Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”

Từ ngày đầu cuộc đàm phán đến tháng 9/1972, lập trường của Việt Nam luôn nhấn mạnh hai nội dung cơ bản, được coi là giải pháp “cả gói”: Mỹ phải rút quân hoàn toàn vô điều kiện ra khỏi miền Nam Việt Nam và phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, hai vấn đề này phải gắn chặt với nhau. Dự thảo Hiệp định lúc này, ta chủ động nhấn mạnh việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.

Để vượt qua cuộc tranh cử tổng thống vào tháng 11 năm 1972, Ních - xơn đã dùng thủ đoạn lùi bước trên bàn đàm phán và xuống thang chiến tranh để xoa dịu dư luận Mĩ. Đầu tháng 10/1972, phái đoàn đàm phán của Mĩ đã đến Paris để nối lại đàm phán. Các bên đã thỏa thuận ngày sẽ kí kết chính thức vào ngày 31/10/1972.

Ngay sau khi tái đắc cử tổng thống (08/11/1972), Ních-xơn đã trở mặt, chúng đòi xét lại bản Hiệp định đã được thỏa thuận, theo hướng có lợi cho chúng.

Để gây sức ép buộc ta phải nhượng bộ, Ních-xơn đã phê duyệt kế hoạch tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng vào cuối năm 1972.

Chúng bị quân dân ta đánh bại bằng một trận “Điện Biên Phủ trên không” và buộc phải trở lại bàn đàm phán.

Ngày 23/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được kí tắt; và ngày 27/01/1973 bản hiệp định được chính thức kí kết.

Ngày 02/3/1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam (gồm 12 nước) đã kí định ước ghi nhận và đảm bảo việc thi hành Hiệp định Paris.

Hiệp định Paris được thể hiện một số nội dung cơ bản như:      

Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.  

Hai bên ngừng bắn ở miền Nam vào lúc 24h00 ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.

Hoa Kỳ phải rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu về nước, hủy bỏ hết các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu hay can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.         

Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Các bên thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt. 

Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, thiết lập quan hệ bình thường cùng có lợi với Việt Nam.

Hiệp định Paris Là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của quân và dân ta trên cả hai miền đất nước. Buộc Mĩ phải thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta. Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên đánh sụp ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam trải qua bao khó khăn thử thách mà Đảng và nhân nhân ta đã đoàn kết, đồng lòng vượt qua trong đó Hiệp định Paris lịch sử, chúng ta vô cùng xúc động và biết ơn vô hạn khi nghĩ đến đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế lúc bấy giờ đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta. Chúng ta thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Vinh dự đó đối với chúng ta thật quá to lớn./.

Khoa học và nghệ thuật trong hiệp định Pari

Trải qua gần 5 năm kiên trì, bền bỉ đấu tranh tại Hội nghị Pari "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam" đã được ký chính thức giữa các bộ trưởng ngoại giao của bốn bên tham gia Hội nghị Pari ngày 27-1-1973. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28-1-1973, với đầy đủ các nội dung yêu cầu cơ bản do phía ta nêu ra.

Trong đàm phán tại Hội nghị Pari, ta ngày càng thấy rõ đấu tranh ngoại giao là một khoa học và một nghệ thuật. Khoa học nghệ thuật đòi hỏi chúng ta phải nắm vững so sánh lực lượng ở chiến trường, phải nắm vững địch, phải biết rõ chiến lược, sách lược và âm mưu thủ đoạn của đối phương, phải nắm vững thời cơ để tiến công địch, phải có sách lược mềm dẻo linh hoạt và đúng đắn.

Khoa học và nghệ thuật đàm phán đòi hỏi chúng ta phải biết giành thắng lợi từng phần và đưa ra những vấn đề cần đàm phán đúng lúc, không sớm quá hoặc không muộn quá. Trong đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Pari, tên đế quốc đầu sỏ của phe đế quốc chủ nghĩa, ta không thể bắt đối phương chấp nhận mọi điều kiện của ta mà ta cũng phải nhân nhượng đúng mức.

Trong quá trình đàm phán tại hội nghị Pari, Đảng chỉ đạo kết hợp chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao. Đấu tranh ngoại giao luôn dựa trên cơ sở kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị.

Gần 5 năm đàm phán tại Hội nghị Pari là quá trình phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đoàn đàm phán với Đảng và Chính phủ ở trong nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Trung ương Cục miền Nam và nhiều cơ quan khác. Vì vậy, đấu tranh ngoại giao phát triển nhanh chóng và đạt kết quả cao.

Trong đấu tranh trực diện với Mỹ trên bàn hội nghị, ta luôn giữ vững độc lập, tự chủ quyết định mọi vấn đề trong đàm phán. Mặt khác trong đàm phán ta tích cực tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, của bạn bè trên thế giới. Nhưng ta tự quyết định nội dung đàm phán, hình thức đàm phán, bước đi của đàm phán.  Trong quá trình đàm phán ta cố gắng hạn chế ý đồ của đế quốc Mỹ lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung nhằm cô lập ta.

Quá trình đàm phán tại Hội nghị Pari, Đảng chỉ đạo chủ động kết hợp nhiều hình thức đấu tranh phong phú như: đấu tranh trong các phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kleber trong đó có 28 phiên họp giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ, ta đấu tranh đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom không điều kiện Bắc Việt Nam , 174 phiên họp của Hội nghị bốn bên. Đấu tranh trong các cuộc gặp riêng, từ các cuộc gặp riêng cấp thấp, dần tiến lên các cuộc gặp riêng cấp cao, trong đó có 21 cuộc gặp riêng trong giai đoạn đòi chấm dứt ném bon miền Bắc Việt Nam, 24 cuộc gặp riêng cấp cao trong giai đoạn Hội nghị bốn bên. Thực hiện đấu tranh trong các cuộc họp báo và trả lời phỏng vấn các nhà báo. Đấu tranh bằng cách vận động tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức, các đoàn thể và các cá nhân thuộc những khuynh huớng chính trị, tôn giáo, đảng phái khác nhau ở Mỹ và các nước phương Tây, ở các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác.

Trong các hình thức đấu tranh tại Hội nghị Pari, đấu tranh trong các cuộc gặp riêng là quan trọng nhất, trong các cuộc gặp riêng ta và Mỹ tìm hiểu lập trường, quan điểm của nhau đối với việc giải quyết chiến tranh, chính trong các cuộc gặp riêng này là nơi hai bên nhân nhượng và thoả thuận với nhau.


Từ kinh nghiệm đấu tranh ngoại giao trong lịch sử vận dụng vào chỉ đạo thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là: muốn thực hiện chiến lược ngoại giao thắng lợi, hoạt động ngoại giao có hiệu quả trước hết phải không ngừng củng cố kiện toàn hệ thống chính trị bảo đảm giữ vững sự ổn định về chính trị. Ra sức phát triển kinh tế - xã hội để không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Củng cố tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là cơ sở chắc chắn nhất, đảm bảo nhất để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở giành chiến thắng. Mặt khác trong ngoại giao luôn giữ vững lập trường giai cấp công nhân, độc lập, tự chủ và giữ vững nguyên tắc chiến lược thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhưng cũng hết sức khéo léo linh hoạt trong thực hiện ngoại giao trên các lĩnh vực với từng đối tác cụ thể để phát huy tối đa nội lực kết hợp với ngoại lực tạo sức mạnh tổng hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiệp định Paris - Dấu mốc vĩ đại của lịch sử

Cách đây hơn 40 năm, ngày 27/1/1973 tại Pari, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pari về Việt Nam, đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Văn kiện pháp lý quốc tế này là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go nhất, lâu dài nhất, trong lịch sử hơn 50 năm của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc Mỹ phải ký Hiệp định Pari là một thắng lợi cực kỳ to lớn, tạo ra cục diện có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Cuộc đàm phán Pari kéo dài 5 năm, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973. Giai đoạn đàm phán dưới thời Tổng thống Johnson diễn ra từ 15/3/1968 đến 31/10/1968. Kết thúc giai đoạn này Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom và chấp nhận để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia Hội nghị Pari.

Tháng 1/1969, Nixon nhậm chức Tổng thống Mỹ. Đến ngày 18/1/1969, hội nghị 4 bên họp phiên đầu tiên dưới hình thức bàn tròn, đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN xếp ngang hàng với các đoàn đại biểu khác. Trên bàn đàm phán, cuộc đấu trí diễn ra quyết liệt giữa các bên đàm phán, đặc biệt là giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger.

Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo Hiệp định với những điều khoản yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo.

Ngày 12/12/1972 cuộc đàm phán phải tạm dừng. Đêm 18/12/1972, tổng thống Nixon ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là “Trận Điện Biên Phủ trên không” kết thúc bằng việc 38 “pháo đài bay B52” và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ nổ tung ngay trên bầu trời Hà Nội. Đây là đòn quyết định nhất buộc Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cho phía Mỹ gặp đoàn đại biểu Việt Nam tại Pari để ký hiệp định chấm dứt chiến tranh.

Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 27/1/1973 đã diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định tại Pari, buộc Mỹ phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam, đồng thời làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ. Hiệp định Pari còn là bằng chứng tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Khác hẳn với lịch sử ngoại giao trên thế giới như các Hội nghị Teheran, Yanta, Posdam, thành công của cuộc đàm phán đưa tới Hiệp định Pari gắn liền với phong trào của nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam. Việt Nam đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ chí tình của Đảng Cộng sản Pháp, nhân dân Pháp và phong trào cánh tả, phong trào không liên kết, nhân dân các nước tư bản, nhân dân Mỹ và phong trào phản chiến của binh lính Mỹ.

Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.


Kỷ niệm ngày ký Hiệp định Pari là dịp để tổng kết những bài học rút từ Hội nghị Pari. Những bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vẫn còn nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với các quốc gia trong một thế giới đầy biến động./.

Hiệp định Pa-ri - trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam

Kỷ niệm ngày ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973 – 27-1-2019) - một sự kiện trọng đại trong lịch sử đấu tranh, giải phóng dân tộc; một mốc son trong trang sử hào hùng của nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Cuộc chiến đấu trường kỳ gian khổ của quân và dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pa-ri đều nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Là kết quả của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lâu dài và vô cùng gian khổ, đầy hy sinh, thử thách của nhân dân ta, tiến hành trên ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; là kết quả của đường lối độc lập tự chủ cùng với sự tranh thủ đoàn kết quốc tế rộng rãi. 

Ký kết hiệp định Pa-ri, Mỹ phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ lính Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam. Hiệp định Pa-ri mở ra cục diện mới với thế mạnh áp đảo của chúng ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc để quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 

Hiệp định Pa-ri được ký kết cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành, ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong lúc cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường, cũng như trên bàn đàm phán tại Pa-ri; là minh chứng hùng hồn cho chân lý “Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Pa-ri đã đi vào lịch sử của sự nghiệp đấu tranh chung, của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do vì hòa bình và công lý. 

Hiệp định Pa-ri là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Trong đấu tranh luôn luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc trong từng bước đi cụ thể, biết mềm dẻo và linh hoạt - tất cả là nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân ta vẫn ở tại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được bảo đảm,Việt Nam là của người Việt Nam.

Những bài học kinh nghiệm quý giá của những năm tháng đầy cam go, thử thách của đàm phán Hiệp định Pa-ri, như: ý chí kiên định, niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc; bản lĩnh kiên cường và nghệ thuật ngoại giao được đúc kết từ truyền thống ngoại giao hàng nghìn năm của dân tộc với tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp để làm nên chiến tháng.


Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc, nhân dân, thế hệ trẻ ngày nay nguyện tiếp nối truyền thống các thế hệ cha anh, không ngừng rèn luyện, phấn đấu về mọi mặt, phát huy nhiệt huyết, sáng tạo của tuổi trẻ và tinh thần xung kích “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris về Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hiệp định Paris về Việt Nam hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris với nguyên tắc bất biến là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa. Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam đã trở thành trung tâm chú ý của dư luận thế giới vì cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là tâm điểm của những mâu thuẫn cơ bản của thời đại lúc bấy giờ. Việc ký kết Hiệp định là sự tháo nút cho cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài nhất trên thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai... Đàm phán Paris được đánh giá là cuộc đấu trí căng thẳng giữa 2 nền ngoại giao. Đó là nền ngoại giao trên thế mạnh của Mỹ và nền ngoại giao nhân văn của Việt Nam


Kết quả của Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam - một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong nước Mỹ.

Nội dung Hiệp định Pa-ri năm 1973 và ý nghĩa lịch sử về quân sự và chính trị của Việt Nam

Từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam, thế chân thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Việt Nam một lần nữa trải qua cuộc chiến tranh trường kỳ, bền bỉ chống Mỹ để đi tới việc ký kết Hiệp định Pari, ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Năm 1968, sau hàng loạt những thất bại nặng nề của chiến lược "chiến tranh cục bộ" và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức diễn ra ở Pari. Phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Xuân Thuỷ đứng đầu, đã khẳng định lập trường không thay đổi của Việt Nam là trước tiên Mỹ phải chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom bắn phá và mọi hoạt động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, sau đó mới bàn các vấn đề có liên quan của hai bên. Phái đoàn Mỹ do Hariman đứng đầu.

Hội nghị hai bên ở Pari sau nhiều phiên họp trong năm 1968 vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản, nhưng đã mở đầu cho một thời kỳ Việt Nam tiến công trực diện Mỹ về ngoại giao trên bàn hội nghị. Trong quá trình đấu tranh đó, phái đoàn Việt Nam luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam, hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ; đòi Mỹ rút quân và chư hầu ra khỏi Việt Nam; chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam; từ bỏ ngụy quân Sài Gòn; đáp ứng lập trường của Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trước quan điểm đúng đắn, thái độ kiên quyết của phái đoàn Việt Nam,cùng vớinhững thất bại nặng nề trên chiến trường và tình hình nước Mỹ trước ngày bầu cử Tổng thống, ngày 1/11/1968, Giôn- xơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Sau sự kiện này, cuộc đấu tranh giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất tổ chứcHội nghị Bốn bên bao gồm: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam), Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà (chính quyền Sài Gòn).

Tháng 1 năm 1969, Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên tại Pari. Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - nguỵ bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày22-10-1972phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Đêm18-12-1972, tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên Phủ trên không" kết thúc bằng việc 38 pháo đài bay B52 và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi ngay trên bầu trời Hà Nội. Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pari. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận.

Cuối cùng, ngày 22 - 1 - 1973 tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Clêbe,đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pari) Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kit-xinh-giơ ký tắt. Ngày27-1-1973Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở ViệtNamđã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên.

Hiệp định nêu rõ: Hoa Kỳ và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam ViệtNam. Rút hết quân đội của Mỹ và của các nước khác, cố vấn và nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự.

Tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam ViệtNam. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ.

Ngày29-3-1973, Bộ Chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Đơn vị cuối cùng của quânđộiviễn chinh Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát của sĩ quan Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong Uỷ ban Liên hợp quân sự bốn bên.

Trong thời gian khoảng 5 năm, Hiệp định Pari đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trong các phiên họp chung công khai cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía Việt Nam không bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi rút hết quân Mỹ và quân 5 nước thân Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ, trước sau vẫn nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân đội miền Bắc có tại miền Nam) “cùng rút quân”.


Hiệp định Pari về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pari là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.

Hiệp định Paris 1973 - Kết quả của cuộc đấu tranh chính nghĩa

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13/5/1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam chính thức được ký kết. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân và nền ngoại giao Việt Nam. Hiệp định Paris 1973 là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý "đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Hiệp định Paris 1973 được ký kết sau hơn 4 năm 8 tháng đàm phán. Đại diện 4 bên đặt bút ký vào Hiệp định là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, đại diện Việt Nam Dân chủ cộng hoà,  đại diện Việt Nam cộng hoà và chính phủ hợp chủng quốc Hoa Kỳ.  

Việc ký hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam ở thế kỷ 20, đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược. Các cuộc chiến trên chiến trường và trên bàn đàm phán đều nhằm mục tiêu buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Ký hiệp định Paris, Mỹ đã phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam. Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được chiến lược đánh cho Mỹ cút, mở ra cục diện mới, tạo tiền đề vững chắc để quân và dân Việt Nam tiến lên đánh cho ngụy nhào với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. 

Thắng lợi này trước hết bắt nguồn từ cuộc kháng chiến vĩ đại của quân và dân Việt  Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự lãnh đạo sáng suốt của  Đảng đã vạch ra đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Ngoài ra, Việt Nam đã chủ động thúc đẩy hình thành được mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.  Việc ký kết Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương. Nguỵ mất chỗ dựa về quân sự và bị suy yếu. Hiệp định đã mở ra giai đoạn mới, tạo điều kiện cho việc hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.


Hội nghị Paris và Hiệp định Paris 1973 để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Các bài học của Hiệp định Paris được xem là hành trang quý giá để Việt Nam vững chắc  tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố thế và lực của đất nước.  Hơn 40 năm đã trôi qua nhưng những giá trị mà Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đem lại luôn trường tồn trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam./.

D 236 - Thực chất âm mưu của Trần Quang Thành là gì?

Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Bởi vậy, việc nắm chắc những thủ đoạn đó để có đối sách xử lý đúng đắn, kịp thời và hiệu quả là vấn đề hệ trọng, cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Với mục tiêu nhất quán chống phá cách mạng Việt Nam đến cùng, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc, nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế và Việt Nam, họ đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và càng nguy hiểm hơn.

Thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam. Họ giảm tối đa và không đi sâu vào các vấn đề, lĩnh vực tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam, nhưng thông qua mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị.

Sự chuyển hướng này nhằm thực hiện kịch bản “dân chủ” ở nước ta; tác động vào chính sách ngoại giao của Việt Nam theo ý đồ của họ. Thông qua ngoại giao để tiếp cận hỗ trợ những phần tử “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây; tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam, cản trở các đối tác đang và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam. Đồng thời, tìm mọi cách làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động mâu thuẫn quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.


Biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

D 236 - Tỉnh táo trước âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch

Nhân loại đang sống trong những năm cuối thập niên thứ hai, thế kỷ 21, trong thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khác với quá trình toàn cầu hóa trước đây, toàn cầu hóa ngày nay dựa trên cuộc cách mạng khoa học hiện đại, đặc biệt là có vai trò của công nghệ thông tin.

Ngày nay, với sự phát triển của internet, mạng xã hội, con người có thể tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Qua các công cụ lưu trữ, tìm kiếm dữ liệu, như: Google, Yahoo, mạng xã hội lớn như facebook, YouTube… con người có thể tiếp cận thông tin hoàn toàn chủ động, có lựa chọn… Điều này làm cho thế giới ngày càng “thu nhỏ” và trở thành “thế giới phẳng”. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, nhà nước dân tộc vẫn không mất đi mà còn được khẳng định, duy trì sự tồn tại của mình một cách vững chắc hơn.

Trong thời đại ngày nay, các giá trị dân chủ và quyền con người được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc thông qua cơ chế gia nhập, ký kết các công ước của Liên hợp quốc. Thế nhưng một số kẻ kỳ thị với chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vẫn cố tình lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Gần đây, nhất là từ khi Quốc hội Việt Nam xem xét, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và thảo luận, thông qua Luật An ninh mạng... trước đó là những vụ án xét xử một số kẻ lợi dụng tự do báo chí, internet… vi phạm pháp luật, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tuyên truyền rằng Việt Nam vi phạm dân chủ và quyền con người. “Chứng cứ” mà họ đưa ra thường là “pháp luật Việt Nam lạc hậu”, nhiều điều luật của Việt Nam vi phạm chuẩn mực quyền con người.

Không gian mạng là “lõi” của thế giới kết nối. Thế giới kết nối làm con người gần nhau hơn, hưởng lợi và chấp nhận thách thức nhiều hơn. Tận dụng tốt mọi cơ hội, thế giới kết nối sẽ mang lại sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội cũng như nên hòa bình trên phạm vi toàn cầu; ngược lại, nếu không giải quyết tốt các thách thức sẽ dẫn đến thảm họa khó lường. Nhận định đó là rất đúng và trúng với những gì đang diễn ra trên mạng xã hội. Đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên mạng xã hội tiếp tục là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức.


Theo đó, chúng ta cần có biện pháp tuyên truyền, giáo dục cho mọi  tầng lớp nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, đề cao cảnh giác, tuyệt đối không được truy cập những trang mạng, blog… các diễn đàn có nội dung phản động, độc hại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng. Thường xuyên theo dõi, kịp thời có những bài viết, bình luận, chia sẻ có nội dung, tính đấu tranh, tuyên truyền tốt để phản bác làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch; chủ động phối hợp các cơ quan chức năng triển khai các biện pháp ngăn chặn, bóc gỡ những thông tin nhạy cảm, phức tạp liên quan đến hoạt động quân sự, quốc phòng.

D 236 - Không thể chấp nhận được sự xuyên tạc trắng trợn

Vừa qua, trên mạng xã hội có bài: “Vì một Việt Nam đổi thay” của bút danh Phạm Chí Dũng. Nội dung bài viết cho thấy, Phạm Chí Dũng là một trong những kẻ cơ hội, biến chất, cố tình xuyên tạc, bịa đặt vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thủ đoạn của y không có gì mới, đó là bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận thành quả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành có hiệu quả của Nhà nước, Chính phủ nhằm kích động dân chúng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Mở đầu bài viết, Phạm Chí Dũng đưa ra luận điệu bịa đặt: “Đất nước đang rất nguy kịch,…”. Y cho rằng, “Đảng ta đang đưa đất nước lún sâu vào lệ thuộc nước ngoài; đang bị nước ngoài thao túng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và đặc biệt là vấn đề an ninh, chủ quyền,…”. Thực tế, ở Việt Nam hiện nay không có nguy kịch nào như Phạm Chí Dũngxuyên tạc, bịa đặt cả.

 Sự thật là, trong Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội năm 2018 của nước ta đã chỉ rõ: “Mặc dù còn những hạn chế, khó khăn và trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động, chúng ta đã kiểm soát tốt lạm phát, ổn định vĩ mô, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung chỉ đạo phát triển các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực mới nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng đạt cao hơn giai đoạn 2010 – 2015, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, bền vững hơn; quy mô nền kinh tế tăng mạnh. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí đạt nhiều kết quả quan trọng. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên”.

Bộ Kế hoạch Đầu tư cũng chỉ rõ: “Một trong những thành tựu nổi bật của kinh tế – xã hội năm 2018 chính là kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, tạo nền tảng quan trọng để thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực. Trong đó, tăng trưởng kinh tế theo xu hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao, ước tính đạt 6,7%, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, mô hình tăng trưởng chuyển dần sang chiều sâu. Bên cạnh đó, chỉ số lạm phát được kiểm soát, liên tiếp trong 3 năm 2016-2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân duy trì ở mức dưới 4%; thị trường tài chính duy trì tăng trưởng ổn định, tăng trưởng tín dụng ở mức 17%, đáp ứng đủ yêu cầu vốn cho nền kinh tế, nhất là lĩnh vực sản xuất – kinh doanh. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính đạt 1,89 triệu tỉ đồng, tăng 13,3%, bằng 34% GDP, đạt ở mức cao mục tiêu Quốc hội giao (33-34%) và mục tiêu 5 năm (32-34%). Cơ cấu đầu tư dịch chuyển theo hướng tích cực, đầu tư của khu vực tư nhân chiếm tỉ trọng ngày càng cao. Giải ngân vốn FDI đạt khá. Xuất nhập khẩu tiếp tục đà tăng trưởng… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào việc duy trì ổn định, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.


Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội năm 2018 được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, được mọi người dân kiểm chứng trong đời sống thực tế. Do vậy, những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của Phạm Chí Dũng đã không lừa dối được ai mà còn bị nhân dân Việt Nam và cộng đồng mạng khinh rẻ, phí báng.

D 236 - Luật an ninh mạng là thật sự cần thiết

Mạng xã hội đang phát triển như một xu thế tất yếu do nhu cầu tìm kiếm thông tin, thiết lập, duy trì các mối quan hệ cá nhân hay chia sẻ tâm tư, giải trí của người dân, đặc biệt là đối với giới trẻ. Thông tin trên mạng xã hội có nhiều mặt tích cực, tiêu cực và đặc biệt là không có sự kiểm chứng gây nên tác động xấu trong xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch, nhất là các tổ chức phản động lưu vong người Việt tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt và một trong những thủ đoạn chính mà chúng ưu tiên lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội vào hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, tập trung vào những vấn đề như: Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; truyền bá các giá trị của xã hội tư bản, lối sống thực dụng phương Tây; đưa tin sai lệch về tình hình nội bộ của việt Nam, bịa đặt việc có sự chia rẽ, mâu thuẫn trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước…

Đáng chú ý lực lượng công an nhân dân đã phát hiện dấu hiệu các thế lực thù địch và bọn tội phạm đã và đang tiến hành những chiến dịch tuyên truyền chống phá với trọng tâm là bôi nhọ, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước có cường độ cao, biên độ rộng và trong khoảng thời gian dài.

Ngày 01/01/019 Luật An ninh mạng sẽ có hiệu lực thi hành, tuy nhiên trong thời gian vừa qua trên các trang mạng xã hội đã đăng tải các bài viết của các thế lực thù địch, phần tử chống phá với các chiêu trò kích động với nội dung kêu gọi mọi người xuống đường biểu tình phản đối Luật An ninh mạng.

 Có thể thấy rằng, không gian mạng là “lõi” của thế giới kết nối. Thế giới kết nối làm cho con người gần nhau hơn, hưởng lợi và chấp nhận thách thức nhiều hơn. Tận dụng tốt cơ hội, thế giới kết nối sẽ mang lại sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội cũng như nền hòa bình trên phạm vi toàn cầu; ngược lại, nếu không giải quyết tốt các thách thức sẽ dẫn đến thảm họa khó lường.

Đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên mạng xã hội tiếp tục là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức và cần phải hết sức tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ địch. Bởi vậy, trong thời kỳ cách mạng công nghệ phát triển, chúng ta cần khai thác tối đa ưu thế của cách mạng công nghệ, nhưng mặt khác cũng đòi hỏi phải quản lý, phòng tránh lợi dụng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng và bảo vệ quyền công dân. Đây phải là trách nhiệm chung của các cơ quan chức năng, tổ chức, cơ quan truyền thông, cộng đồng xã hội và cá nhân có liên quan. 


Tuy nhiên, trong thời gian qua lợi dụng thông tin về hiệu lực thi hành của Luật An ninh mạng, các thế lực thù địch đã đăng tải những bài viết để ngăn chặn sự xuyên tạc và ngộ nhận, làm méo mó ý nghĩa tích cực của Luật An ninh mạng, để tránh lạm dụng và giúp nhận thức, tuân thủ tốt hơn các quy định trong Luật An ninh mạng, các cơ quan chức năng cần cụ thể hóa thêm, làm rõ một số định nghĩa và mức độ chế tài, quy trình và cơ chế phối hợp xử lý những hành vi bị cấm trong sản xuất, lưu hành, tàng trữ và sử dụng thông tin trên không gian mạng. Đặc biệt, cần minh bạch và cụ thể hóa một số khái niệm, tiêu chí vi phạm mới, nhạy cảm, như: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ; thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…”.

H 236 - Cần có cái nhìn khách quan và toàn diện

Mạng xã hội đang phát triển như một xu thế tất yếu do nhu cầu tìm kiếm thông tin, thiết lập, duy trì các mối quan hệ cá nhân hay chia sẻ tâm tư, giải trí của người dân, đặc biệt là đối với giới trẻ. Thông tin trên mạng xã hội có nhiều mặt tích cực, tiêu cực và đặc biệt là không có sự kiểm chứng gây nên tác động nhiều chiều, thậm chí, còn có thể gây ra tác động xấu trong xã hội.

Xin được kể ra đây tên một số trang mạng tiêu biểu như: Mạng Tiếng Dân, Mạng Phục Việt, Mạng Khát Vọng…

Hiện nay, các thế lực thù địch, nhất là các tổ chức phản động lưu vong người Việt tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt, thâm độc. Và, một trong những thủ đoạn chính mà chúng ưu tiên lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội vào hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, tập trung vào những vấn đề như: Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; truyền bá các giá trị của xã hội tư bản, lối sống thực dụng phương Tây; đưa tin sai lệch về tình hình nội bộ của việt Nam, bịa đặt việc có sự chia rẽ, mâu thuẫn trong giới lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước… Đáng chú ý, lực lượng công an nhân dân đã phát hiện dấu hiệu các thế lực thù địch và bọn tội phạm đã và đang tiến hành những chiến dịch tuyên truyền chống phá với trọng tâm là bôi nhọ, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước có cường độ cao, biên độ rộng và trong khoảng thời gian dài.

Ngày 01 tháng 01 năm 2019 tới đây, “Luật An ninh mạng” sẽ có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, trên các trang mạng xã hội đã đăng tải các bài viết của các thế lực thù địch, các phần tử chống phá với các chiêu trò kích động đồng bào, nhân dân; với nội dung kêu gọi mọi người xuống đường biểu tình phản đối “Luật An ninh mạng”.

Có thể thấy rằng, không gian mạng là “lõi” của thế giới kết nối. Thế giới kết nối làm cho con người gần nhau hơn, hưởng lợi và chấp nhận thách thức nhiều hơn. Tận dụng tốt cơ hội, thế giới kết nối sẽ mang lại sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội cũng như nền hòa bình trên phạm vi toàn cầu; ngược lại, nếu không giải quyết tốt các thách thức sẽ dẫn đến thảm họa khó lường.

Đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên mạng xã hội tiếp tục là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức và cần phải hết sức tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ địch. Bởi vậy, trong thời kỳ cách mạng công nghệ phát triển, chúng ta cần khai thác tối đa ưu thế của cách mạng công nghệ. Đồng thời, cũng đòi hỏi phải quản lý, phòng tránh lợi dụng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng và bảo vệ quyền công dân. Đây phải là trách nhiệm chung của các cơ quan chức năng, tổ chức, cơ quan truyền thông, cộng đồng xã hội và cá nhân có liên quan. 

Tuy nhiên, trong thời gian qua lợi dụng thông tin về hiệu lực thi hành của “Luật An ninh mạng”, các thế lực thù địch đã đăng tải những bài viết để ngăn chặn sự xuyên tạc và ngộ nhận, làm méo mó ý nghĩa tích cực của “Luật An ninh mạng”. Để tránh lạm dụng và giúp nhận thức, tuân thủ tốt hơn các quy định trong “Luật An ninh mạng”, các cơ quan chức năng cần cụ thể hóa thêm, làm rõ một số định nghĩa và mức độ chế tài, quy trình và cơ chế phối hợp xử lý những hành vi bị cấm trong sản xuất, lưu hành, tàng trữ và sử dụng thông tin trên không gian mạng.


Đặc biệt, cần minh bạch và cụ thể hóa một số khái niệm, tiêu chí vi phạm mới, nhạy cảm, như: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ; thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…”./.

H 236 - Bản chất của kẻ xảo ngôn

Số liệu mới nhất của Cục An ninh mạng(Bộ Công an), chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm nay, đã phát hiện 2.769 trang/cổng thông tin điện tử tên miền quốc gia, trong đó có 35 trang/cổng thông tin điện tử thuộc quản lý của các cơ quan Đảng, Nhà nước bị tấn công, thay đổi giao diện, chiếm quyền điều khiển, chỉnh sửa nội dung.
Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng trên không gian mạng đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để phát tán thông tin kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn, khủng bố, lật đổ chính quyền nhân dân, xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia.Tình trạng đăng tải thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xúc phạm tôn giáo; làn truyền thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân… diễn ra tràn lan; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm hại nghiêm trọng. Hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm trật tự an toàn xã hội ngày càng gia tăng và phức tạp như: đánh bạc, lừa đảo, đánh cắp tài khoản ngân hang, rửa tiền, mại dâm, ma tuý…

Việc ban hành Luật An ninh mạng sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng, giúp lực lượng chuyên trách xử lý những nguy cơ, thách thức từ không gian mạng kịp thời, hiệu quả.

Vậy mà, Lê Anh trên trang facebook của Việt Tân ngày 15/12/2018 đã ra sức kêu gọi mọi người“Hãy cùng nhau phản đối! Ngày 1/1/2019 CSVN sẽ bắt đầu áp dụng Luật An ninh mạng”. Với những lời lẽ kích động, kêu gọi xuống đường biểu tình như: “Áp dụng luật an ninh mạng là cho hệ thống công an có quyền tiếp tục lạm dụng để ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền biểu đạt của người dân là tạo cơ hội và điều kiện hợp thức hóa để công an tiếp tục bắt bớ những người yêu nước, yêu môi trường, lên tiếng chống bất công…” và rồi “hắn” lại đặt ra câu hỏi “Các bạn có bao giờ nghĩ. Một ngày nào đó bạn sẽ trở thành nạn nhân của luật an ninh mạng?”


Đây là những lời lẽ xuyên tạc, phản động phải hiểu rằng, Luật An ninh mạng có hiệu lực nhằm: Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật./.

D 235 - “Dân làm chủ” trong điều kiện cách mạng mới

Ngày 11/12/2018, đối tượng Nguyễn Văn Đại đăng tải bài “Sự cam chịu nhọc nhằn của người dân nước Việt” với nội dung thể hiện sự nhận thức một cách ngu muội về việc làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sự xu nịnh ôm chân các thế lực thù địch, bợ đỡ của kẻ thất thế.

Thực tế cho thấy, trong hơn 30 năm đổi mới, thực tiễn xây dựng và phát huy nền dân chủ đã có những bước tiến quan trọng. Đại hội XII của Đảng khẳng định: "Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ"1; "Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng".

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa. Ý thức dân chủ của công dân và của xã hội, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên. Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế có bước phát triển quan trọng, là cơ sở cho phát triển, dân chủ trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh, hình thức phân phối, bình đẳng trước pháp luật, hoạt động theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, đã tạo nên điều kiện nền tảng cho việc thực hành và phát huy dân chủ.

Dân chủ trong lĩnh vực chính tri xã hội có những bước tiến mới. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức nhà nước, đoàn thể và xã hội, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử được mở rộng và có những bước tiến mới. Bộ Chính trị đã ra quyết định về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội" và "Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền".


Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa của Đảng và nhân dân ta đang thu được những thành công rực rỡ, vị thế của Việt Nam trên các sân chơi chính trị chưa bao giờ lớn đến vậy, và tiếp tục còn lớn hơn. Có được như vậy, ngoài sự lãnh đọa của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì những đóng góp của nhân dân mang ý nghĩa quyết định. Vậy sao gọi là “Sự cam chịu nhọc nhằn của người dân nước Việt”. Đúng là sự ngu muội và ấu trĩ.

H 235 - Thành tựu nhân quyền của Việt Nam là không thể phủ nhận

Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy thực hiện nhân quyền là trách nhiệm của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Bản Hiến pháp năm 2013 là minh chứng mới nhất về việc Việt Nam khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về Quyền Dân sự, Chính trị; Công ước về quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về Quyền Trẻ em; Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt các tội ác Apartheid; Công ước về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại; Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em;…chú trọng tăng cường cơ chế đối thoại và hợp tác về vấn đề quyền con người hằng năm với nhiều nước, trong đó có Mỹ, EU, Australia, Na Uy, Thụy Sĩ.

Những thành tựu về bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân Việt Nam được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Đặc biệt, Nhà nước Việt Nam chủ trương mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; nhân dân là người quyết định mọi công việc của Nhà nước. Quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội là một trong những nhóm quyền quan trọng nhất của công dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam còn đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước.


Mặc dù trong thế giới đương đại còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề nhân quyền song những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong công cuộc Đổi mới là bằng chứng không thể phủ nhận về nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo đảm thực thi quyền con người.

H235 - Trương Duy Nhất - Kẻ đánh tráo khái niệm

Mới đây, trên trang blog của đài RFA, Trương Duy Nhất – cái tên vừa nghe ai cũng biết là một kẻ lưu manh giả danh trí thức, chuyên bán chữ cho đám phản động để kiếm cơm qua ngày, đồng nghĩa với chức danh là kẻ ăn mày số 1 trong đám ăn mày giả nhân giả nghĩa, bán rẻ lương tâm cho bọn luôn đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc đã đăng đàn cái gọi là “Top ten hình ảnh ấn tượng Việt Nam 2018” với một loạt các hình ảnh mà hắn cho rằng một nửa trong số đó là ấn tượng cộng và nửa còn lại là ấn tượng trừ với mục đích thông qua một số hình ảnh vừa có thật vừa cắt ghép, vừa tô hồng vừa bóp méo để đả kích nhiệm vụ chống tham nhũng của Đảng, tung hô các phần tử bất mãn dám đấu tranh tự do cho Việt Nam...


Tuy nhiên với tựa đề “ấn tượng hình ảnh Việt Nam 2018” thì đã bộc lộ bản chất của kẻ lưu manh, phản động, mù mờ về khái niệm. Bởi ấn tượng là trạng thái của ý thức ở giai đoạn cảm tính xen lẫn cảm xúc do tác động của thế giới bên ngoài gây ra, đó là những hình ảnh tốt đẹp để lại ấn tượng sâu sắc trong xúc cảm của con người. Như vậy, không thể có ấn tượng cộng và ấn tượng trừ ở đây được. Mặt khác, đã là hình ảnh ấn tượng của một năm của một quốc gia thì phải được nhìn nhận một cách khach quan, toàn diện của số đông về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội chứ không thể mang dấu ấn của một cá nhân riêng biệt, hơn nữa cá nhân đó không tốt đẹp về nhân cách. Do đó, có thể khẳng định rằng đã mù mờ về khái niệm tất dẫn tới đánh tráo, ngụy biện và đánh đồng bản chất để phục vụ cho mục đích cá nhân đen tối. Vì vậy khi đọc bài viết của Nhất cần hiểu rõ bản chất chống phá Nhà nước của Y, vạch mặt, làm rõ âm mưu phẩn động của Nhất.

Nguyễn Tường Thụy - Sự so sánh không khác gì người mù

Nguyễn Tường Thụy vừa bôi tro trát trấu vào mặt các nhà “dân chủ” hay nói đúng hơn là xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của các nhà “dân chủ” khi đưa các nhà “dân chủ” ra so sánh với lũ súc vật như trâu, bò, lợn…

Trong bài viết trên trang mạng của đài RFA mới đây có tựa đề “Súc quyền và nhân quyền”, Nguyễn Tường Thụy đưa các nhà “dân chủ” ra so sánh với súc vật để đưa đến kết luận: đến súc vật còn có súc quyền còn các nhà “dân chủ” thì không có “nhân quyền”.

Lấy cốt chính là chuyện Luật chăn nuôi vừa được quốc hội thông qua ngày 19/11/2018 với nhiều tình tiết quy định người chăn nuôi phải đối xử nhân đạo với vật nuôi như không được phép đánh đập hành hạ vật nuôi, vật nuôi phải ở trong chuồng trại hợp vệ sinh, có đầy đủ thức ăn nước uống, được phòng bệnh và chữa bệnh, hạn chế gây đau đớn, không để vật nuôi bị sốc về tâm lý (không để vật nuôi chứng kiến đồng loại bị giết mổ)...., Nguyễn Tường Thụy đưa ra phép so sánh với các nhà “dân chủ” như Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Phương Uyên, Lê Quốc Quyết, Dương Thị Tân, Trương Văn Dũng… để kết luận nhân quyền không bằng súc quyền.


Ý đồ của Nguyễn Tường Thụy đưa ra phép so sánh như thế để xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đọc bài viết của Thụy cảm thấy bị xúc phạm và lắc đầu ngao ngán hay ông Thụy bị “ngáo đá” nên viết bài ngớ ngẩn như thế.

D235 - Lại luận điệu xuyên tạc của đối tượng Nguyễn Văn Đại

Trên trang mạng Bauxite Việt Nam  ngày 11/12/2018 của đối tượng Nguyễn Văn Đại  đăng tải bài “Sự cam chịu nhọc nhằn của người dân nước Việt”. Đây là bài viết xuyên tạc, phản động của đối tượng hoạt động trong tổ chức Việt Tân. Mục đích thực sự của chúng là xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng, nhà nước, chế độ.

Nhìn lại quá trình lịch sử Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta càng trân trọng độc lập, tự do, hạnh phúc mà thế hệ cha ông ta đã hy sinh sương máu giành được. Chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta xây dựng đang thể hiện  rõ  tính ưu việt. Nhân dân được làm chủ xã hội, được tham gia vào việc hoạch định đường lối, làm giàu chính đáng được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân, được tự do sáng tạo và hưởng thụ đời sống vật chất và tinh thần. Ở Việt Nam hiện nay dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng công cuộc đổi mới sau hơn 30 năm đã thu được kết quả to lớn. Đời sống nhân dân ngày càng nâng lên, là điểm sáng của thế giới về xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới. Quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy rộng rãi. Bộ máy hành chính ngày càng tinh gọn, giải quyết tốt quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Nhìn sang chế độ tư bản, đó là nhà nước chỉ phục vụ cho số ít các ông chủ tài phiệt. Bên cạnh tòa nhà chọc trời là những khu phố ổ chuột, những người nghèo khổ, vô gia cư. Dân chủ tư bản là kiểu dân chủ giả tạo, không phục vụ cho số đông. Thực tiễn người dân Việt Nam không cam chịu nhọc nhằn. Ngược lại là những người cần cù, chịu khó, thông minh sáng tạo, biết vượt qua khó khăn vươn lên hòa nhập với cuộc sống. Được Đảng, nhà nước và nhân dân cả nước chung tay giúp đỡ, không có ai bị bỏ lại phía sau.


Chúng ta hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng, nhà nước của các phần tử phản động. Luôn tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương chính sách cảu Đảng, pháp luật nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả các âm mưu diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. 

H235 - Sự xuyên tạc của đối tượng Trương Duy Nhất

Trên trang mạng rfavietnam, ngày 16/12/2018, đối tượng phản động Trương Duy Nhất đăng tải bài "Top ten hình ảnh ấn tượng 2018", nội dung xuyên tạc, bôi nhọ nói xấu hình ảnh của đất nước. Cụ thể, đối tượng đã đưa ra những hình ảnh với những bình luận xuyên tạc hết sức vô căn cứ; đồng thời cổ vũ, động viên cho các thế lực thù địch nhằm chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng.

Chúng ta phải khẳng định rằng cuộc biểu tình ở Phan Thiết ngày 10/6/2018 là một hành động chống phá của các thế lực thù địch kích động nhân dân, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Hình ảnh thiếu nữ biểu tình trong ngày 10/6/2018 là một trong những con bài của chúng và bị lực lượng công an làm thất bại mưu đồ của chúng, giải tán đám đông, bắt những tên đầu xỏ đưa ra vành móng ngựa trước luật pháp của Nhà nước không như hình ảnh xuyên tạc. Hình ảnh hoa hậu hoàn vũ H'Hen Niê về làng bằng xe công nông thể hiện tinh thần gần gũi, tính chân thật, đức tính khiêm tốn, dản dị của người phụ nữ Việt Nam. Còn chiến thắng của đội tuyển Việt Nam là một điều vô cùng tuyệt vời, thể hiện niềm tự tôn, tự hào dân tộc, với những cống hiến của các cầu thủ.

Với những bình luận sai trái, đi ngược lại sự thật, chúng ta phải đấu tranh không khoan nhượng với những luận điệu xuyên tạc của đối tượng Trương Duy Nhất. Chúng ta khẳng định dối tượng đã xuyên tạc một cách trắng trợn, sai trái. Mỗi chúng ta cần phải nhận thức sâu sắc và tìm hiểu đúng sự thật đằng sau những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch. Luôn tỉnh táo trước âm mưu và hành động kẻ thù nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, không phải của riêng cá nhân nào.


Đồng thời chúng ta luôn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối lãnh đạo của Đảng trước những khó khăn, thử thách trong quá trình đổi mới của nước ta hiện nay. Luôn tin tưởng vào cán bộ chủ chốt của Đảng trong thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước. Ðó vừa là bằng chứng bác bỏ luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, vừa khẳng định vị thế, vai trò đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...