Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

Nguyên Thạch – Kẻ phản động điên cuồng

Từ lâu tên viết thuê Nguyên Thạch vẫn ngày đêm điên cuồng ra sức chửi rủa phục vụ cho mấy trò giải trí rẻ tiền của bè lũ vong nô phản quốc. Trong bài viết trên danlambao, hắn đã có những lời lẽ xúc phạm, vu khống và bôi nhọ, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam và Công An nhân dân Việt Nam. Hắn viết: “Đảng cộng sản là hiện thân của loài ác quỷ”.

Xin thưa Nguyên Thạch! Chính ông chỉ là tên tay sai thối nát, chỉ nhận những đồng tiền thối nát, bẩn thỉu mà ngậm máu phun người, ngậm máu phun lại lịch sử. Không chỉ xúc phạm những người đang sống mà ông đang chính xúc phạm những người cha, người chú của ông đã nằm xuống, hy sinh xương máu để đổi lấy nền hòa bình, tự do, độc lập như ngày nay.

Tôi xin nói về Đảng Cộng sản Việt Nam – ngay khi ra đời thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn với sự lãnh đạo của Đảng. Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn, Đảng CSVN đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh, Đảng CSVN lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn. Dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập tự do, dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thưa với ông, ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đứng trước vận mệnh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Song, Đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Với đường lối chính trị sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, Đảng CSVN đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm tưởng như không qua được, củng cố, giữ vững chính quyền cách mạng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.
Lịch sử đã đặt dân tộc Việt Nam trước một thử thách gay go mới, phải đứng lên bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (tháng 5-1954) mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu kiên cường, đã lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có những thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề. Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động luôn tìm mọi cách phá hoại. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã và đang trải qua nhiều diễn biến phức tạp; chủ nghĩa xã hội thế giới gặp phải những khó khăn, thử thách lớn, lâm vào khủng hoảng, thoái trào. Quá trình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng. Việt nam đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa- xã hội, nhân dân Việt Nam đã có những cố gắng to lớn trong công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn đảng, toàn quân và toàn dân đang thi đua xây dựng và bảo vệ vững chắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.   


Ông chiến sĩ tự do rởm, đừng vì vài đồng tiền viết thuê thối nát mà cắn đi cắn lại, phỉ báng lại chính những người cha người chú của ông đã ngã xuống vì nền độc lập này. Mọi người cũng phải nên cẩn trọng với những luận điệu xuyên tạc vu khống của bọn rận chủ này, đề phòng là luôn có thái độ tích cực đấu tranh với bọn chúng.

88 năm dưới lá cờ vẻ vang của Đảng

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại. Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.

Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 88 năm qua.

Thực tiễn 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng và nhân dân ta đã đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng phát triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi”; “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. 88 năm xây dựng và trưởng thành, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thành tựu vĩ đại. Đó là:

Thứ nhất: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai: Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Thứ ba: Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong 88 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn nhiều.

Tự hào với những thắng lợi đã đạt được, hướng tới tương lai tươi sáng, tích cực thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vững tay lái, sáng suốt lãnh đạo toàn dân tộc, trước mắt thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2016 - 2020 do Đại hội lần thứ XII đề ra. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thực tiễn 88 năm qua đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam.

Kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại.


Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Lợi dụng công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta để chống phá- một thủ đoạn đã cũ

Tham nhũng là hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu. Phản ứng đối với tham nhũng mang tính xã hội rộng lớn ở khắp mọi nơi, mọi quốc gia, dân tộc. Một nhận thức chung về tham nhũng được đa số thừa nhận, đó là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển. Tham nhũng nảy sinh, tồn tại và hoành hành do sự hư hỏng, biến chất không chỉ của những người có chức quyền mà còn của cả những người được giao thực hiện những công vụ bình thường đã làm biến dạng quyền hạn và công vụ được giao phó. Nói cách khác, quyền hạn hay công vụ trao cho họ đáng lý ra phải được thực hiện vì lợi ích chung của cả xã hội thì lại bị lạm dụng vào mục đích trục lợi cho riêng cá nhân. 

Thông thường, những kẻ tham nhũng được coi là những kẻ tham ô và ngược lại, bởi giữa hai hành vi tham nhũng và tham ô đều có điểm giống nhau ở chủ thể thực hiện hành vi và mục đích của hành vi. Nghĩa là cả hai hành vi này đều do những kẻ có quyền, hay lợi dụng công vụ để trục lợi bất chính. Theo Từ điển tiếng Việt (của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2002), tham nhũng là “Lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”, tham ô là “Lợi dụng quyền hạn và chức trách để ăn cắp của công”. Trên thực tế, nếu so sánh với hành vi tham ô, thì thủ đoạn, cách thức tham nhũng lại kín kẽ hơn, tinh vi hơn, xảo trá hơn, và, phạm vi, quy mô tham nhũng cũng có mức độ rộng hơn, gây hậu quả trầm trọng hơn rất nhiều. Tham nhũng hiện không chỉ dừng lại ở hành vi của một cá nhân có chức quyền, mà đâu đó còn là hành vi của cả một tập thể ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị - những người có quyền hạn và có cả “ô dù” che chắn từ cấp cao hơn. Có những hành vi tham nhũng không chỉ ngấm ngầm trong nội bộ một cơ quan, đơn vị mà còn là sự cấu kết một cách có tổ chức, có liên kết với một vài cơ quan, đơn vị khác. Hành vi tham nhũng không chỉ thường hoành hành ở lĩnh vực kinh tế, như trong quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước,... mà điều đáng quan ngại là nó còn len lỏi cả trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, ở cả trong các lĩnh vực vốn được coi trọng về đạo lý, như giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội, nhân đạo, từ thiện,… Nếu chỉ nói riêng những thiệt hại to lớn về kinh tế cho nền kinh tế quốc dân (ấy là còn chưa nói tới những hậu quả khôn lường về chính trị, xã hội và tư tưởng trong đời sống xã hội) do những kẻ tham nhũng gây ra thì cũng đã là căn cứ đầy đủ để nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, chính thức ghi tội danh tham nhũng vào Bộ luật Hình sự của mình. 

Thực tiễn 30 năm thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho tốc độ phát triển kinh tế ở nước ta tăng trưởng ở nhịp độ khá nhanh nhưng mặt trái của nó, đã làm tha hóa, hư hỏng không ít cán bộ, đảng viên (nhất là ở trong lĩnh vực kinh doanh doanh nghiệp). Hằng năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều vụ tham nhũng, mỗi vụ làm thất thoát tài sản và vốn của Nhà nước hằng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng, nhiều bị can, (trong đó không ít cán bộ có chức có quyền) đã và đang bị xử lý trước tòa.

Tham ô, tham nhũng là những hành vi cần phải lên án và phải thường xuyên ngăn ngừa và xử lý cương quyết, kịp thời. Đó là trách nhiệm không chỉ của riêng các cấp lãnh đạo, của các cơ quan Nhà nước mà còn có trách nhiệm của toàn xã hội. Tuy nhiên, trước sự quyết tâm của toàn Đảng, của toàn dân trong việc phòng chống tham những hiện nay, lại có những trang blog, những kẻ lợi dụng vào việc trên để chống phá, nói xấu Đảng, nói xấu cán bộ cấp cao. Một trong những số đó, phải nói đến trang blog danlambaovn khi nói về việc Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ Nhôm) bị Bộ Công an bắt giữ về hành vi mà hắn đã gây ra. Những thông tin Vũ Nhôm bị bắt đã được các phương tiện truyền thông đưa tin và đó là sự thật, tuy nhiên điều đáng nói ở đây, sau những thông tin chính thống, blog danlambaovn đã lợi dụng đưa thêm vào những thông tin hoàn toàn bịa đặt, không có căn cứ, chúng đã viết: “Phan Văn Anh Vũ được dư luận biết đến như một ông trùm mafia đỏ tại Đà Nẵng với biệt danh Vũ Nhôm….Vũ Nhôm tuy bề ngoài là một đại gia bất động sản những thực chất ông còn là một thượng tá an ninh tình báo thuộc Tổng cục 5. Trong suốt nhiều năm trời, Vũ Nhôm đóng vai trò đắc lực trong các phi vụ thâu tóm đất đai, rửa tiền cho nhiều tổ chức mật của bộ máy công an và nhiều lãnh đạo cao cấp trong đảng cộng sản”. Chúng ta khẳng định lại một lần nữa những dòng được trích dẫn trên của bọn danlambaovn là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc. Bởi vì:

Thứ nhất, những người được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều là những người ưu tú nhất, vì thế không thể chỉ nhìn một số cán bộ biến chất, thoái hóa mà đánh giá, phủ nhận toàn bộ những công lao to lớn của Đảng trong quá trình lãnh đạo được. Thực tiễn đã chứng minh rất rõ, mà ai cũng phải thừa nhận về vai trò lãnh đạo của Đảng trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, chỉ có những phần tử, những kẻ cố tình không chịu hiểu.

Thứ hai, ở Việt Nam tình hình an ninh chính trị xã hội rất ổn định, điều này không chỉ trong nước đánh giá mà cả trên thế giới đều phải công nhận. Tuy còn có mặt trái của xã hội nhưng ở Việt Nam không có và không thể tồn tại những tổ chức mafia.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, khi những thế lực phản động luôn muốn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì những kẻ tham nhũng xét ở một góc độ nào đó cũng là tiếp tay cho các thế lực phản động. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, nhưng tự do phải trong khuôn khổ pháp luật và phải nói đúng sự thật. Những bài viết đi ngược lại những quy định, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, phủ nhận thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đều phải bị lên án. Chúng ta cần có biện pháp cứng rắn hơn với các loại phần tử lợi dụng các trang blog cá nhân để nói xấu chế độ như blog danlambaovn. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải luôn cảnh giác, tỉnh táo khi thu thập thông tin, biết chọn lọc đồng thời lên án, đấu tranh với những thông tin bịa đặt, sai trái.


45 năm sự kiện ký kết Hiệp định Paris năm 1973 ý nghĩa trọng đại trong lịch sử Việt Nam, dấu mốc trong lịch sử quan hệ quốc tế

Cách đây đúng 45 năm, ngày 27/1/1973 tại Pari, "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam", gọi tắt là Hiệp định Pari về Việt Nam, đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. 

Văn kiện pháp lý quốc tế này là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go nhất, lâu dài nhất, trong lịch sử hơn 50 năm của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Pari là một thắng lợi cực kỳ to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. 

Cuộc đàm phán Pari kéo dài 5 năm, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973. Giai đoạn đàm phán dưới thời Tổng thống Johnson diễn ra từ 15/3/1968 đến 31/10/1968. Kết thúc giai đoạn này Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom và chấp nhận để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia Hội nghị Pari.

Tháng 1/1969, Nixon nhậm chức Tổng thống Mỹ. Đến ngày 18/1/1969, hội nghị 4 bên họp phiên đầu tiên dưới hình thức bàn tròn, đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN xếp ngang hàng với các đoàn đại biểu khác. Trên bàn đàm phán, cuộc đấu trí diễn ra quyết liệt giữa các bên đàm phán, đặc biệt là giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger.

Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo.

Ngày 12/12/1972 cuộc đàm phán phải tạm dừng. Đêm 18/12/1972, tổng thống Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên Phủ trên không" kết thúc bằng việc 38 "pháo đài bay B52" và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ nổ tung ngay trên bầu trời Hà Nội. Đây là đòn quyết định nhất buộc Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cho phía Mỹ gặp đoàn đại biểu Việt Nam tại Pari để ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. 

Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 27/1/1973 đã diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định tại Pari, buộc Mỹ phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam, đồng thời làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ. Hiệp định Pari còn là bằng chứng tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Khác hẳn với lịch sử ngoại giao trên thế giới như các Hội nghị Teheran, Yanta, Posdam, thành công của cuộc đàm phán đưa tới Hiệp định Pari gắn liền với phong trào của nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam. Việt Nam đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ chí tình của Đảng Cộng sản Pháp, nhân dân Pháp và phong trào cánh tả, phong trào không liên kết, nhân dân các nước tư bản, nhân dân Mỹ và phong trào phản chiến của binh lính Mỹ.

Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. 

45 năm đã qua đi, nhưng ý nghĩa lịch sử của việc ký hiệp định pari vẫn còn nguyên giá trị. Trong tình hình mới, với xu thế quốc tế đa cực, phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, mỗi chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm đối ngoại của Đảng và nhà nước ta là chủ động hội nhập quốc tế, không để bị cô lập về ngoại giao, tích cực phát huy vai trò thành viên trong các tổ chức quốc tế và khu vực. Trong các hoạt động đối ngoại luôn đặt lợi lích quốc gia dân tộc là lợi ích cao nhất. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng đưa ra các quan điểm chủ quan và thù địch nhằm xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của hội nghị pari, xuyên tạc thành quả ngoại giao cách mạng Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, nhận rõ bộ mặt và âm mưu của chúng và đấu tranh kiên quyết, tiếp tục phát huy trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và quan hệ quốc tế. 

Đảng cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam

Sự ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử do yêu cầu của chính xã hội Việt Nam. Nhưng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn dân tộc chỉ được xác lập trên thực tế khi Đảng làm tốt nhiệm vụ của mình, như Hồ Chí Minh nói: Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Và vai trò lãnh đạo ấy đã được ghi vào Điều 4 trong  Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Đảng thành lập đến nay, Đảng ta luôn giữ vững bản chất giai cấp của mình, luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam. Vai trò tiên phong ấy không phải tự nhiên mà có được, cũng không phải do Đảng tự phong cho mình. Đó là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện, tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng để lãnh đạo toàn dân tộc ta từ một đất nước phong kiến, nửa thuộc địa nghèo đói đi lên giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước ta giàu đẹp như ngày hôm nay. Vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc được thể hiện trên một số điểm sau đây:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội Việt Nam phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển là do đòi hỏi của chính lịch sử và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Trong điều kiện đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn, các trào lưu cách mạng nổ ra mạnh mẽ nhưng không đem lại hiệu quả. Chỉ có trào lưu cách mạng vô sản theo con đường chủ nghĩa Mác-Lênin dẫn đường mới đáp ứng được yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị được nhân dân tin tưởng và thực hiện thắng lợi mục tiêu giải phóng dân tộc Việt Nam và đưa đất nước ta phát triển đi lên.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đảm nhận trách nhiệm giải phóng dân tộc di nhân dân giao phó và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong điều kiện đất nước đang trong cảnh lầm than, nhân dân chịu ba tầng áp bức, bóc lột; đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Trong bối cảnh đó, hàng loạt các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, giải phóng cho dân tộc đã được các nhân sĩ yêu nước tổ chức, tiến hành; tuy nhiên các phong trào đó đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc - với lòng yêu nước, thương người đã ra đi tìm đường cứu nước và Người bắt gặp lý tưởng cộng sản soi sáng con đường đấu tranh tăm tối của dân tộc. Người đã thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, rèn luyện và dẫn dắt Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ, vượt qua biết bao khó khăn thử thách, Đảng ta đã cùng toàn dân, toàn quân ta  đánh bại hai đế quốc sừng sỏ của thế giới, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất hoàn toàn đất nước.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam tỏ rõ bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo toàn dân tiến hành xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, dân tộc ta bước vào thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào. Các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành cải tổ, cải cách thoát khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, con đường cải cách, cải tổ của họ lại dẫn đến chệch hướng, rơi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, giữ vững bản lĩnh chính trị kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng từng bước có những phát triển mới về nhận thức, từ đó có những hoạt động lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm. Những chủ trương, đường lối của Đảng đưa ra đã và đang đem lại những thành tựu to lớn, đất nước đang từng ngày thay da đổi thịt, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên.


Tuy nhiên, quá trình Đảng lãnh đạo đất nước đi lên vẫn còn tồn tại những khuyết điểm nhất định, trong các giai đoạn lịch sử. Các thế lực thù địch luôn lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm đó để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng và Nhà nước ta. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, phủ nhận mọi thành tựu mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được. Một số kẻ còn tinh vi hơn khi thừa nhận vai trò của Đảng trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc để giải phóng dân tộc, nhưng phủ nhận vai trò của Đảng trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tuy nhiên, những thành tựu mà Đảng cùng toàn dân đã đạt được không những được nhân dân ta mà cả bạn bè quốc tế đều ghi nhận. Điều đó cho thấy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam là không thể phủ nhận được. Chúng ta phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc đó, giữ vững lòng tin với Đảng để chung tay đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018

Nhớ về nguồn cội và sự kiện lịch sử ngày 03.02.1930

Đã qua rồi gần 43 năm kể từ ngày đất nước Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Có thể nói đại bộ phận nhân dân mà tiêu biểu là các em thiếu nhi đã được sống trong “yên vui, thái bình” như lời bài hát “Thiếu nhi thế giới vui liên hoan” của nhạc sĩ Lê Hữu Phước. Giấc mơ “yên vui, thái bình” không chỉ là nỗi “hằng mong” như lời bài hát mà đã được hiện thực hóa vào cuộc sống của đại đa số nhân dân Việt Nam từ lâu.

Có được cuộc sống như vậy, mỗi người dân chúng ta không thể quên nhớ về nguồn cội, nhớ về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Diễn ra từ ngày 6.01 – 8.02.1930, Hội nghị mang ý nghĩa như một đại hội thành lập Đảng.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ định ra tên cho Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân Việt Nam, mở ra cho cách mạng Việt Nam một giai đoạn lịch phát triển và thành công mới mà còn đóng góp cho hệ thống văn kiện của Đảng bản Cương lĩnh Chính trị đầu tiên, một bộ văn kiện có giá trị cả về lý luận, thực tiễn xuyên suốt quá trình cách mạng của dân tộc Việt Nam cho đến ngày nay.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đã dẫn dắt phong trào cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng đã lãnh đạo dân tộc giành độc lập tự do cho Nhân dân, cho dân tộc, cho đất nước Việt Nam. Ngày nay, Đảng tiếp tục lãnh đạo Nhân dân, đất nước trong thời kỳ đổi mới, đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước chuẩn bị cơ sở vật chất cho đất nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

Hướng tới kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 03.02.1930 – 03.02.2018), mỗi công dân Việt Nam, hãy nhìn lại cuộc sống của bản thân, gia đình, quê hương, đất nước (một cách khách quan) theo thời gian để thấy rằng đất nước đã thay da đổi thịt từng ngày, để biết ơn Đảng và các thế hệ cha ông đi trước, để tin tưởng vào tương lai và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Con đường ấy nhất định sẽ thành công trên cơ sở toàn dân đồng sức, đồng long dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh!


Ý Đảng hợp lòng dân

Tham nhũng là một hiện tượng lịch sử mang tính khách quan trong xã hội có giai cấp và Nhà nước, nó xuất phát từ lòng tham của con người trước của cải, vật chất của xã hội. Do vậy, tham nhũng tồn tại khách quan và tất yếu của lịch sử, chỉ khi nào xã hội không còn giai cấp và Nhà nước, đồng thời của cải xã hội dư thừa và ý thức tự giác của con người đạt đến trình độ cao thì tham nhũng sẽ không còn tồn tại.

Vấn đề tham nhũng đã trở thành hiểm họa của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đối với sự phát triển và tồn vong của đất nước. Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác phòng, chống tham nhũng, trong những năm qua, đặc biệt là sau Đại hội XII của Đảng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng và bước đầu đã đạt kết quả nhất định. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi một số vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử theo pháp luật như: Vụ "Tham ô tài sản", "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" xảy ra tại Tổng Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC); vụ án Phạm Công Danh và Hà Văn Thắm… Điều đó thể hiện sự quyết tâm của Đảng và cả hệ thống chính trị kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, nghiêm minh với những cán bộ, đảng viên thoái hoá biến chất.

Cộng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Qua đó, đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân với Đảng với chế độ, đồng thời làm trong sạch Đảng, loại bỏ những thành phần thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cũng như ngày càng khẳng định vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Thế nhưng, thật nực cười khi mà việc chống tham nhũng là yêu cầu bức thiết của các quốc gia và cũng là xu hướng tất yếu của nhân loại đối với sự phát triển của đất nước. Nhưng những người tự nhận là “zân chủ” lại ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương và những biện pháp của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác phòng, chống tham nhũng. Có thể khẳng định, việc mà Trung ương Đảng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang “nhóm lò” để “củi khô, củi tươi đều cháy hết” khi mà “lò đã nóng lên rồi” đã nhận được sự đồng đồng tình và ủng hộ của hơn 90 triệu đồng bào của dân tộc Việt Nam. Điều đó thể hiện “ý Đảng, lòng dân” và quyết tâm phòng, chống tham nhũng đến cùng của toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị. Tổng Bí thư nêu rõ, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả. Cuộc chiến chống tham nhũng của chúng ta đã và đang đem lại những kết quả nhất định.

Trong khi đó, những con sâu mọt tham nhũng đã đục khoét nền kinh tế, làm suy yếu sức mạnh của dân tộc, đe dọa thành quả của cách mạng 88 năm qua, cản trở tương lai tươi sáng của đất nước thì chúng ta có nên “đốt”. Những luận điệu của những nhà “zân chủ” chẳng qua cũng chỉ là một chiêu bài nhằm xuyên tạc chủ trương của Đảng, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước.


Để thực hiện mục đích cuối cùng của chúng – những kẻ phản động đội đó là làm bất ổn tình hình chính trị và chống phá chế độ, để tiến tới phủ nhận và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhưng chúng đã lầm, khi mà ý Đảng đã quyết, lòng dân đã thuận cũng như đứng trước tương lai của dân tộc thì bất cứ luận điệu gây chia rẽ và đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc cũng đều đi đến thất bại. Không những vậy mà nó còn cũng cố thêm niềm tin của nhân dân với Đảng trong con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hiệp định Paris – ý nghĩa và bài học

Hiệp định Paris là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa có cuộc đàm phán nào kéo dài như cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày. Sau 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành thắng lợi.

Hiệp định Paris về Việt Nam được kí kết có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Hiệp định đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; Mỹ và các nước đồng minh không được dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Hiệp định Paris về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Lực lượng ngụy quân ngụy quyền mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng không gì cứu vãn nổi. Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”. Đây là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiệp định Paris và việc Mỹ rút khỏi Việt Nam góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia. Đặc biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Đông Nam Á: quân đội Mỹ rút khỏi khu vực, khối SEATO giải thể, xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển.
Thắng lợi của Việt Nam trên bàn đám phán tại Hội nghị Paris đã để lại cho chúng ta những bài học lớn.

Thứ nhất, đó là bài học về việc tranh thủ sự ủng hộ của các phong trào cách mạng của các lực lượng tiến bộ: Việt Nam đạt được thắng lợi tại Hiệp định Paris trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng có yếu tố phức tạp. Chúng ta đã tranh thủ được được sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN, các nước không liên kết cũng như sự ủng hộ từ nhân dân tiến bộ trên thế giới. Điều này thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế.

Thứ hai, đó là bài học về ý chí kiên cường bất khuất trong quá trình đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc. Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế, cùng chiến đấu vì một mục đích chung, vì hòa bình, độc lập dân tộc.

Thứ ba, hiệp định Paris để lại bài học về sự kết hợp đấu tranh trên các mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Chiến thắng trên các mặt trận này có sự ảnh hưởng, gắn bó mật thiết với nhau. Để đạt được thắng lợi, ta cần nắm bắt, nhìn nhận các mặt ảnh hưởng, điều kiện thực tế để có sự tập trung sức mạnh, có những chiến lược đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.


Hiệp định Paris năm 1973 là kết quả cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta, tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn thắng lợi tại Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí đấu tranh quật cường, bền bỉ, nhằm bảo vệ chính nghĩa, lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris về Việt Nam mãi là trang sử vàng, thể hiện cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam được đúc kết từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học quý giá.

Mặt trái của truyền thông trên không gian mạng

Không gian mạng, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi thông tin, một mạng lưới toàn cầu. Không gian mạng, một vùng lãnh thổ mới, nơi diễn ra tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, … như một thế giới thực, tồn tại và tương tác, đan xen, gắn kết mạnh mẽ với thế giới thực của con người.

Sử dụng không gian mạng đã trở thành xu hướng của thời đại, là nhu cầu không thể thiếu của mỗi chúng ta hiện nay. Không thể phủ nhân vai trò to lớn của không gian mạng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Không gian mạng cũng đã trở thành môi trường tác chiến mà các quốc gia trên thế giới không thể đứng ngoài. Trên môi trường ấy, các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng đã xuất hiện đã và đang đe dọa đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thế giới đã từng chứng kiến nhiều cuộc biến động chính trị như: năm 2014, làn sóng cách mạng xã hội và các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông và Hồng Kông có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng. Hay như năm 2016 ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ đã dập tắt cuộc đảo chính của quân đội nhờ mạng xã hội. Tháng 12 năm 2016, Donal Trump thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống nước Mỹ cũng có sự đóng góp to lớn của mạng xã hội, …

Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra cho Việt Nam một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Song song đó, cùng với cơ hội phát triển đất nước là nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới đất nước một cách quyết liệt. Chúng đã trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ quyền, an ninh, an toàn của đất nước và đời sống của nhân dân.

Không gian mạng mà trực tiếp là truyền thông mạng là công cụ đắc lực của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lòng xã hội Việt Nam. Chúng chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tư tưởng – văn hóa, tôn giáo – dân tộc, quốc phòng – an ninh, đối ngoại với đủ các chiêu trò và thủ đoạn khác nhau. Vấn đề đặt ra là Việt Nam phải làm gì trước mặt trái của truyền thông trên không gian mạng?

Trước hết, hãy nhìn ra thế giới. Để đối phó với các mặt trái của truyền thông, mạng xã hội, hầu hết các quốc gia đều coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn, kết hợp với tuyên truyền và xây dựng các biện pháp, chế tài pháp lý trong quản lý, kiểm soát hoạt động truyền thông. Để ngăn chặn sự chống phá của phương Tây và lực lượng thù địch, đặc biệt là sự tác động vào ý thức thế hệ trẻ.

Điển hình là Trung Quốc đã đưa ra “7 giới hạn đỏ” yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện. Khi xảy ra các sự cố trong nước, Trung Quốc cho lập “tường lửa vạn lý Trường Thành”, thậm chí chặn toàn bộ các mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo các cơ quan truyền thông tập trung tuyên truyền, đấu tranh mang tính hệ thống. Mỹ cũng lập riêng một tiểu ban để phân tích và kiểm tra các thông tin trên báo chí khi xảy ra các biến cố an ninh trong nước. Ngoài ra, Cục Điều tra Liên bang còn thành lập một lực lượng chuyên kiểm soát thông tin trên internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động.

Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu về Internet nhưng đất nước này cũng có những qui định rất chặt chẽ về quản lý truyền thông đặc biệt là internet như: để gửi bài viết, kể cả bình luận trên mạng buộc người gửi phải có số chứng minh nhân dân; hay như những bài viết liên quan đến phản đối nghĩa vụ quân sự, ủng hộ Triều Tiên đều bị cơ quan quản lý gỡ bỏ. Nhận rõ âm mưu của các thế lực nước ngoài qua các cuộc “cách mạng” tại Đông Âu trước đây, Chính phủ Nga đã ngăn cấm các công ty nước ngoài phát triển mạng xã hội trong nước. Nga rất coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển lực lượng tác chiến mạng và coi đó là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia.

Ở Việt Nam, cùng với hàng loạt giải pháp kỹ thuật, quản lý Nhà nước, Việt Nam còn sử dụng chính truyền thông trên không gian mạng để làm công tác đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tổ chức phản động. Tiêu biểu là sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng mà Bộ Quốc phòng đã công bố ngày 08/01/2018. Công bố này cho thấy sự quyết tâm và chủ động về chủ trương nhằm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, Quân đội Việt Nam trong tình hình mới. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng có chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin trong toàn quân. Bộ này sẽ đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên không gian mạng.

Trong hai năm qua, hoạt động chống diễn biến hòa bình đã cho chúng ta thấy sự cần thiết phải đấu tranh trên không gian mạng, đặc biệt là truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong tình hình mới – nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.


Mỗi công dân Việt Nam, khi tham gia vào không gian mạng, có thể nhận diện các thế thực thù địch, phản động thông qua các thủ đoạn trên cũng như cần cảnh giác với các trang web, blog, trang thông tin truyền thông như: VOA tiếng Việt, “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Chân dung quyền lực”,… Đồng thời, nhân dân cũng cần biết rằng các tổ chức như: Việt Tân, Hội anh em dân chủ và Hoàng Sa, đảng “Dân chủ nhân dân”, “Phong trào Lao động Việt”, “Viễn tưởng Việt Nam”, “Đảng Vì dân”,… là các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam.

Hiệp định Pa-ri thắng lợi có ý nghĩa lịch sử

Hiệp định Pa-ri (27-01-1973) là sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Cuối năm 1964, đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền Nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã bị phá sản, ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược từ “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Ðể lừa bịp dư luận, chính quyền của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn rêu rao “miền Bắc xâm lược miền Nam”, mở cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền Bắc đình chỉ thâm nhập người và phương tiện chiến tranh vào miền Nam, rút quân khỏi miền Nam” và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định: Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh vì chúng đang ở thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền Bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc trong đấu tranh chống chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Ðêm 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên truyền hình Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn thừa nhận thất bại trong dịp Tết Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía Bắc khu phi quân sự. Ông còn cam kết, “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tiếp theo.

Trong tình thế thay đổi có lợi cho ta, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Pa-ri (Pháp). Sau gần 6 tháng đàm phán, 2 bên đã đi đến thỏa thuận về việc Mỹ sẽ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa kể từ ngày 31-10-1968. Đồng thời, thỏa thuận về việc triệu tập một hội nghị tại Pa-ri để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 25-01-1969, Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn ta “vừa đánh, vừa đàm” với Mỹ. Hội nghị Pa-ri là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, giữa một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại yếu về chính trị, tinh thần; với một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, có thế mạnh tuyệt đối về chính trị - tinh thần và chính nghĩa. Hội nghị còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường với nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Bởi vậy, đây là một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý và mưu lược,… khác nhau.

Chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Pa-ri, ta và đối phương có những mục đích, đòi hỏi đối lập nhau: Ta yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân và vũ khí khỏi miền Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam; phía Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn, nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Lập trường của bốn bên, mà thực chất là của hai bên Việt Nam và Mỹ, ở giai đoạn đầu rất mâu thuẫn và cách xa nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn Hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường, cả ta và Mỹ đều tìm mọi cách để giành thắng lợi quyết định về quân sự, nhằm thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh dựa trên thế mạnh mà hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả.

Những thắng lợi quân sự của ta trong năm 1971, 1972, với các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Cam-pu-chia, Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ,… đã khiến quân Mỹ - ngụy thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và đề nghị phía Mỹ thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí, nhưng đến ngày 22-10-1972 phía Mỹ lật lọng, viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Ngày 6-4-1972, Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và trở lại đánh phá miền Bắc. Quyết định quay trở lại đánh phá miền Bắc Việt Nam, Tổng thống Mỹ Ních-Xơn hy vọng sẽ bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào, làm cho miền Bắc suy yếu và buộc phải thương lượng với Mỹ trên thế thua.

Đánh giá đúng tình hình, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ đạo tập trung đập tan những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri. Năm 1972 các cuộc đàm phán giữa hai bên dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 đến ngày 12-10-1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong cuộc gặp này, phía Việt Nam đưa ra dự thảo Hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay vào đó. Hai bên thỏa thuận ngày 31-10-1972 sẽ ký Hiệp định chính thức tại Pa-ri. Tuy nhiên, ngày 22 và ngày 23-10-1972, Mỹ đòi hoãn ngày ký để thảo luận thêm.

Trước những diễn biến mới của tình hình, Quân ủy Trung ương nhận định: Mỹ sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hóa trở vào, đồng thời có thể sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả dùng B-52 đánh phá ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Tr­ước nguy cơ thất bại của chiến lư­ợc “Việt Nam hóa chiến tranh”, đúng như ta đã dự kiến, sau ngày 23-10-1972, đặc biệt là sau khi trúng cử Tổng thống Mỹ (ngày 8-11-1972), Ních-xơn ráo riết chuẩn bị bước phiêu lưu quân sự mới. Mỹ trở giọng đe dọa, phá ngang, làm cho cuộc đàm phán tại Hội nghị Pa-ri bị gián đoạn; đồng thời tập trung lực lượng không quân ở mức cao nhất để đánh phá, ngăn chặn các tuyến giao thông từ nam vĩ tuyến 20 trở vào, trọng điểm đánh phá là các tuyến vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam. Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-Xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II”, trong đó sử dụng chủ yếu các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc, từ ngày 18 đến ngày 30-12-1972. Ních-xơn hy vọng, với sức mạnh của không lực, Mỹ sẽ đạt được mục đích. Nhà sử học người Mỹ Giơ-lin-gơ-ri-nút tiết lộ: Ních-xơn, Kít-xinh-giơ và 1.700 nhân viên phi hành B-52 thực hiện cú đấm chiến lược này đều có niềm tin mãnh liệt ban đầu về kết quả chiến đấu. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như­ thế, Mỹ cho rằng, hệ thống ra-đa trinh sát phòng không và tên lửa “SAM -2” của Bắc Việt Nam cũng không thể nào “với tới” đ­ược. Tổng thống Mỹ Ních-xơn còn ngạo mạn cho rằng, B-52 bay vào Hà Nội sẽ như một cuộc dạo chơi. Bởi theo họ, trong nhiều năm nay, ở Nam Việt Nam B-52 là con át chủ bài giữ vai trò quyết định, các vũ khí phòng không của Việt Cộng không có tác dụng gì với B-52...


Thế nhưng, với ý chí và trí tuệ của con người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, quân và dân miền Bắc đã kịp thời giáng trả đế quốc Mỹ những đòn đích đáng để giành thắng lợi quyết định về quân sự.  Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 được ví là trận “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của đế quốc Mỹ, với kết quả: bắn cháy 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay ném bom chiến lược B-52 và 5 máy bay F.111, nhiều B-52 bị bắn rơi ngay tại Thủ đô Hà Nội; bắt sống 43 phi công, trong đó có 33 phi công lái B-52.

Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam và thất bại trong cuộc tập kích đường không chiến lược nhằm vào Hà Nội, Hải phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc Việt Nam đã làm cho ý chí đàm phán trên thế mạnh của Nhà Trắng bị đè bẹp, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngừng ném bom và bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra kể từ ngày 30-12-1972. Ngày 6-01-1973, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chỉ thị cho cố vấn đặc biệt của mình là Kít-xinh-giơ rằng, trong đàm phán sắp tới, Mỹ cần đạt được một giải pháp, cho dù đối phương có đưa ra những điều kiện khắt khe, đồng thời nhấn mạnh việc sẵn sàng chấp nhận văn bản dự thảo Hiệp định mà hai bên đã thỏa thuận vào tháng 10-1972. Ngày 8-01-1973, Mỹ buộc phải tiếp tục nối lại đàm phán trên thế yếu tại Hội nghị Pa-ri. Ngày 15-01-1973, Chính phủ Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc. Ngày 23-1-1973, Hiệp định và các nghị định thư được cố vấn đặc biệt của ta là Lê Đức Thọ và cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ ký tắt. Thất bại nặng nề của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc đã dập tắt những cố gắng quân sự cuối cùng của họ, buộc họ phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” vào ngày 27-01-1973.

Với thắng lợi của Hiệp định Pa-ri năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”. Đây cũng là tiền đề để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975.

Hiệp định Pa-ri năm 1973 phản ánh ở mức cao những thắng lợi về quân sự và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ. Ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, từ đó hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận này đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế; kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.

Thắng lợi của Hiệp định Pa-ri năm 1973 đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Lào và Cam-pu-chia.

Hiệp định Pa-ri năm 1973 là kết quả cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn thắng lợi tại Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí đấu tranh quật cường, bền bỉ, nhằm bảo vệ chân lý, chính nghĩa, lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, trên cơ sở chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri về Việt Nam mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, thể hiện cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.


Hội nghị Pa-ri về Việt Nam còn là cuộc đấu tranh kiên cường vì các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam, được thể hiện trong Hiệp định - văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất. Trong đó, Mỹ  buộc  phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”, điều mà họ đã cố tình lẩn tránh ở Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Đồng thời, Mỹ buộc phải rút hết quân về nước, trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, khiến so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta. Điều quan trọng nữa là, Hiệp định góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn dân, toàn quân ta giành thắng lợi hoàn toàn với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử./.

Đừng để cuộc chiến chống tham nhũng bị "hụt hơi" bởi những kẻ dèm pha, chống phá!

Tham nhũng là một vấn nạn, vấn nạn nhức nhối này ở gần một nửa số quốc gia trên thế giới không được cải thiện nhiều. Từ nửa cuối thế kỷ thứ XX, tham nhũng nổi lên như căn bệnh ác tính bùng phát, đe doạ cả nền kinh tế, văn hóa lẫn đạo đức của loài người, có sức tàn phá và ngăn cản rất lớn đối với sự phát triển của mọi quốc gia. Thậm chí ở nhiều quốc gia, nạn tham nhũng đang ngày càng tăng lên, ngay cả những nền kinh tế phát triển nhất cũng không thể loại trừ tham nhũng. Nhiều cá nhân đầy tham vọng và sẵn sàng gánh chịu rủi ro, để đổi lại là các lợi ích to lớn mà họ hy vọng nhận được.

Năm 2017 đã đánh một dấu mốc lịch sử quan trọng trong cuộc chiến đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta, cuộc chiến "không có vùng cấm", bước đầu làm nức lòng nhân dân cả nước: Với hàng loạt quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước phải chịu kỷ luật hoặc đối diện với công lý, rõ ràng đã đạt được những kết quả rất cụ thể, tạo đà để giành những thắng lợi tiếp theo, với tinh thần "lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy", như lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Điều này cho thấy nỗ lực và quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống lại nạn tham nhũng – quốc nạn của đất nước hiện nay. Những cán bộ cấp cao, thậm chí có người từng ở vị trí rất cao, cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý trước những vi phạm của mình.

Bên cạnh sự hưởng ứng, đồng thuận của phần đông người dân, có không ít kẻ chỉ chực chờ dèm pha: "Tôi không tin vụ xét xử ông Thăng sẽ làm cho đất nước bớt đi nạn tham nhũng. Bởi vì ,khi vai trò giám sát của lập pháp đã mất đi đối với hành pháp, thì hết cơn sóng tham nhũng này sẽ sinh ra những cơn sóng tham nhũng khác. Nói một cách khác , không thể sạch tham nhũng khi thể chế tạo ra nó.", " đảng đã ko công bằng với ông Đinh La Thăng", " Báo chí Việt Nam chỉ là bọn xu nịnh, nâng bi. Không bao giờ tin đây là cuộc chống tham nhũng. Mà chỉ là thanh trừng"... Những luận điệu này trong bối cảnh này là nhằm mục đích gì? Chắc chắn chúng không có ý tốt, vì chỉ vừa hôm qua chính chúng kêu gào, chửi bới đất nước để nạn tham nhũng hoành hành, thì cũng chính chúng hôm nay lại khóc thương, đồng cảm cho những kẻ vướng vào đại án tham nhũng. Những kẻ lật lọng, trước sau bất nhất đó chỉ muốn đả phá, phủ nhận công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, và xa hơn nữa là đả phá chế độ, vùi dập những người đang đương đầu với cuộc chiến cam go này.


Tham nhũng là một quốc nạn, mà đã là vấn đề quốc gia thì phải có sự vào cuộc quyết liệt của các ban, ngành và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận nhất trí của cả xã hội, phải đấu tranh thường xuyên, liên tục. Không thể để cuộc chiến này "hụt hơi", đứt gánh giữa đường bởi những kẻ dèm pha, chống phá.

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh trên không gian mạng

Để thưc hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ bất kì một âm mưu, thủ đoạn nào. Một trong những âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, xảo quyệt mà chúng thường sử dụng trong thời gian gần đây là giả mạo tên tuổi, hình ảnh, thậm chí là cả chữ kí của các lão thành cách mạng, cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội đã nghỉ hưu để gửi đơn thư tố cáo, hoặc viết bài với nội dung xuyên tạc, bịa đặt rồi cho phát tán trên mạng internet nhằm đánh lừa dư luận, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gây hoài nghi, chia rẽ trong Đảng, trong nhân dân và Quân đội ta. Đây là một chiêu trò mới, hết sức bỉ ổi và thâm độc mà các thế lực thù địch, phản động đang thực hiện để chống phá cách mạng nước ta…

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển gần đạt tới đỉnh cao như hiện nay thì mọi thứ thông tin dù là chính thống hay phiếm chỉ, dù rất chính xác hay chỉ là nặc danh, ngụy tạo nhưng khi đã tán phát qua mạng internet thì chúng đều được lan truyền với “vận tốc của ánh sáng”. Thực tế là như vậy. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, lợi ích do thành tựu khoa học mà con người đạt được, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin là vô cùng to lớn, không ai có thể phủ nhận được. Nhờ mạng internet-đỉnh cao của công nghệ thông tin-mà giờ đây khoảng cách giữa con người với con người trên khắp hành tinh, ở mọi quốc gia, châu lục đã được rút ngắn hơn bao giờ hết; con người ở tại một địa điểm trong cùng một thời điểm vẫn có thể truy cập, trao đổi, nắm bắt đầy đủ mọi thông tin, sự kiện vừa mới diễn ra ở khắp các vùng miền trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích vô cùng to lớn, không thể phủ nhận ấy thì chính con người-nhân tố tạo ra thông tin và hưởng thụ thông tin-cũng lại đang phải đối mặt với biết bao nhiêu hệ lụy bởi sự nhiễu loạn thông tin khó có cách gì kiểm soát trên mạng internet hiện nay.

Lợi dụng đặc điểm mù mờ nhưng lan truyền rất nhanh, khó kiểm soát và ngăn chặn của thông tin trên không gian mạng, những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động cả trong nước và nước ngoài đã ra sức khai thác, sử dụng mạng internet như một phương tiện hữu hiệu để tiến hành hàng loạt các âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Thấy không còn mấy hiệu quả với chiêu thức quen thuộc đã từng thực hiện bấy lâu nay đó là trực tiếp viết bài, tán phát các thông tin, tài liệu có tính chất bịa đặt, xuyên tạc thì gần đây chúng đã chuyển sang thực hiện một chiêu trò mới, hết sức đê tiện, nhưng rất tinh vi, “nham hiểm hơn cả một hành động tội ác” đó là giả mạo tên tuổi, thậm chí cả hình ảnh, chữ ký của các lão thành cách mạng, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đã nghỉ hưu, trong đó có cả những tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Quân đội để gửi đơn, thư tố cáo, hoặc viết bài xuyên tạc, rồi tán phát trên mạng internet nhằm kích động, gây hoang mang dư luận, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đất nước ta. Nắm vững vấn đề này, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã nhận định và chỉ rõ những âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết thực hiện nhằm chống phá cách mạng nước ta đó là “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Có một điều mà mỗi chúng ta cần hết sức lưu tâm, tỉnh táo và đề cao cảnh giác là trong thời gian gần đây, cũng với chiêu trò giả mạo tên tuổi, hình ảnh, rồi chữ ký của tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp đã nghĩ hưu, các thế lực thù địch, phản động còn nhào nặn, bịa đặt, cho đăng tải, tán phát đơn thư tố cáo trên mạng internet với nội dung nói xấu, hạ thấp uy tín cán bộ cao cấp của Đảng trong Quân đội. Như đã nói ở trên, chiêu trò mạo danh để dễ bề thuyết phục, đánh lừa dư luận này của các thế lực thù địch, phản động còn nguy hại hơn cả một hành động tội ác, bởi nó không chỉ gây phương hại cho người bị mạo danh là các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, lão thành cách mạng, mà còn đồng thời gây ra sự hoang mang, nghi ngờ lẫn nhau trong nội bộ Quân đội và của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng trong Quân đội. Dư luận đặt ra nhiều câu hỏi với nội dung tập trung là tại sao gần đây các thế lực thù địch, phản động lại quay sang sử dụng chiêu trò mạo danh tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Quân đội để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Câu trả lời khái quát nhưng sâu xa, dễ hiểu nhất đó là Quân đội nhân dân Việt Nam là một “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện; được nhân nuôi dưỡng, đùm bọc, nên trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ toàn quân cũng một lòng một dạ trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Hiểu rõ điều này, trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động đã không từ bỏ bất kỳ một âm mưu, thủ đoạn nào nhằm xuyên tạc, hạ thấp vai trò, uy tín và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam là sức mạnh tổng hợp được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự nuôi dưỡng, đùm bọc của nhân dân là nhân tố quyết định. Hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chia rẽ Quân đội với nhân dân bằng cách bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất, danh dự đội ngũ cán bộ của Đảng trong Quân đội là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, xảo quyệt mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành hòng làm lu mờ bản chất, truyền thống cách mạng, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta-công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Mạo danh cán bộ cao cấp nói chung và cán bộ của Đảng trong Quân đội đã nghỉ hưu nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam là một chiêu thức mới, mang tính bỉ ổi mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang thực hiện để dễ bề đánh lừa dư luận. Nhưng chúng đã sai lầm, bởi người Việt Nam có câu “Một sự bất tín vạn sự bất tin”, trong khi mọi động thái của các đối tượng phản động chống phá cách mạng Việt Nam thời gian qua đều nhanh chóng bị phát hiện và bóc trần. Hơn thế nữa, các cán bộ cao cấp của Đảng trong Quân đội mà chúng từng mạo danh, bôi nhọ ấy đều là những vị tướng dạn dày trận mạc, những người con trung hiếu của nhân dân, sáng ngời phẩm chất cách mạng, từng bao lần “vào sinh ra tử”, cùng đồng chí đồng đội anh dũng chiến đấu hy sinh vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, luôn được cán bộ, chiến sĩ toàn quân và nhân dân cả nước hết lòng tin yêu, mến phục. Dù trong chiến tranh hay trong hòa bình, họ cũng luôn khẳng định bản lĩnh, ý chí và phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, không một phút lơ là hay mơ hồ mất cảnh giác để các thế lực thù địch, phản động có thể dễ dàng lợi dụng tên tuổi, danh dự của mình để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Là người hưởng thụ thông tin, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước sự nhiễu loạn thông tin bởi chiêu trò mạo danh để chống phá cách mạng mà các thế lực thù địch, phản động đang thực hiện trên không gian mạng hiện nay. 

88 năm Đảng cộng sản Việt Nam – những thành tựu đáng tự hào

Cách đây 88 năm, ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

Bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam

Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam khi đó (là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã họp Hội nghị hợp nhất thành một Đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với sự kiện lịch sử trọng đại này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức được thành lập. Từ đây cách mạng nước ta có đường lối đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự trở thành người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đây là sự phát triển tất yếu của lịch sử, là kết quả của sự phát triển phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam.

88 năm qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã lập nên những kỳ tích to lớn. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kéo dài 9 năm đã kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Thực dân Pháp rút, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp trực tiếp xâm lược nước ta.

Đảng ta đã lãnh đạo đất nước thực hiện hai chiến lược cách mạng: xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng, thu giang sơn về một mối.

Công cuộc đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Ðại hội VI đến nay là một công trình sáng tạo lớn. Trải qua hơn 30 năm phấn đấu bền bỉ, phải vượt qua biết bao khó khăn thử thách, công cuộc đổi mới đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Bộ mặt đất nước có sự thay đổi cơ bản và toàn diện.

Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991 - 1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; giai đoạn 1996 - 2000, mặc dù chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997 - 1999), GDP vẫn duy trì bình quân tăng 7,6%/ năm; giai đoạn 2001 - 2005, GDP tăng bình quân 7,34%; giai đoạn 2006 - 2010, GDP đạt 7%/năm.

Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011 - 2015 của Việt Nam đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới. Năm 2016, GDP tăng 6,21%.

Hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Ðời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế mới và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 88 năm qua đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang.

Và cũng chính trong quá trình đó, Đảng ta đã tích luỹ và đúc rút được nhiều bài học quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang mà hôm nay chúng ta có trách nhiệm phải ra sức giữ gìn và phát huy.

Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đó là truyền thống giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối; nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tham khảo kinh nghiệm của quốc tế để đề ra đường lối đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ cách mạng.

Đó là truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu.

Là truyền thống đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương yêu đồng chí.

Là truyền thống đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng dựa trên những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta hình thành và thực hiện thành công đường lối đối ngoại đúng đắn qua các thời kỳ, phát huy đến đỉnh cao sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa cách mạng Việt Nam liên tục phát triển.

Nhìn lại chặng đường đấu tranh oanh liệt của Đảng ta trong 88 năm qua, chúng ta càng trân trọng quá khứ, nâng niu giữ gìn những thành quả của cách mạng, càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu; càng thấu hiểu, tin yêu và tự hào thêm về dân tộc ta - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Suốt chiều dài lịch sử 88 năm qua, Đảng đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Trong thời kỳ mới, thời kỳ của hội nhập mạnh mẽ, nhân dân tin tưởng, Đảng sẽ tiếp tục vững vàng lãnh đạo đất nước thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.


NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...