Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

NVH39 - THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Tín ngưỡng tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết.

Thường xuyên theo dõi những thông tin trên Internet bản thân nhận thấy, gần đây trên mạng xã hội đã xuất hiện không ít thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam.  Do vậy, chúng ta cần phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam hiện nay.

 

Thực tiễn đã chứng minh hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ Nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Do đó, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sinh động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo.

Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng đại, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia.

Do đó, những thông tin sai lệch đó chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất, đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Trong điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác.

Chúng ta thấy rằng quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Việc đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo.

Như vậy, thực tiễn nghiên cứu, tìm hiểu chúng ta thấy rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Hiện nay, nước Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chúng ta nhìn nhận đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam./.

NVH39 - CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG Ý NGHĨA CỦA NGÀY THƯƠNG BINH – LIỆT S

 

Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ” đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã đươc nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

Nhiều vấn đề bất hợp lý do lịch sử để lại cũng như vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế và những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, như vấn đề xác nhận liệt sỹ, thương binh; chính sách ưu đãi đối với thanh niên xung phong, những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, chế độ trợ cấp đối với một số đối tượng người có công với cách mạng được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết hiệu quả.

Việc xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công đạt được kết quả tích cực. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận khoảng 9 triệu người có công trong đó:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945: gần 9.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.

+ Liệt sỹ: gần 1.2 triệu người; thân nhân liệt sỹ gần 500.000 người.

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng: trên 117.000 người.

+ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động: gần 1.300

người.

+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người; thương binh loại B: trên 40.000 người.

+ Bệnh binh: gần 185.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 312.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.

+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: gần 4,1 triệu người.

  Hiện cả nước có trên 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Theo kết quả rà soát năm 2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong số 2.070.842 đối tượng được rà soát có 1.982.769 trường hợp (chiếm 95,75%) đã hưởng đủ chế độ; chỉ có 86.201 trường hợp, chiếm 4,16% kê khai là hưởng chưa đầy đủ; 1.872 trường hợp, chiếm 0,09% hưởng sai chính sách

          Tuy nhiên, ngày 27/7/2022, trên trang facebook Chân Trời Mới Media, đối tượng Nguyễn Thông phát tán bài “Người Chiến sĩ ấy”, trên trang bloc tiếng dân, đối tượng Nguyễn tán phát bài “Người mẹ Việt Nam và tử sĩ hai miền nam  bắc” nội dung xuyên tạc lịch sử của cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta, đồng thời yêu cầu phải “tổ chức lễ kỷ niệm cho những quân nhân  bên phía Việt Nam Cộng hòa”. Đây là những bài viết sai trái với mục đích phủ nhận sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đới với những người có công và những hy sinh to lớn của những người lính Cộng sản và cả dân tộc, mà còn đánh đồng với sự hy sinh của người lính Việt Nam Cộng hòa với người lính Cộng sản.

           Ngay trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Thực hiện chính tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”. Đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt các chủ trương, chính sách ưu đãi khác về kinh tế - xã hội đối với người có công, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho người có công và con em của họ giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thần đối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn và đến nay đã đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công cho phù hợp với tình hình của đất nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch mọi chính sách vê người có công.

NVH39 - CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, “LẬT SỬ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

         Công cuộc đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam còn lâu dài và phức tạp. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần chiêu bài của các cá nhân, tổ chức chống phá. Một trong nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch là đẩy mạnh xuyên tạc, tiến tới “tẩy não” thế hệ trẻ ở Việt Nam về sự thật cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chúng không tiếc tiền chi bạo cho những tên bồi bút với danh nghĩa “nhà nghiên cứu”, “nhân chứng lịch sử” để đẩy mạnh xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc ta,...

Để thực hiện việc “lật sử” hiệu quả mà không mấy tốn kém này, bọn chúng đã lôi kéo những người tham gia biên soạn, thẩm định các cuốn sách lịch sử và sách giáo khoa, tài trợ cho các dự án giáo dục, đào tạo,… nên thời gian qua, trên mạng xã hội tràn ngập các bài viết cố tình bôi nhọ chính nghĩa của nhân dân ta trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trắng trợn xuyên tạc cuộc kháng chiến chống xâm lược và bản chất chế độ tay sai bán nước rằng: “Việt Nam đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp - Mỹ” hay “Việt Nam Cộng hòa là một chính thể quốc gia đã tồn tại ở miền Nam Việt Nam” hay “gọi ngụy quyền Sài Gòn là miệt thị”,...


Thực tế đã khẳng định, không thể có bất cứ một thứ nào gọi là “nội chiến” hay “chiến tranh ủy nhiệm” ở Việt Nam. 30 năm (1945-1975), nhân dân Việt Nam phải cầm súng chiến đấu để giành độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Do vậy, ở Việt Nam (1945-1975) không có nội chiến, chỉ có chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Bởi vì, “tất cả dân tộc Việt Nam, không kể thuộc thành phần xã hội nào, tư sản, địa chủ, công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, thợ thủ công,... bất kể người già, người trẻ, phụ nữ hay đàn ông,... hễ là người Việt Nam thì đều phải nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược”...


Và bản chất của điều đó có nghĩa là mâu thuẫn cơ bản trong cuộc kháng chiến của người Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những mâu thuẫn khác đều không thể có cơ hội để phát triển thành xung đột vũ trang.


Nguồn gốc xung đột trong Chiến tranh Việt Nam là chính sách và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Pháp và Mỹ chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam.


Người Pháp và Mỹ có thể lợi dụng một số kẻ vong bản, bán nước ở Việt Nam để làm bình phong che đậy cho âm mưu xâm lược của họ nhưng bản chất của cuộc chiến không vì thế mà thay đổi.


Vì tất cả các lý do trên, không thể có bất cứ một thứ nào gọi là “nội chiến” hay “chiến tranh ủy nhiệm” ở Việt Nam. Toàn bộ 30 năm (1945-1975) là 30 năm chiến tranh cách mạng để giành độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.


Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh 30 năm giành độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố nội chiến thì thực chất đó chỉ là sự đánh tráo khái niệm, dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử và cuối cùng là sự xuyên tạc lịch sử Việt Nam!


Lịch sử cuộc chiến đã lùi xa, nhận thức đúng bản chất của cuộc chiến này sẽ cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; đó cũng chính là một cách để đi tới sự hòa hợp dân tộc được thanh thản nhất. Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh vạch trần, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, “lật sử” của kẻ thù./.

 


NVH39 - VẠCH TRẦN ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ ĐỂ CHỐNG PHÁ, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự - an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả...

Bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó, chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

 

 

 

 

NVE39 - XÂY DỰNG CHI BỘ TỐT

 

            Các chi bộ trong toàn Đảng ta đang tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2022-2025. Đây là dịp quan trọng để mỗi chi bộ nhìn nhận, đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm kỳ qua, xác định phương châm, mục tiêu, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ mới, đồng thời bầu ra cấp ủy, bí thư, phó bí thư để đảm nhiệm cương vị “đầu tàu” của chi bộ.

          Tổ chức thành công đại hội chi bộ là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu để xây dựng chi bộ tốt.

          Chi bộ tốt là chi bộ luôn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, nghị quyết của tổ chức mình, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội bộ đoàn kết, thống nhất. Cán bộ, đảng viên trong chi bộ phải thực sự gương mẫu trong lời nói, việc làm, thật sự tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của quần chúng, nói dân nghe, dân tin, dân làm theo, dân ủng hộ.

          Thời gian qua, xây dựng chi bộ tốt được toàn Đảng triển khai mạnh mẽ, đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, đáng ghi nhận thì vẫn còn một số chi bộ để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, giảm niềm tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng. Đại hội chi bộ trong những nhiệm kỳ trước đây, vẫn còn xảy ra tình trạng ở một số chi bộ công tác chuẩn bị chưa chu đáo về văn kiện đại hội, về nhân sự cấp ủy, bí thư, phó bí thư, tiến hành đại hội còn hình thức, nghị quyết đại hội chỉ nằm trên giấy, chưa đi vào thực tiễn hoạt động của cơ quan, địa phương, đơn vị. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra trong Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

          Để xây dựng chi bộ tốt, trước tiên cán bộ, đảng viên trong chi bộ cần thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Cán bộ, đảng viên phải dám nhận nhiệm vụ, dám hoàn thành nhiệm vụ, dám hy sinh lợi ích của bản thân vì tập thể. Đảng viên luôn nêu cao tinh thần tự học tập, nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn, có lối sống trong sạch, lành mạnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

          Tổ chức thành công đại hội chi bộ, đưa nghị quyết đại hội chi bộ đi vào cuộc sống của quần chúng là yếu tố quan trọng để xây dựng chi bộ tốt, đúng như kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta. Đó cũng là mạch nguồn xây dựng Đảng ngày càng trong sạch vững mạnh từ cơ sở, để Đảng thêm gần dân, gắn bó mật thiết với dân, để Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...