ quyết định nhạy bén và đặc sắc đó và với sự chỉ đạo rất sát sao trước mỗi biến cố lịch sử trong nước và thế giới thời kỳ này, Đảng ta đã khơi dậy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì nghĩa lớn giải phóng Tổ quốc, đưa phong trào hành động cách mạng của các tầng lớp nhân dân tiến những bước lớn lao "một ngày bằng 20 năm". Theo sáng kiến của Bác Hồ, Mặt trận Việt Minh (Hội Việt Nam độc lập đồng minh) được thành lập tại Pắc Bó (Cao Bằng) ngày 19 - 5 - 1941 và theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, Mặt trận Việt Minh được đặc biệt mở rộng, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào các hội cứu quốc. Thanh thế của Mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh, rất mạnh trên khắp nước, từ Bắc chí Nam, từ miền núi, đồng bằng đến ven biển.

Hoạt động của Đảng và phong trào Việt Minh không chỉ dừng lại ở rừng núi, nông thôn, mà phát triển sâu rộng cả ở thành thị, ngay cả các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, các trung tâm đầu não lớn của thực dân Pháp và phát-xít Nhật. Đâu đâu cũng phát triển mạnh mẽ các đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh như Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc, Quân nhân cứu quốc... Trên cơ sở phong trào rộng khắp đó mà trong những ngày Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, nhân dân cả nước, nhờ đã trải qua quá trình rèn luyện ý chí và tập dượt tổ chức đấu tranh trong phong trào Việt Minh, đã nhất lượt vùng lên giành chính quyền khắp các thành phố, thị xã, tỉnh lỵ, huyện lỵ trên mọi miền đất nước.

Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân Hà Nội có một vị trí đặc biệt quan trọng và cũng là một biểu hiện rõ rệt về tinh thần dũng cảm, kiên quyết và tính sáng tạo cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta. Có thể khái quát những nét đặc sắc nhất: Một là, Đảng bộ Hà Nội với số đảng viên rất ít so với dân cư đã huy động được phong trào Việt Minh ngày càng rộng lớn, thu hút cả nông dân, công nhân, trí thức và nhiều người yêu nước thuộc tầng lớp trên; cả phụ nữ và thanh niên, đặc biệt là lực lượng thanh niên học sinh yêu nước vừa có nhiệt tình sôi nổi, vừa có hiểu biết, nhiều sáng kiến. Hai là, với ý thức chủ động cách mạng cao, trên cơ sở phong trào chính trị rộng lớn của nhân dân , Thành uỷ Hà Nội đã tích cực lãnh đạo lực lượng vũ trang quần chúng nhằm trước hết đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền trên khắp các địa bàn, và khi thời cơ đến đảm nhiệm lực lượng nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của nhân dân Hà Nội.

Từ phong trào Thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu (Hà Nội) cuối năm 1944, Thành uỷ đã chỉ đạo chọn lọc một số thanh niên nhiệt tình, hăng hái, gan dạ, thông minh, đủ tin cậy để tổ chức ra đội vũ trang tuyên truyền của Hà Nội, mang tên Đội thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, sau đó phát triển thành Đoàn Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu. Trong lời giới thiệu cuốn sách Đoàn thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Thường vụ Thành uỷ Hà Nội, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô đã khẳng định: "Được Đảng lãnh đạo, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu đã nắm vững thời cơ cách mạng, dũng cảm, táo bạo, khôn khéo chuyển hướng vận động quần chúng từ chỗ nhỏ, lẻ, từng người một sang tuyên truyền xung phong trước đông đảo quần chúng ngay giữa hang ổ của địch, gây thanh thế vang đội cho Mặt trận Việt Minh, làm cho kẻ thù hoang mang lo sợ, lực lượng cách mạng nhanh chóng phát triển. Đoàn đã góp phần cùng các đoàn thể khác trong Mặt trận Việt Minh dấy lên cao trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Hà Nội, thúc đẩy điều kiện khởi nghĩa chín muồi. Đặc biệt trong những ngày Tháng Tám lịch sử, mặc dù lực lượng nhỏ bé, trang bị thô sơ, Đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ là một đơn vị vũ trang nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa của quần chúng cách mạng Hà Nội đi đến thắng lợi".

Ý chí cách mạng kiên quyết, táo bạo và tính khoa học, sáng tạo của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội thể hiện đặc biệt rõ nét ở sự lựa chọn phương thức và thời điểm khởi nghĩa. Những ngày đầu Tháng Tám, cả nội thành và ngoại thành đều bừng bừng sục sôi khí thế giục dã khởi nghĩa. Bác Hồ và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Xứ uỷ Bắc Kỳ, đã đặc biệt quan tâm đến Hà Nội. Ngay khi được tin phát-xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, đêm 14 và ngày 15 - 8, Xứ uỷ Bắc Kỳ họp ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định xúc tiến khởi nghĩa từng phần ở những nơi có đủ điều kiện tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời chủ trương thành lập Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội để tập trung trí tuệ, sức lực toàn Đảng bộ và nhân dân, thường trực chỉ đạo công việc khởi nghĩa ở Hà Nội.

Sáng 16 - 8, Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội họp phiên đầu tiên ở số nhà 101 phố Gambetta (nay là Trần Hưng Đạo) để nắm lại tình hình, bàn bạc về mọi công việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa. Thách thức lớn nhất đặt ra là lực lượng quân sự của phát-xít Nhật tập trung ở Hà Nội. Chính phủ bù nhìn tuy vẫn ngoan cố bám giữ lấy "độc lập giả hiệu", dựa vào quân Nhật và xin xỏ vũ khí của chúng hòng chống lại phong trào Việt Minh ở Hà Nội; tuy nhiên, xét về thực lực, nếu tách khỏi chỗ dựa là quân Nhật thì chúng không tránh khỏi sụp đổ nhanh chóng trước bão táp cách mạng quá lớn của nhân dân Hà Nội.

Có người nghĩ rằng, do Nhật đầu hàng Đồng Minh nên ta thu được thắng lợi dễ dàng. Đó là cách tư duy quá giản đơn, không đúng với thực tế quá trình nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn phức tạp của Đảng và nhân dân ta ở Hà Nội và trong cả nước. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn mọi người: "Cuộc tranh đấu của chúng ta đương còn gay go, dằng dai. Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập"(1). Trên thực tế, quân Nhật chiếm đóng Đông Dương chủ yếu là Quân đoàn 38 với 6 vạn quân, riêng tại Hà Nội tập trung đến 1 vạn quân với trang bị vũ khí mạnh, chưa bị sứt mẻ gì đáng kể. Nhiều nơi trên thế giới, mặc dù Nhật hoàng đã tuyên bố đầu hàng, nhưng quân đội Nhật vẫn không tự động buông súng. Liên quân Liên Xô và Mông Cổ phải kéo dài đến tận cuối tháng 8 - 1945 mới tiêu diệt được đội quân Quan Đông. Ngày 1- 9, quân Nhật ở Xin-ga-po vẫn còn nổ súng. Ngay ở Việt Nam, bộ đội Nam tiến đánh đồn Thái Nguyên còn gặp sức đề kháng ngoan cố của Nhật. Ngày 19 - 8, sau khi ta tiến chiếm trại Bảo an binh, quân Nhật cho xe tăng và bộ binh tiến ra phố Hàng Bài đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang cách mạng. Song, với khí thế của dòng người đổ về ngày càng đông bao vây quanh các đường phố sát trại Bảo an binh ngay trước nòng pháo xe tăng và các ụ súng máy của quân Nhật, giương cao cả rừng cờ đỏ sao vàng, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, chúng ta đã khéo léo vô hiệu hoá khả năng can thiệp của quân Nhật.

Cuộc họp 16 - 8 của Uỷ ban Quân sự cách mạng  Hà Nội đã xác định phương thức khởi nghĩa của Hà Nội là dựa vào lực lượng quần chúng cách mạng đông đảo, có bộ phận vũ trang nhất định, để tiến hành mít-tinh, biểu tình, cổ vũ quần chúng tổ chức thành đội ngũ xông lên giành những vị trí xung yếu mà chính quyền và quân đội bù nhìn đang chiếm giữ. Đó là phương thức cơ bản, nhưng cần xúc tiến chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức lực lượng chính trị và vũ trang cho quần chúng; làm tốt công tác tuyên truyền đối với binh lính Nhật và theo dõi sâu hơn nữa động thái của chúng.

Tổng hội công chức ngụy được sự chỉ đạo của chính phủ bù nhìn tổ chức cuộc mít tinh vào chiều 17 - 8 để rêu rao nền "độc lập giả hiệu", lừa bịp hòng lôi kéo quần chúng tách khỏi ảnh hưởng rộng lớn của phong trào Việt Minh. Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội lập tức chủ trương kiên quyết phá cuộc mít-tinh đó và biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng to lớn của Việt Minh, động viên nhân dân tham gia khởi nghĩa, khuếch trương khí thế cách mạng của quần chúng. Ngay sau khi ban tổ chức cuộc mít-tinh của Tổng hội công chức ngụy tuyên bố lý do, một tổ ba người của Đoàn thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu đã cướp diễn đàn, giành mi-crô, giương cờ đỏ sao vàng, diễn thuyết thông báo tin quân Nhật đầu hàng và hô hào nhân dân ủng hộ Mặt trận Việt Minh, tham gia Mặt trận, tích cực tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.

Sự kiện diễn ra ngày 17 - 8 - 1945 là một cuộc biểu dương lực lượng quy mô lớn toàn thành phố, khác về chất với các hoạt động vũ trang tuyên truyền trước đó. Đây là một bước thể nghiệm cực kỳ quan trọng về sức mạnh áp đảo của lực lượng chính trị quần chúng có các đội vũ trang cách mạng làm nòng cốt trước thái độ "án binh bất động" của quân Nhật, phần vì hoang mang chán nản, phần vì kinh ngạc trước khí thế cách mạng của nhân dân Hà Nội, cũng như sự rệu rã của bọn phản động thân Nhật và chính quyền bù nhìn. Cuộc họp tối 17 - 8 của Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội đưa ra quyết định cụ thể về phương thức khởi nghĩa, kế hoạch khởi nghĩa, ngày giờ khởi nghĩa.

Với phương thức khởi nghĩa cụ thể là dùng lực lượng chính trị áp đảo của quần chúng cách mạng là chủ yếu, chĩa mũi nhọn phá sập chính quyền bù nhìn và vận dụng sách lược mềm dẻo vô hiệu hoá quân đội Nhật, sáng 19 - 8, Mặt trận Việt Minh huy động khoảng 30 vạn người, hầu như toàn thể nhân dân Hà Nội và nhân dân nhiều phủ, huyện lân cận tham gia vào cuộc mít-tinh ở quảng trường Nhà hát lớn, rồi chuyển thành tuần hành thị uy có vũ trang tiến chiếm hai mục tiêu chính là những cơ quan trọng yếu của chính quyền bù nhìn: Phủ Khâm Sai - Toà Thị chính và trại Bảo an binh. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thắng lợi trọn vẹn.

Thường vụ Trung ương Đảng, khi từ Tân Trào về đến Hà Nội làm việc với Thành uỷ Hà Nội ngày 21 - 8, đã khẳng định tinh thần kiên quyết, dũng cảm và rất sáng tạo của cuộc Khởi nghĩa tại Hà Nội, đồng thời chỉ thị cho các nơi theo gương Hà Nội đẩy mạnh cao trào Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, coi đó là kinh nghiệm sáng tạo phù hợp với tình hình mới.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Phát huy tinh thần Cách mạng tháng Tám, vững bước đi lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thắng lợi lịch sử từ cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân đã đưa đất nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã đứng lên làm chủ cuộc đời, làm chủ non sông gấm vóc của mình. Tinh thần bất diệt của Cách mạng Tháng Támđã, đang và sẽ cổ vũ chúng ta vững bước đi lên!

Cách mạng tháng Tám năm 1945 - sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Đầu tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam. Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Đến ngày 25/8, tại Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh miền Nam, Đông Nam bộ cũng giành được chính quyền. Tỉnh Bắc Kạn khởi nghĩa thắng lợi vào ngày 23/8.

Như vậy, chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịnh sử, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 02/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng lãnh đạo thống nhất trong cả nước.

Trải qua 72 năm, nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị, nhất là bài học về việc chớp thời cơ, giải phóng dân tộc. Trong Di chúc để lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng bày tỏ: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”

Thực hiện Di nguyện ấy, đất nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đoàn kết, đồng thuận của nhân dân đã tiếp tục giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng đất nước, trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, công bằng,dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.


Thiết thực kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2017) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2017). Tinh thần của những ngày khởi nghĩa vẫn tiếp tục là hành trang cho nhân dân ta tiếp tục vững tin bước vào chặng đường phát triển mới. 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...