Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Mối quan hệ láng giềng, hữu nghị, truyền thống giữa Việt Nam - Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống lâu đời, mặc dù trong lịch sử có những lúc thăng trầm, nhưng hợp tác và hữu nghị vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ hai nước. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đều trong thời kỳ rất quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, sự phát triển của mỗi bên đều là cơ hội cho bên kia; giữa hai Đảng, hai nước có rất nhiều lợi ích chung. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay diễn biến sâu sắc, phức tạp, Việt Nam và Trung Quốc đều phải tăng cường hơn nữa, duy trì và phát triển tình hữu nghị truyền thống do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, các lãnh đạo tiền bối hai nước và nhân dân hai nước qua nhiều thời kỳ đã dày công vun đắp.

 Trong những năm qua, quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Về hợp tác chính trị, giao lưu, trao đổi giữa lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra thường xuyên; từ Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay, hằng năm đều có một lãnh đạo chủ chốt của Trung Quốc thăm Việt Nam, nhiều lãnh đạo của Việt Nam đã thăm Trung Quốc. Những chuyến thăm này có ý nghĩa rất quan trọng, định hướng quan hệ hai Đảng, hai nước. Hai bên cũng thiết lập và bổ sung nhiều cơ chế quan trọng về hợp tác song phương, như cơ chế gặp gỡ hằng năm giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương và gần 50 cơ chế hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa các bộ, ngành, địa phương. Hợp tác kinh tế - thương mại hai nước cũng phát triển hết sức mạnh mẽ và thực chất, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Trong 13 năm liền, Trung Quốc luôn là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam ngày càng trở thành đối tác kinh tế - thương mại quan trọng của Trung Quốc, năm 2016 đã vượt Ma-lai-xi-a, trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc trong các nước ASEAN. Bên cạnh đó, giao lưu nhân dân rất mật thiết và phong phú với nhiều hình thức khác nhau như giao lưu hữu nghị giữa thanh niên hai nước; gặp gỡ hữu nghị giữa các địa phương hai nước…

Hai bên cũng hợp tác giải quyết tốt những vấn đề biên giới lãnh thổ, tăng cường hợp tác quản lý đường biên giới trên bộ, quản lý các cửa khẩu, thực hiện các hiệp định, văn kiện liên quan biên giới trên bộ cũng như vịnh Bắc Bộ. Với nỗ lực của hai bên, đường biên giới Việt Nam và Trung Quốc thật sự trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác. Đối với vấn đề trên biển, hai bên duy trì trao đổi thường xuyên về những vấn đề còn khác biệt. Quan trọng nhất là lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí hai bên cần dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; thông qua đàm phán hữu nghị, tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên chấp nhận được trong vấn đề Biển Đông. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cuối cùng, hai bên cần kiềm chế, không có bất kỳ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình, mở rộng tranh chấp; cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định trên biển. Đồng thời, Việt Nam và Trung Quốc phải cùng ASEAN thực hiện toàn diện, đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông góp phần duy trì môi trường quốc tế, khu vực hòa bình, ổn định với sự phát triển của mỗi nước, góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cần bảo đảm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia trong tình hình mới, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.

Đây là sự thể hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước; nhất là trong tình hình mới, Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Các nhiệm vụ này phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng, tác động hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Theo đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh cũng có nghĩa là tạo điều kiện, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội lại tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của quốc gia. Vì vậy, cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước nhận thức sâu sắc hơn nữa đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Quán triệt và nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn về mục tiêu, nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

“Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Không thể dân sự hóa quân đội

Khẳng định rõ ràng và chắc chắn rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam là tất yếu khách quan, không thể dân sự hóa quân đội, phi chính trị hóa quân đội.

Bởi vì, Quân đội là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp với tư cách là công cụ bạo lực của một giai cấp để giành và giữ chính quyền. Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi phân chia giai cấp và có  đối kháng giai cấp là lịch sử của quá trình đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp phát triển theo quy luật từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế phát triển đến đấu tranh chính trị, đỉnh cao là CMXH để lật đổ toàn bộ xã hội hiện có xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn. Trong xã hội có giai cấp thì giai cấp bóc lột luôn ra sức củng cố, chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh để bảo vệ đất nước, đàn áp các phong trào cách mạng của quần chúng và các thế lực đối lập để củng cố quyền lực, vị thế của mình từ đó quân đội có chức năng đối nội và đối ngoại. Giai cấp bị bóc lột muốn giành được chính quyền thì tất yếu phải tổ chức ra LLVT và quân đội, sử dụng sức mạnh bạo lực để đánh đổ bộ máy bạo lực của đối phương để giành quyền thống trị về tay giai cấp mình. Như cuộc khởi nghĩa nô lệ ở Hy Lạp do Xpactacut lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc, khởi nghĩa Tây Sơn…. C.Mác chỉ ra rằng: bạo lực là bà đỡ của mọi cuộc cách mạng

Lịch sử cận hiện đại cho thấy với sự ra đời của các chính đảng, các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc thường được tiến hành dưới ngọn cờ của các chính đảng và các chính đảng này đều tìm cách nắm lấy quân đội để phục vụ cho lợi ích giai cấp của chính đảng mình. Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ giữa quân đội với chính trị.

Ngày nay, mặc dù các học giả tư sản vẫn rêu rao rằng quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị, quân đội phi chính trị, nhưng ngay trong xã hội tư bản với thể thức đa nguyên chính trị các đảng phái vẫn luôn tìm cách chi phối, nắm quân đội và trên thực tế quân đội của các nhà nước tư bản luôn mang bản chất của GCTS, phục vụ cho lợi ích của giai cấp và nhà nước tư sản.

Các đảng tư sản cầm quyền đều ra sức chăm lo xây dựng quân đội với mục đích là làm cho nó luôn luôn trung thành và là công cụ bạo lực tin cậy có đủ sức mạnh để bảo vệ nhà nước tư sản, chế độ TBCN có sức mạnh răn đe trong giải quyết quan hệ đối ngoại

Cần khẳng định: lực lượng vũ  trang và quân đội ra đời là sản phẩm tất yếu của quá trình đấu tranh giai cấp; quân đội phải mang bản chất, phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp đã tổ chức ra và lãnh đạo nó; mọi giai cấp, mọi Nhà nước tổ chức ra quân đội đều tập trung chăm lo, xây dựng quân đội về mặt chính trị theo chính trị của giai cấp mình; các quân đội khác nhau thì chính trị cũng khác nhau, không có quân đội chung cho mọi giai cấp, quân đội  phi giai cấp.

Khi đã giành được chính quyền thì Đảng Cộng sản phải lãnh đạo chặt chẽ Quân đội, nếu không thì sẽ là một sai lầm to lớn: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân như chăm lo con ngươi của mắt mình” (Lê nin).

Như vậy, Đảng Cộng sản phải tổ chức ra quân đội là một tất yếu khách quan, là công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ.

Chống quan điểm của các phần tử cơ hội, làm sống lại tư tưởng của E.Becxtanh, C. Cauxki cho rằng hiện nay đấu tranh giai cấp chỉ cần đấu tranh hòa bình, đấu tranh nghị trường, không cần đấu tranh vũ trang, cần phải dân sự hóa quân sự, quân đội chỉ bảo vệ đất nước.


Thực tiễn chỉ ra rằng giai cấp tư sản không bao giờ buông quyền, nhường quyền lãnh đạo của mình cho giai cấp khác, mặt khác chúng ra sức củng cố bộ máy bạo lực để chống lại bạo lực cách mạng. Như Lênin đã chỉ rõ: “Nhà nước tư bản sẽ không thể nhường chỗ cho nhà nước vô sản bằng con đường tự tiêu vong được mà theo một quy luật chung thì chỉ có thể bằng một cuộc cách mạng bạo lực mà thôi. Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước Vô sản được”./.

Sự đúng đắn trong thực hiện "đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại" của Đảng ta

Nước ta là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, gắn liền với tiến trình phát triển của lịch sử loài người. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới là điều kiện không thể thiếu để xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời với sự vận động chung, tự cô lập mình với thế giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại, có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Việt Nam chúng ta đã từng có một thời kỳ như vậy, chỉ bó hẹp quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa mà không quan tâm đến tình hình của các nước khác cũng như thế giới nói chung, bị bao vây, cô lập bởi chính các nước trong khu vực. Nhận định rõ tình hình, Đảng ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình thế khó khăn, trong đó phải kể đến chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.

Kế thừa tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ của Hồ Chí Minh và trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của các Đại hội trước đó, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”

Có thể nói việc đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại là một trong những chủ trương quan trọng, thể hiện rõ nét sự đổi mới của Đảng trong quan điểm và tư duy về công tác đối ngoại; là cơ sở tiền đề để chúng ta thực hiện được các chủ trương khác như hội nhập kinh tế quốc tế hay nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đa dạng hóa quan hệ đối ngoại bao gồm: đa dạng hóa về lĩnh vực và đa dạng hóa về loại hình quan hệ. Về lĩnh vực là làm cho quan hệ đối ngoại mở rộng ra tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, ngoại giao đến cả kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác. Về loại hình là triển khai trên tất cả các kênh, song phương, đa phương, đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân. Đa phương hóa quan hệ đối ngoại là mở ra quan hệ với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, không phân biệt chế độ chính

Định hướng chính sách "đa dạng hóa, đa phương hóa", trên thực tế, đã được thực hiện từ giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, có xuất phát điểm từ chính sách kinh tế đối ngoại. Tháng 5-1988, Bộ Chính trị khóa VI đã ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Theo đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam bắt đầu được đẩy mạnh theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa. Về lĩnh vực, hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế. Về đối tác, bên cạnh các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam mở ra quan hệ với các nước Đông Nam Á, các nước phương Tây. Định hướng "đa dạng hóa, đa phương hóa" chính thức được đưa vào văn kiện Đại hội VIII (6-1996) và từ đó được tiếp tục khẳng định trong các văn kiện của Đảng.

Trải qua 31 năm đổi mới, thực hiện định hướng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, nước ta đã mở rộng và đưa vào chiều sâu quan hệ với tất cả các đối tác. Về lĩnh vực, bên cạnh quan hệ kinh tế, đã mở ra quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh với nhiều đối tác. Về phương thức và loại hình quan hệ đối ngoại, đã khai thác hiệu quả các kênh song phương, đa phương, phát triển và gia tăng sự hợp tác giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Về đối tác, đến nay đã có quan hệ ngoại giao với 185 nước, quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước. Việt Nam là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế lớn.

Những thực tế trên đã chứng tỏ đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng là đúng đắn, thể hiện sự trưởng thành về nhận thức, quan điểm. Tuy nhiên không phải là không có những khó khăn, thử thách mà chúng ta phải đối mặt: Thứ nhất, cùng với quá trình mở rộng quan hệ ngoại giao những lo ngại về an ninh trong nước cũng gia tăng với nhiều mầm mống nguy hại như sự can thiệp từ bên ngoài, các lực lượng khủng bố, cực đoan… Thứ hai, trong quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động, dễ bị chi phối, áp đặt. Thứ ba: hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại nhiều thách thức cho nền kinh tế trong nước như sự cạnh tranh của hàng ngoại, hàng giả, hàng nhái…Thứ tư, việc mở rộng giao lưu văn hóa khiến du nhập vào Việt Nam nhiều yếu tố văn hóa không lành mạnh, không phù hợp với văn hóa truyền thống người Việt, thậm chí còn mang tính chất phản động. Và còn rất nhiều khó khăn, thách thức nữa chờ chúng ta khi tiến hành mở rộng quan hệ ngoại giao, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, đòi hỏi Đảng phải thật tỉnh táo, đúng đắn khi đề ra các chính sách, đường lối tiếp theo.

"Phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang - Thủ đoạn thâm độc chống phá cách mạng Việt Nam

Các thế lực thù địch chống phá lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam một cách toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó chống phá về chính trị là một nội dung cơ bản trọng yếu, một trong những thủ đoạn thâm độc của chúng là tiếp tục tung ra những luận điệu đòi “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Hiện nay trên các trang mạng, các thế lực thù địch kết hợp bên trong với bên ngoài, tập trung tiến công trực diện vào những quan điểm cơ bản của chúng ta về chính trị của lực lượng vũ trang, của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng giương lên ngọn cờ: bảo vệ "Nhân dân, Tổ quốc, Lãnh thổ", yêu cầu cần phải "bỏ hẳn cách hiểu lực lượng vũ trang chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa"!

Đây là luận điệu đặc biệt nguy hiểm; thực sự phản động về chính trị và phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Song, nó dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lý lẽ, lời “khuyên nhủ” của chúng là hợp lý, khách quan đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Bởi lẽ, các quan điểm của chúng có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân trong nhiều thập kỷ qua của lịch sử Việt Nam hiện đại; có quan hệ mật thiết với nhân dân, là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ những cơ sở đó, những kẻ chống phá đặt vấn đề lực lượng vũ trang “chỉ là của dân tộc”, “của đất nước”, “của nhân dân” là “phù hợp”, chứ không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào!

Luận điệu trên tưởng như là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” QĐND và CAND của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của lực lượng vũ trang sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, chúng đã khéo léo đi đến nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND, xóa nhòa bản chất chính trị giai cấp, tiến tới làm biến chất Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam. Đây mới là âm mưu đích thực của các thế lực thù địch trong mục tiêu chống phá lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta rơi vào chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, khó nhận biết thực chất âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Không thể nói rằng, lực lượng vũ trang là "của nhân dân, của dân tộc” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng phái, lực lượng chính trị nào. Lịch sử phát triển của nhân loại từ khi có giai cấp, nhà nước đến nay cho thấy, không bao giờ có cái gọi là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, "đứng ngoài chính trị", "phi giai cấp", "không can dự vào chính trị"… Quân đội, công an luôn gắn chặt với giai cấp, nhà nước sinh ra nó và mang bản chất giai cấp sâu sắc. Vì thế, không thể có và không bao giờ có lực lượng vũ trang “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”, “phi chính trị”, “đứng ngoài chính trị”. V.I.Lê-nin đã vạch rõ bản chất phản động của luận điệu lực lượng vũ trang “đứng ngoài chính trị”, coi đó là “cái giáo lý tầm thường”, “giả nhân, giả nghĩa và dối trá”; và Người đã khẳng định một cách dứt khoát: Không thể có quân đội, công an “trung lập về chính trị”, “… đó chỉ là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Vì thế, mọi luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang thực chất chỉ là chiêu trò lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin, ấu trĩ về chính trị mà thôi.

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập, giáo dục, rèn luyện các Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, lấy QĐND và CAND làm nòng cốt. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND và CAND. Vì vậy, lực lượng vũ trang mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng QĐND và CAND theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,” lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng QĐND, CAND, đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trong mọi điều kiện, tình huống.

Thực chất luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với lực lượng vũ trang nhân dân, để một lực lượng chính trị khác sẽ nắm Quân đội và Công an. Đây thực sự là luận điệu vô căn cứ, phản khoa học, rất có hại, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp xây dựng QĐND và CAND, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cần phải bác bỏ. 

Tuy nhiên, đến nay vẫn có không ít người thiếu tỉnh táo đã cổ súy một cách mê muội cho những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch rao giảng và được một số hãng truyền thông phương Tây như: VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ cơ hội chính trị, phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng tung hô, cổ vũ nhiệt thành.


Mọi luận điệu của các thế lực thù địch kêu gọi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam, cổ súy quan điểm chuyên nghiệp hóa lực lượng quân đội và công an, đòi “lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị”, đòi bỏ quy định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam… Đó chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; và gần đây là những sự kiện ở bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi, khiến chúng ta phải hết sức cảnh giác, không mắc mưu trước những chiêu trò “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch

Quản lý đất quốc phòng từ Đồng Tâm đến Tân Sơn Nhất

Để thực hiện tốt công tác quản lý đất quốc phòng trong thời gian tới theo đúng chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, các cơ quan chức năng, đơn vị có liên quan của Bộ Quốc Phòng đang tích cực nghiên cứu hoàn chỉnh dự thảo thông tư về quản lý, sử dụng đất quốc phòng, đồng thời theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện tốt việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đến năm 2020.

Nghị định 43 quy định rõ, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh phải được sử dụng đúng mục đích đã được xác định. Đối với diện tích đất không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích thì UBND cấp tỉnh thông báo cho đơn vị sử dụng đất để đưa đất vào sử dụng đúng mục đích; sau 12 tháng kể từ ngày được thông báo, nếu đơn vị sử dụng đất không khắc phục để đưa đất vào sử dụng đúng mục đích thì UBND cấp tỉnh thu hồi để giao cho người khác sử dụng.

Nhìn chung công tác quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng thời gian qua đã được thực hiện đúng quy trình, quy định của pháp luật về đất đai, đáp ứng được yêu cầu đất đai cho quy hoạch xây dựng các công trình phòng thủ quốc gia, vừa đảm bảo tốt yêu cầu phòng thủ quốc gia, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), bảo vệ Tổ quốc, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của đất nước.

Thực tiễn quản lý, sử dụng đất quốc phòng trong thời gian qua cũng còn một số hạn chế, bất cập; nhất là việc phân định ranh giới, xác định số liệu thống kê chưa rõ ràng, chính xác, dẫn tới sự tranh chấp giữa một số đơn vị với địa phương nơi đóng quân, thậm chí có những tranh chấp kéo dài nhiều năm nhưng chưa giải quyết dứt điểm, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về đất quốc phòng.

Mặt khác, việc quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đã tiến hành nhiều năm, nhưng chưa được điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của đất nước, của địa phương trong từng thời kỳ, dẫn đến một số nơi, quỹ đất cần thiết dành cho thao trường, bãi tập phục vụ huấn luyện, SSCĐ của một số đơn vị chưa được địa phương sở tại quan tâm đúng mức; ngược lại, ở một số khu vực, chưa nhất thiết phải bổ sung quỹ đất cho mục đích quốc phòng, nhưng vẫn được bố trí, gây lãng phí về quỹ đất. Điều đó đã làm ảnh hưởng đáng kể tới nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ của quân đội và phát triển KT-XH của các địa phương.

Từ vụ việc Đồng Tâm và Tân Sơn Nhất, vấn đề “tăng cường công tác quản lý đất quốc phòng”  quan trọng hơn bao giờ hết. Do vậy cần tiếp tục rà soát nắm chắc hiện trạng và nhu cầu sử dụng đất, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng để quản lý có hiệu quả. Mặt khác, cần tăng cường hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng đất đai vào mục đích quốc phòng. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai nói chung, đất đai sử dụng vào mục đích quốc phòng nói riêng. Nhất là trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu sử dụng đất đai cho mục đích phát triển KT-XH ngày càng tăng, nhiều diện tích đất, trong đó có đất quốc phòng được chuyển sang để xây dựng các khu công nghiệp, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thì việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc càng có ý nghĩa quan trọng.


Trong thời gian gần đây trước việc sử dụng đất đai và giải quyết các vụ việc có liên quan đến việc giải quyết đề bù đất đai và xung đột liên quan đến đất đai tại Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội. Bằng nhiều cách thức, biện pháp, chúng đưa những thông bịa đặt, bình luận xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lợi dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay để gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết thống nhất nội bộ quân đội. Khoét sâu, kích động tư tưởng công thần, địa vị cá nhân, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ... lợi dụng vào những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của một số ít cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta để làm lu mờ, bôi đen bản chất cách mạng "Bộ đội Cụ Hồ" hiện nay, chúng ta cần đặc biệt chú trọng xây dựng quân đội không chỉ giỏi đấu tranh vũ trang mà còn phải giỏi cả trong đấu tranh phi vũ trang, đáp ứng mọi yêu cầu của phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng quân đội thực sự mạnh, phải có “thực lực mạnh” như tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng, có khả năng “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; “ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội ta của chúng; đặc biệt có khả năng giành thắng lợi trong điều kiện kẻ thù liều lĩnh tiến hành chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao đối với nước ta, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội. Đó là những vấn đề bức thiết, cơ bản trong sức mạnh chiến đấu và sự vững mạnh về chính trị của quân đội ta trong tình hình mới, mà cuộc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch cần hướng tới và phục vụ hiệu quả.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện phương châm 16 chữ vàng chỉ đạo phát triển toàn diện quan hệ Việt - Trung

Sau khi Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hoá quan hệ năm 1991, hai nước đã có nhiều hoạt động giao lưu trao đổi lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực. Đầu năm 1999, Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã nêu ra phương châm 16 chữ "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới.

Trong những năm qua lãnh đạo cấp cao hai nước luôn coi 16 chữ này là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước. "Ổn định lâu dài" là nhấn mạnh tình hữu nghị Trung Việt là phù hợp lợi ích căn bản của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, bất kỳ lúc nào, bất kỳ tình hình nào đều phải giữ sự ổn định và phát triển lành mạnh của quan hệ hữu nghị, khiến nhân dân hai nước đời đời hữu nghị với nhau; "Hướng tới tương lai" là phải xuất phát từ hiện nay, nhìn về lâu dài, kế thừa truyền thống, mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho quan hệ Trung Việt; "Hữu nghị láng giềng" là yêu cầu chúng ta phải làm người láng giềng tốt, người bạn tốt, trước sau xử lý mọi vấn đề trong quan hệ hai nước với tinh thần hữu nghị láng giềng; "Hợp tác toàn diện" là phải không ngừng củng cố, mở rộng và sâu sắc sự giao lưu và hợp tác giữa hai đảng, hai nước trong mọi lĩnh vực, để mưu cầu hạnh phúc cho hai nước và nhân dân hai nước, đồng thời góp phần cho việc giữ gìn và thúc đẩy nền hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực.

Việc xác định phương châm 16 chữ vàng, khiến quan hệ hai đảng, hai nước Trung Việt đã thu được tiến triển quan trọng mới. Hai nước đã lần lượt lý hiệp ước biên giới trên bộ, hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác ngư nghiệp. Hai đảng, hai nước Trung Việt đã triển khai cuộc giao lưu kinh nghiệm quản lý đảng, quản lý đất nước một cách sâu rộng, sự hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước đã bước lên thềm cao mới, sự giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, nhất là giữa thanh niên hai nước cũng đã tiến ra một bước có nghĩa sâu xa. Tất cả những thứ đó, hoàn toàn phù hợp lợi ích lâu dài của hai nước và nguyện vọng của nhân dân hai nước Trung Việt, đặt cơ sở vững chắc cho việc phát triển sâu sắc quan hệ hữu nghị láng giềng và hợp tác toàn diện giữa hai nước.
         
Tình hữu nghị Trung Việt là của cải quý báu của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước. Nhà lãnh đạo hai nước nhiều lần nhấn mạnh, trong thế kỷ mới phải lấy phương châm 16 chữ vàng làm chỉ đạo, không ngừng phong phú, tăng cường và sâu sắc nội hàm của nó, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Trung Việt lên trình độ phát triển cao hơn.


Chủ trương của Đảng ta trong quan hệ đối ngoại

Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội. Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua. Đương nhiên, trong quan hệ với các đảng cầm quyền trên thế giới chúng ta cũng xác định rõ các nguyên tắc: Độc lập tự chủ; bình đẳng; tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ; và Đảng ta không quan hệ với các đảng, các tổ chức cực đoan.

Đây là kết quả của quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có tư duy đối ngoại là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam mở rộng quan hệ với các đảng chính trị trên thế giới trong tình hình hiện nay là đúng đắn, là cần thiết, nhằm tạo nên sự đồng thuận và cổ vũ cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi.


Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với thế và lực mới do những thành tựu và kinh nghiệm hơn 30 năm đổi mới mang lại, với vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, cơ hội rất lớn và thách thức cũng không nhỏ. Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội nhất là Đại hội XII đã thể hiện sự nhất quán, sáng tạo và hệ thống với tầm cao mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng và đặc biệt trong hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta sang một bước ngoặt mới. Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian tới hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn, giữ vững môi trường hòa bình và phát huy ngoại lực sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

"Dân sự hóa Quân đội" - Thủ đoạn "Bình mới rượu cũ" của các thế lực thù địch, phản động

“Dân sự hóa quân đội” một trong những âm mưu, thủ đoạn mới trong chiến lược phản động “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, thực hiện “phi chính hóa quân đội” đã và đang từng bước được tiến hành trong thời gian gần đây tại một số địa phương trong cả nước.

Thủ đoạn chính cơ bản của chúng có nhiều nội dung mới nhưng bản chất vẫn không thay đổi, đều tuyên truyền, cổ xúy nhằm tách quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam với cách thức hết sức thâm hiểm như công nhận cổ xúy cho luận điểm “ Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân”. Từ đó đề cao nguồn gốc và cường điệu hóa vai trò, nhiệm vụ quân đội, quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ nhân dân, phục vụ nhân dân và do phải do nhân dân lãnh đạo. Quân đội không nằm dưới sự lãnh đạo của đảng, không do đảng lãnh đạo mà phải đứng tách biệt, trung lập với đảng. Đây là một luận điểm chống phá hết sức nguy hiểm nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đọa của đảng đối với quân đội; đặc biệt lợi dụng các vấn đề xã hội nóng bỏng trong thời gian vừa qua ở một số địa phương liên quan tới vấn đề đất đai. Bọn phản động tiếp tục tuyên truyền thò mõm vào nhiều vấn đề gây nhiễu loạn, bức xúc trong nhân dân như đòi bàn bạc công khai các vấn đề quốc phòng, quân sự để nhân dân cả nước biết và cùng bàn bạc quyết định. Đây là một đòi hỏi hết sức vô lý, mang tính chất phản động của các thế lực thù địch bởi vấn đề quốc phòng là một vấn đề nhạy cảm, nó liên quan đến sự tồn vong, là cơ mật của quốc gia, có vấn đề có thể công khai nhưng có vấn đề phải bí mật tuyệt đối. Vì vậy đòi hỏi phải công khai bàn bạc trước quốc hội thì gọi gì là cơ mật. Đây là một luận điệu vô cùng lố bịch, lố lăng của những kẻ phản động mang trong mình tư tưởng phản quốc, chống phá cần phải được lên án, bài trừ, xử lý nghiêm khắc.

Mặt khác cũng với âm mưu trên bằng các thủ đoạn khác nhau chúng kêu gọi nhân dân nhất là ở những nơi dân trí thấp đang có sự tranh chấp đất quốc phòng là quân đội bàn giao đất quốc phòng để nhân dân, địa phương quản lý phát triển kinh tế. Trong thời bình quân đội quản lý sử dụng quá nhiều đất gây lãng phí: nên chăng bàn giao cho địa phương nhân dân sản xuất làm kinh tế nang cao đời sống. Thoạt nghe thì mang tính chất tiến bộ, đóng góp xây dựng nhưng thực chất là rất thâm độc, phản động. Bởi xét cho cùng đất dùng cho quốc phòng dùng cho kinh tế khi đất nước địa phương có tình huống xảy ra thì nhiều nơi làm sao bố trí được các vị trí phòng thủ, triển khai quân đội, lực lượng tác chiến, lực lượng phòng không. Tiểu biểu cho các hoạt động này là những hoạt động chống phá, xúi giục kích động trong thời gian vừa qua như ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội hay việc giải phóng mặt bằng mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất… Đã gây rất nhiều luồng ý kiến trong dư luận cả nước.


Như vậy có thể nói con bài “Dân sự hóa quân đội” trong âm mưu “phi chính hóa quân đội” là một thủ đoạn mới hết sức nham hiểm của các thế lực thù địch đã tiến hành trong thời gian vừa qua. Nó thực chất là một loại “bình mới rượu cũ” nhằm phá hoại tình hình ổn định chính trị xã hội của nước ta, chống phá đảng nhà nước, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng đối với quân đội. Từ đó tầm thường hóa quân đội, làm mất phương hướng mục tiêu lý tưởng của quân đội, nhằm xóa bỏ chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam, phá hoại công cuộc đổi mới của đất nước. Do đó đòi hỏi mọi người cần tỉnh táo nhận thức và đấu tranh chống lại hành động tuyên truyền chống phá này của các thế lực thù địch.

Phương châm 16 chữ chỉ đạo phát triển toàn diện quan hệ Việt – Trung

Tháng 11/1991, sau khi Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hoá quan hệ, nhà lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước liên tiếp đi thăm lẫn nhau, sự giao lưu và hợp tác giữa hai bên trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá ngày càng mở rộng và sâu sắc. Đầu năm 1999, Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã nêu ra phương châm 16 chữ "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới. Cuối năm 2000, hai nước lại ra Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, đặt ra mục tiêu cụ thể và cương lĩnh phát triển bền vững quan hệ hai nước

Tháng 11/ 2000, khi hội đàm với Tổng bí thư mới đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nêu rõ, 16 chữ này là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước.

Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nói, đảng và chính phủ Việt Nam sẽ ra sức thúc đẩy quan hệ Việt Trung phát triển sâu sắc và thiết thực hơn dưới sự chỉ đạo của phương châm 16 chữ vàng "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai".

Việc xác định phương châm 16 chữ vàng, khiến quan hệ hai đảng, hai nước Trung Việt đã thu được tiến triển quan trọng mới. Hai nước đã lần lượt lý hiệp ước biên giới trên bộ, hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hiệp định hớp tác ngư nghiệp. Hai đảng, hai nước Trung Việt đã triển khai cuộc giao lưu kinh nghiệm quản lý đảng, quản lý đất nước một cách sâu rộng, sự hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước đã bước lên thềm cao mới, sự giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, nhất là giữa thanh niên hai nước cũng đã tiến ra một bước có nghĩa sâu xa.


Tình hữu nghị Trung Việt là của cải quý báu của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước. Nhà lãnh đạo hai nước nhiều lần nhấn mạnh, trong thế kỷ mới phải lấy phương châm 16 chữ vàng làm chỉ đạo, không ngừng phong phú, tăng cường và sâu sắc nội hàm của nó, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Trung Việt lên trình độ phát triển cao hơn ./.  

"Hai Danh" ơi - Tên phản bội ngươi có biết

Đất nước, hơn 40 năm sau chiến hỏa
Bước đi lên từ gạch nát, tàn tro
Lần đầu tiên dân Việt được tự do
Mưu hạnh phúc tiến theo đường Cộng sản.

Đất nước, hơn 40 năm sau chiến hỏa
Vẫn gồng mình tiến bước vượt gian truân
Đi theo hướng của Xã hội Chủ nghĩa
Đến hôm nay đâu phải dễ dàng gì.

Không có Bác, có Đảng soi đường,
Thì hôm nay liệu có được tự do?
Không có Đảng cùng toàn dân đoàn kết,
Thì hôm nay liệu có được thành công?

Đảng, Bác cùng với cả toàn dân
Là một thể không bao giờ chia tách
Dân là chủ, Dân mãi luôn làm chủ
Đảng vì Dân, Đảng vẫn mãi của Dân

Hơn 40 năm sau chiến hỏa gian truân
Vinh quang có, nhưng cũng nhiều vấp ngã
Bởi con đường phía trước đâu sẵn có
Đâu phẳng bằng và trải đầy hoa đỏ.

Đảng ta đâu phải thánh, phải thần,
Để mà hóa một lần cho mãi mãi.
Đảng ta suy cũng xuất phát từ Dân,
Nên khuyết điểm là điều không tránh khỏi

Muốn Đảng mạnh, lái con thuyền vững bước
Ngoài Đảng ra, cần phải có sức Dân
Cùng chỉ rõ những điểm còn khiếm khuyết
Cùng chung tay bắt sâu mọt trong thân

Muốn đất nước vươn mình hóa cường long
Cần đoàn kết Đảng, Dân luôn một khối
Cùng nắm chắc và giương cao cờ đỏ

Vững bước tiến hướng chân trời tự do.

Vạch mặt kẻ phản động đội lốt nhà thơ - tên phản bội "Hai Danh"

Hiện nay trên các trang mạng xã hội có không ít những kẻ tự xưng là nhà thơ tự mình sáng tác những nội dung phản động nhằm bôi nhọ, nói xấu chế độ, nhằm hạ uy tín của đảng như bài thơ phản động “ Bác ơi!!!” trên facebook Hai Danh.

Hai Danh, một tên phản động đúng nghĩa dùng những ngôn từ kích động, biến những biểu hiện suy thoái của một bộ phận cán bộ, Đảng viên thành bản chất của tất cả Đảng viên nhằm mục đích hạ thấp uy tín của Đảng đối với quần chúng.

Nếu Hai Danh tự cho mình là nhà thơ phản ánh thực trạng của Đảng sao không viết bài ca ngợi và ủng hộ cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng làm trong sạch nội bộ của Đảng hiện nay? Là một nhà thơ nếu dùng  ngòi bút phê bình sao lại sử dụng ngôn từ thiếu văn hóa, phản động như vậy?

Thiết nghĩ thay vì nói xấu, kích động, phản động thì Hai Danh nên giành thời gian vào việc động viên, cổ vũ, tin tưởng vào những việc làm tích cực mà Đảng hiện nay đang thực hiện, hay đóng góp một cách trung thực, khách quan chứ không phải dùng những loại thơ văn phản động, hòng biến những suy thoái của một bộ phận nào đó thành bản chất để hạ thấp uy tín của Đảng, với mưu đồ tuyên truyền, kích động làm một số ít người dân lầm tưởng và đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo Đảng, đẩy lùi tiến bộ xã hội, gây mất ổn định tư tưởng cho một bộ phận không nhỏ quần chúng.

Đảng ta khẳng định trong nội bộ Đảng vẫn còn một bộ phận không nhỏ những Đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống song đó không phải là tất cả.

Thực tế, thời gian qua Đảng đã và đang “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ Đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Đảng viên và của nhân dân với Đảng” bằng các việc làm cụ thể được các Đảng viên và nhân dân ủng hộ.


Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là việc làm của toàn Đảng, toàn dân và được diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của xã hội cả chiều rộng và chiều sâu, với tính chất vô cùng gay go và quyết liệt. Đây là cuộc đấu tranh của mọi lực lượng, mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam. Mọi người dân hãy chung sức cùng Đảng phát hiện, đấu tranh,xử lý, loại bỏ những phần tử xấu lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng làm trong sạch bộ máy lãnh đạo, đưa đất nước đi lên bằng quan điểm phê bình tiến bộ, phản ánh trung thực, khách quan mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm thọc”, chứ không phải sử dụng thơ, văn kích động như tên phản động đội lốt “nhà thơ” Hai Danh đã làm còn dám lấy tiêu đề bài thơ là “Bác ơi”.

Gửi tác giả của bài thơ "THIÊN ĐÀNG CỘNG SẢN"

Bác của chúng ta đã từng dạy “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Câu nói đó càng nghĩ càng thấy thấm thía khi mình là người con đất Việt.

Tình cờ tôi đọc được bài viết của tác giả CHÍNH TRỊ với tiêu đề “THIÊN ĐÀNG CỘNG SẢN”, tôi thật rất buồn nếu như tác giả đây mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.

Nước Việt Nam ta trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước, hơn 4000 năm đó, dân tộc ta đã đánh đuổi bao kẻ xâm lăng, gần đây nhất là hai đế quốc sừng sỏ với đội quân nhà nghề kèm theo những mưu kế cực kỳ nham hiểm hòng bóp nghẹt dân ta, không cho ta ngóc đầu khỏi kiếp nô lệ; cái ác của chúng đã được minh chứng với cái chết của hàng triệu triệu người và tàn dư của nó đến bao giờ mới xóa hết…. Những cái ác đó nếu như không có Đảng liệu dân tộc ta có được hồi sinh và phát triển đến ngày hôm nay không? liệu rằng chúng ta có được sống yên ổn, bình an trên đất nước Việt Nam không? Câu hỏi đó, tôi nghĩ chỉ có lương tâm mới cho câu trả lời rõ nhất.

Đọc được những dòng thơ của tác giả CHÍNH TRỊ, tôi khẳng định rằng đây chính là luận điệu phủ nhận sạch trơn những giá trị thực, không thấy được rằng, Đảng cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà ngay chính kẻ thù cũng phải thừa nhận điều đó và hôm nay Đảng lại tiếp tục lãnh đạo đất nước trên con đường đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Trên bước đường của Đảng luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, thế nhưng Đảng đã quyết, toàn dân, toàn quân đồng lòng ắt sẽ thành công.

Tôi luôn tự hỏi rằng, mình cần phải làm gì cho giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy, những cái xấu, cái cổ hủ, lạc hậu dần biến mất để dân tộc ta dưới ngọn cờ sáng soi của Đảng sớm đạt được mục tiêu như đã định. Còn bạn thì sao! Bạn đã bao giờ hỏi rằng, mình cần làm gì cho quê hương đất nước ngày càng cường thịnh, cho sự bình an, hạnh phúc của nhân dân chưa? Chắc rằng bạn chưa nghĩ và làm được gì đâu!


Vậy nên, tôi mong rằng, nếu bạn là người con đất Việt, bạn hãy suy nghĩ lại và nên có những bài viết, những hành động đúng mực, không tô hồng, bóp méo sự thật, nhất là sự thật rất đỗi tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp chung cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...