Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

NVB40 - THÀNH TÍCH ĐẦY TỰ HÀO CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

 

            Có thể khẳng định, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, chúng ta luôn có quyền tự hào về nền giáo dục Việt Nam đang ngày càng phát triển, đổi mới, hiện đại và đang vươn tầm quốc tế. Từ một quốc gia có 95% dân số mù chữ, trải qua 76 năm với nhiều nỗ lực, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, không chỉ nhân dân Việt Nam được thụ hưởng mà những thành tựu đó được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Thật đáng buồn khi có những kẻ với con mắt thiển cận, nhìn xấu nhiều hơn tốt, lấy hiện tượng đánh đồng bản chất, chúng đem những sự việc mâu thuẫn, đánh nhau trong học đường giữa thầy - trò, học sinh với học sinh để đánh giá nền giáo dục Việt Nam ngày càng xuống cấp về đạo đức, đổ lỗ cho nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Tiêu biểu: ngày 15/9/2022, trên trang facebook Chân Trời Mới Media, đối tượng Ngọc Lan tán phát bài “Giáo dục cũng phải theo định hướng”; ngày 18/9/2022, trên trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng Ngọc Lan tán phát bài “Giáo dục con người xã hội chủ nghĩa thành công rực rỡ”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo; phủ nhận những thành quả đạt được của hệ thống giáo dục các cấp; bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ.

Nhưng hãy nhìn mà xem, chỉ trong năm học 2021 - 2022 vừa qua, cả nước có 63/63 tỉnh, thành phố duy trì và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú dần được nâng lên. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở của các trường phổ thông dân tộc nội trú đạt 99,7%; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,7%.

Kết thúc đợt thi Olympic khu vực, quốc tế năm 2022, các đội tuyển đều đạt thành tích vượt trội. Cụ thể có 12 Huy chương Vàng, 11 Huy chương Bạc, 9 Huy chương Đồng; 5 Bằng khen. Trong đó, đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế có 4/4 thí sinh dự thi đều đoạt Huy chương Vàng, xếp thứ 2 trên thế giới; Olympic Toán học quốc tế xếp thứ 4 trên thế giới; Olympic Vật lý quốc tế xếp thứ 5 trên thế giới. Đặc biệt, đội tuyển Olympic Toán học Quốc tế, có một học sinh đạt điểm tuyệt đối 42/42 điểm. Đối với giáo dục thường xuyên, công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ tiếp tục được các địa phương quan tâm. Kết quả đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của học viên Chương trình giáo dục thường xuyên trên toàn quốc là 93,32%.

Các trường đại học tiếp tục được xếp hạng cao và tăng thứ bậc trên các bảng xếp hạng uy tín quốc tế. Cụ thể, so với các năm trước, 2022 là năm có bước nhảy vọt khi 5 đại diện của Việt Nam được lọt vào bảng xếp hạng THE gồm: Đại học Duy Tân vị trí 401 - 500, Đại học Tôn Đức Thắng 401 - 500, Đại học Quốc gia Hà Nội 1.001 - 1.200, Đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM cùng thứ hạng 1.201+. Kết quả này vượt mục tiêu năm 2025 của Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019 - 2025 được Thủ tướng phê duyệt. Năm trường đại học này cũng nằm trong bảng xếp các trường đại học tốt nhất toàn cầu năm 2022 (Best Global Universities) và bảng xếp hạng QS World University Rankings 2023.

Đó chẳng phải là tính ưu việt của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục dân chủ, nhân văn, khoa học hay sao? Trong các năm 2020 và 2021 đánh dấu bước chuyển đổi linh hoạt của hệ thống giáo dục Việt Nam trong giai đoạn dịch bệnh. Với chủ trương “tạm dừng đến trường, không ngừng việc học”, các cấp bậc học (trừ mầm non) đã chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến qua internet và truyền hình, đây là lần đầu tiên việc dạy học trực tuyến được triển khai trên quy mô cả nước. Báo cáo PISA của OECD công bố ngày 29/9/2020, đánh giá: “Việc học trực tuyến để phòng chống Covid-19 của Việt Nam có nhiều điểm khả quan so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác”. Đây là nhận định xác đáng khi Việt Nam có gần 80% học sinh, sinh viên học trực tuyến, cao hơn mức trung bình 67,15% của các nước OECD, xếp thứ 17/200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Đại hội XIII của Đảng đã định hướng phát triển giáo dục Việt Nam cho thời kỳ tới, trong đó có một số điểm nổi bật như: thay vì chỉ nhấn mạnh vào “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo” như trước đây, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đề cập trực tiếp việc “phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế”. Phương hướng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” được xác định theo hướng mới: “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”. Không chỉ vậy, giáo dục Việt Nam còn hướng đến sự phát triển đột phá và nâng cao: “Có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạm trở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới”, thực hiện “Lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo. Xây dựng và triển khai thực hiện lộ trình tiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông, trước hết là đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở”…

Song quá trình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về giáo dục đào tạo khó tránh khỏi những lúc chủ quan, sai lầm, khuyết điểm ở một số lúc số nơi, song với tinh thần thẳng thắn, dám nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta sẽ lãnh đạo ngành giáo dục phát triển hơn nữa, nâng tầm giáo dục Việt Nam có thứ bậc cao trong khu vực và trên thế giới.

NVH39 - PHÒNG, CHỐNG SỰ PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Một cách chung nhất, có thể nói, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà con người muốn hướng đến, muốn vươn tới và do vậy con người sẽ ra sức phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thậm chí hy sinh quên mình để quyết tâm đạt cho bằng được. Là cán bộ, đảng viên thì không thể không có lý tưởng cách mạng, vì đây là tiêu chí hàng đầu để khẳng định phẩm giá, tư cách chân chính của người cộng sản.

Thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã xuất hiện trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”; Vì vậy các thế lục thù địch chúng xuyên tác, quy chụp vấn đề tham nhũng là bản chất chế độ một đảng lãnh đạo.

Vì vậy chúng ta cần phải nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và cần có biện pháp đồng bộ, tích cực, chủ động để phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch trong toàn đảng, trong mọi tổ chức và cả hệ thống chính trị và nhân dân.

Điều quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.

Sự kết hợp giữa việc thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức với thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, nhất là nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ Đảng và nhiệm vụ đảng viên, là cơ sở quan trọng giúp đề phòng và từng bước khắc phục được sự suy thoái về chính trị và đạo đức, từ đó đề phòng một cách hiệu quả sự suy thoái lý tưởng cách mạng.

Phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng, chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên.

 

NVH39 - Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về tình hình Biển đông

 

 Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn nỗ lực đấu tranh để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tố quốc; các thế lực thù địch lại lợi dụng internet và mạng xã hội để ra sức xuyên tạc, chống phá. Do đó, nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để có những giải pháp đấu tranh đấu tranh hiệu quả nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; từ đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. 

Biển Đông ngày càng được định vị quan trọng hơn trong các chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm điểm tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt là các nước lớn.  Hơn hai thập kỷ trôi qua, vùng biển này luôn là “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, về quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề Biển đông.

Gần đây nhất ngày 20/9/2022 trên trang blog Việt Nam thời báo phát tán bài “Các tổ chức xã hội dân sự khuyến nghị chính phủ Việt Nam nên hợp tác với Mỹ và các nước phương tây ở Cam ranh” với nội dung phản đối đường lối đối ngoại của Đảng Nhà nước ta, xuyên tạc tình hình Biển đông và quan hệ hữu nghị giữa các nước, vu cáo các cơ quan truyền thông “bưng bít” thông tin, kêu gọi “thân Mỹ” và phương tây. Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Có thể khẳng định, những quan điểm, chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề Biển Đông là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, những thông tin, luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; nâng cao trách nhiệm công dân, động viên con em tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo; phát huy, nhân rộng sẽ tạo thành sức mạnh vô địch trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay.

         

 

 

NVH39 - CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦA NGUYÊN ANH

 

Mục tiêu của các thế lực thù địch là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chính vì vậy mà chúng xuyên tạc, hạ thấp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ra sức rêu rao đòi Việt Nam phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam”. Thực chất của luận điệu này là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mới đây, trên trang “Quyenduocbiet.com” Nguyên Anh lại tiếp tục những luận điệu cũ rích này qua bài viết “Vì sao phải bảo vệ Đảng như bảo vệ con ngươi trong mắt mình?”.

Trắng trợn hơn là Nguyên Anh đã xuyên tạc rằng, Đảng “là người cai trị, còn dân tộc là kẻ bị trị”, “là băng đảng của những kẻ vô loại, … lưu manh”, “độc tài phi nhân”. Luận điệu của Nguyên Anh và đồng bọn đã bộc lộ rõ âm mưu chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua việc phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Anh và đồng bọn của y cần phải biết rằng, từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mọi chủ trương, đường lối của Đảng luôn gắn liền với nguyện vọng, ý chí của nhân dân và có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác. Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là mục tiêu, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, hơn 92 năm qua, đất nước ta đã hồi sinh và không ngừng đổi mới. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc hậu và không có tên trên bản đồ thế giới đã vươn lên tiến cùng thời đại. Những thành tựu to lớn của đất nước sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực, tạo ra “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Với những thành tựu to lớn đã đạt được, cùng với năng lực lãnh đạo, uy tín của mình và sự tin yêu của nhân dân, chắc chắn rằng: hiện tại và tương lai, sự lãnh đạo của Ðảng ta vẫn sẽ là sự lựa chọn duy nhất để tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước sánh vai với các nước trên thế giới. Chính vì vậy, nhân dân và dân tộc Việt Nam không cần, không chấp nhận đa đảng đối lập như Nguyên Anh đã rêu rao.

Thiết nghĩ, để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có âm mưu chống phá Đảng; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả các thông tin xấu độc, điều kiện không thể thiếu là: chúng ta cần tỉnh táo để tiếp cận và xử lý các thông tin, lấy đó làm cơ sở nhận diện bản chất vấn đề và bộ mặt thật của những kẻ có thể lợi dụng chúng ta vào việc thực hiện mục đích đen tối của chúng.

 

NVH39 - Bản chất cách mạng màu và những nguy cơ tiềm ẩn đối với Việt Nam hiện nay

 

(ĐCSVN) - Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ của “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Cách mạng màu với nhiều tên gọi khác nhau như: cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ… diễn ra ở một số nước Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla đã cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại, xây dựng chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam?

Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “cách mạng màu”

Cách mạng màu (tiếng Anh là colour revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng những phương thức, thủ đoạn điển hình là sự phản đối quy mô lớn bằng biện pháp phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi chế độ đang tồn tại để thiết lập một chính phủ thân Mỹ và phương Tây kể từ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đến nay.

Các đối tượng của cách mạng màu là đảng phái, lực lượng chính trị đối lập trong nước hình thành từ các trào lưu “dân chủ hóa xã hội” hoặc nảy sinh, phát triển từ sự mâu thuẫn, phân hóa, phân lập của nội bộ đảng, chính phủ cầm quyền. Lãnh tụ phe đối lập thường là những người bất mãn, cơ hội chính trị, bất đồng với đảng, chính phủ cầm quyền được các thế lực nước ngoài hậu thuẫn, thậm chí nuôi dưỡng để thực hiện chính biến khi có thời cơ thuận lợi. Các thế lực bên ngoài là kẻ khởi xướng, định hướng, kích động, thúc đẩy, vạch kế hoạch, huấn luyện, tài trợ vật chất, ủng hộ tinh thần và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước tổ chức và tiến hành hoạt động cách mạng màu. Thế lực bên ngoài đóng vai trò “đạo diễn”, lực lượng trong nước giữ vai trò” thực thi”. Đây là một hiện tượng chính trị diễn ra thông qua nghị trường, đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình, tuần hành), dựa trên cơ sở những tiền đề trong một quốc gia, dân tộc có quan điểm, chủ trương trái với lợi ích của Mỹ và phương Tây; được hậu thuẫn bởi lực lượng bên ngoài nước can thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước đó nhằm lật đổ chính quyền hay sự cầm quyền của các đảng phái chính trị để thay thế bằng đảng phái đối lập phù hợp với lợi ích Mỹ và phương Tây.

“Cách mạng màu” với nhiều tên gọi khác là cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ,… xuất hiện lần đầu tiên với cách mạng Vàng ở Philíppin từ năm 1983, cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc năm 1989, cách mạng Đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng Nhung ở Grudia năm 2003, cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004 và 2014, cách mạng hoa Tulip ở Cưrơgưxtan năm 2005, cách mạng cây Tuyết tùng ở Libăng năm 2005, cách mạng Xanh ở Iran năm 2009, cách mạng hoa Nhài ở Tuynidi từ năm 2010, cách mạng hoa Sen ở Ai Cập từ năm 2011, cách mạng màu ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi (còn gọi là Mùa xuân Arập, gồm: Libi, Xyri, Angiêri, Yêmen, Marốc, Gioócđani, Arậpxêút, Ôman, Irắc), cách mạng Ô dù ở Hồng Kông năm 2014,… và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực phương Tây vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại.

Bản chất cách mạng màu là phản cách mạng, là phương thức, thủ đoạn theo chủ nghĩa sôvanh nước lớn sử dụng để loại bỏ chính quyền các nước không đi theo quỹ đạo của mình bằng nhóm cầm quyền khác, mà chưa làm thay đổi bản chất bên trong của các nước. Lợi dụng những mâu thuẫn, khó khăn của chính quyền đương nhiệm để tạo ra nguy cơ chính trị, thông qua việc bầu cử tự do và “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền hợp pháp, dựng lên chính quyền thân Mỹ và phương Tây.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa và nước có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng tìm mọi cách lật đổ và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập đảng chính trị cầm quyền mới đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trong truyền thông phương Tây, cách mạng màu được miêu tả rất hấp dẫn, giàu hứa hẹn như là những cuộc cách mạng dân chủ và nhân quyền phổ biến, trong đó, người dân có quyền đòi hỏi trách nhiệm dân chủ và yêu sách đối việc quản trị của chính quyền sở tại. Thực tế, cách mạng mang tính mị dân, người dân không có quyền lợi gì, thậm chí sau cách mạng là khủng hoảng chính trị, bất ổn xã hội kéo dài, mâu thuẫn giai tầng và dân tộc sâu sắc, kinh tế chậm phát triển, đói nghèo và thương vong gia tăng, đẩy các nước lâm vào hỗn loạn.

“Cách mạng màu” là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc nhằm củng cố vị trí siêu cường quốc số một thế giới của mình, chi phối, dẫn dắt và truyền bá văn hóa, lối sống, dân chủ và nhân quyền của Mỹ và phương Tây trên thế giới; khống chế hoặc tạo ảnh hưởng mạnh mẽ để thiết lập chính quyền chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mỹ. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu là lật độ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa do Mỹ và phương Tây định đoạt. Hiện nay, đối tượng của cách mạng màu hết sức đa dạng, có thể diễn ra ở nước có chế độ chính trị khác nhau, trong đó có Việt Nam.

Các hoạt động nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam

Sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ ngày 25/12/1991, đặc biệt từ khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gia tăng với những phương thức, thủ đoạn ngày càng thâm độc, quy mô lớn, tác động tiêu cực đến đời sống an ninh xã hội. Mục tiêu của chúng là xây dựng lực lượng, nhân tố và điều kiện và tạo ra thời cơ để tiến hành cách mạng màu gây bạo loạn, xúi giục nhân dân biểu tình, kích động chống đối chính quyền, tìm mọi cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng.

Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm tạo tiền đề về tư tưởng, chính trị, xã hội cho cuộc cách mạng màu ở Việt Nam. Đó là những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò cầm quyền của Đảng. Những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những kẻ thâm thù cộng sản, đối lập và phản bội cách mạng, những người a dua, kiêu ngạo, thậm chí có cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sử dụng những thủ đoạn và cách thức đa dạng, phong phú, mà chủ yếu là các bài viết theo lối “bổn cũ soạn lại”, các video, clip cắt ghép, các bloger trên một số báo chí nước ngoài, các trang mạng xã hội có tư tưởng chống phá Việt Nam như: Chantroimoi media, BBC NEWS, VOA tiếng Việt, Dân Báo, RFA,... ra sức đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, bóp méo và phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng thời, tuyên truyền kêu gọi cải cách chính trị để tiến tới một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng, thiết lập quyền tự do phát ngôn, ra báo tư nhân, lập đảng, lập hội, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang... Các hoạt động tuyên truyền kích động các hoạt động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự xã hội, gây bạo loạn thông qua các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm như: tranh chấp, khiếu kiện, đình công, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp biển đảo.

Hoạt động tác động, chuyển hóa nội bộ, hình thành nhân tố chống đối từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến” nội bộ. Chúng lợi dụng quá trình hợp tác toàn diện với Việt Nam, chúng tăng cường tiếp cận vào những vấn đề chính trị - xã hội nội bộ, thông qua các dự án, chương trình nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ hóa chính trị. Chúng sử dụng các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế đầu tư ở Việt Nam, tìm mọi cách tác động làm thay đổi chính sách, pháp luật, cải cách hành chính theo quỹ đạo dân chủ tư sản; tác động vào các cơ quan báo chí truyền thông và đội ngũ phóng viên định hướng theo cách làm báo phương Tây, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự; thâm nhập vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm hình thành “giá trị Mỹ”, tự do phương Tây để chuyển hóa tư tưởng giới trẻ, tạo đà xây dựng lực lượng chính trị và tổ chức đối lập ở Việt Nam. Chúng tác động phân hóa, xâm nhập, cài cắm cơ sở nội gián, in sao và phát tán rộng rãi tài liệu với nội dung sai lệch gây mất niềm tin chế độ, thay đổi lập trường, hình thành lực lượng chống đối từ nội bộ trong hệ thống chính trị.

Hoạt động thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” hướng đến một xã hội đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các hoạt động trao đổi, chuyển giao, hỗ trợ, hợp tác góp phần đẩy mạnh xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam. Thông qua quan hệ hợp tác, tài trợ cho các tổ chức đoàn thể quần chúng, các thế lực thù địch đẩy mạnh hình thành các tổ chức đối lập (như: công đoàn độc lập), tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, đồng thời liên kết tạo thành mạng lưới các hiệp hội nhằm tăng cường vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong nước phối hợp tổ chức quốc tế để tiến hành cách mạng màu ở Việt Nam khi có thời cơ.

Biện pháp ngăn ngừa nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam

Xác định được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp lý nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Đặc biệt là chủ trương, chính sách về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng và chống “diễn biến hòa bình”; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản; hoàn thiện hệ thống pháp lý trong đấu tranh với hoạt động thù địch, tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Đẩy mạnh các biện pháp ngăn ngừa hoạt động thù địch bên ngoài tạo dựng tổ chức chính trị đối lập gây nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa những kế hoạch, phương thức tổ chức huấn luyện, đào tạo lực lượng hậu thuẫn, tài trợ vật chất, móc nối các đối tượng trong nước, tạo ảnh hưởng chính trị của các đối tượng thù địch đối với quần chúng nhân dân và với dư luận xã hội. Phối hợp chặt chẽ các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang cơ sở, mạng lưới nhân dân triển khai các biện pháp nghiệp vụ, giám sát chặt chẽ các đối tượng cầm đầu, bao vây, phong tỏa, tước bỏ điều kiện hoạt động của đối tượng thù địch.

Đồng thời, ngăn chặn, bóc gỡ, triệt phá mọi hoạt động hình thành tổ chức đối lập ở trong nước dưới danh nghĩa hợp tác, chương trình, dự án, tài trợ,… nhằm thúc đẩy cho ra đời ồ ạt các tổ chức xã hội dân sự, đảng phái chính trị phản động, tranh giành ảnh hưởng, thu hút quần chúng, gây mất niềm tin của nhân dân với chính quyền, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo và đòi độc lập. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề chính trị, xã hội phức tạp để kích động thành những làn sóng chống đối cục bộ, biểu tình, bạo loạn, gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Tùy từng đối tượng, vụ việc để có các biện pháp kịp thời, hợp lý để tổ chức phòng ngừa, răn đe, đấu tranh, trấn áp và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao nhận thức, cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thủ đoạn, âm mưu cách mạng màu, nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, kịp thời định hướng, uốn nắn tư tưởng đúng đắn, phê phán những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, a dua, bị lôi kéo, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tiếp tục quản lý có hiệu quả Luật An ninh mạng, kiểm soát mạng xã hội và định hướng các kênh thông tin đại chúng.

Thực tiễn các cuộc cách mạng màu đã diễn ra trên thế giới và cuộc đấu tranh phòng ngừa nguy cơ ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị vững mạnh từ Trung ương đến địa phương; giữ gìn nền quốc phòng toàn dân, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân; các lực lượng vũ trang luôn chủ động trước những nguy cơ và thách thức; tăng cường vai trò quản lý báo chí, truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội trong việc phát tán thông tin, định hướng dư luận…

Có thể khẳng định một điều, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa. Loại bỏ tham nhũng tiêu cực, xử lý các cá nhân cán bộ biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa là điều chúng ta bắt buộc phải làm. Làm tốt việc này, không những đất nước phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Khi nhân dân có niềm tin, họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy rõ ràng rằng phải cảnh giác với chúng và cũng cần phải chấn chỉnh lại chính mình./.

 

NVE39 - Nga công nhận độc lập của các vùng Kherson và Zaporizhzhia ở Ukraine

 

Theo hãng tin Sputniknews, ngày 30/9, cổng thông tin pháp lý chính thức của Nga cho biết Tổng thống Vladimir Putin đã ký sắc lệnh công nhận độc lập và chủ quyền của các vùng Kherson ở miền nam Ukraine.

Một sắc lệnh tương tự công nhận chủ quyền và độc lập của vùng Zaporizhzhia cũng đã được công bố cùng ngày trên cổng thông tin này.

Trước đó, ngày 27/9, giới chức hai khu vực trên của Ukraine đã công bố kết quả cuộc trưng cầu dân ý về việc sáp nhập vào Nga.

Theo cơ quan bầu cử địa phương ở vùng Zaporizhzhia, sau khi kiểm đếm toàn bộ số phiếu, kết quả cho thấy 93,11% cử tri vùng này đã lựa chọn sáp nhập vào Nga.

Trong khi đó, giới chức vùng Kherson thông báo 87,05% cử tri khu vực này cũng đã lựa chọn sáp nhập vào Nga, sau khi hoàn tất kiểm đếm toàn bộ số phiếu.

 

NVD39 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA

 

Giữa lúc Đảng, Nhà nước ta đang ra sức lãnh đạo, chỉ đạo với tinh thần quyết tâm chính trị cao trong đấu tranh chống tham nhũng, làm thất thoát tài sản của Nhà nước và nhân dân trong thời gian qua, mục đích là làm trong sạch bộ máy của Đảng. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội ra sức chống phá. Do vậy, trách nhiệm chúng ta là phải nhận thức rõ, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó.

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, trong đó vấn đề xử lý tham nhũng, thiếu tinh thần trách nhiệm làm thất thoát tài sản của Nhà nước trong thời gian gần đây. Chúng ta thừa nhận rằng, dù chế độ nào thì tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, mọi quốc gia đều phải đối mặt. Nguyên nhân dẫn đến là không phải do chế độ chính trị hay đảng phái nào lãnh đạo. Nhưng các thế lực thù địch cho rằng “chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”, hay tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế trong thời gian qua chúng ta thấy ở một số nước vẫn xảy ra tình trạng này thậm chí như là cựu tổng thống Hàn Quốc hay cựu thủ tướng Thái Lan… Qua đó, chúng ta thấy đây là những chiêu bài của các thế lực thù địch với mục đích là nhằm làm giảm uy tín và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên thì chúng xuyên tạc cho rằng thực chất đây là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng” hay đang đấu đá lẫn nhau. Xuyên tạc ý kiến chỉ đạo trong xử lý các sai phạm của cán bộ, đảng viên của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết nội bộ.

Do vậy, cần khẳng định những âm mưu luận điệu xuyên tạc trên không thể phủ nhận quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Trên thực tế, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng đều được đưa ra truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không ngoại lệ. Có thể sơ bộ thống kê từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Trong đó, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đã khởi tố 8 cán bộ diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang đi đúng hướng và được thực hiện rất quyết liệt, hiệu quả với quyết tâm chính trị cao nhất. Qua đó đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả đó khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước; đồng thời, minh chứng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì động cơ trong sáng, lành mạnh của Đảng. Kết quả đó càng chứng tỏ luận điệu của các thế lực thù địch là xuyên tạc, bịa đặt vô căn cứ.

Xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên sai phạm không phân biệt chức vụ cao hay thấp, càng nhấn mạnh đó là sự thống nhất ý chí và hành động. Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng như toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin vào Đảng.

Để tiếp tục phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc thành tựu phòng, chống tham nhũng tiêu cực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; nhất là, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Đồng thời, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phải tiến hành đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm “nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”, “dọc ngang thông suốt”, tránh “trên nóng, dưới lạnh”, “đầu voi, đuôi chuột”, “đánh trống bỏ dùi”… làm cho dân tin vào Đảng và mỗi đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Thời gian tới, trước sự chống phá ngày càng quyết liệt và tinh vi của các thế lực thù địch. Dù như thế nào cũng không ai có thể phủ nhận, xóa bỏ những thành quả mà chúng ta đã đạt được, không ai có thể làm giảm ý chí quyết tâm chiến đấu của Đảng ta. Vấn đề đặt ra là phải đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, để từ đó đấu tranh có hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh./.

 

NVD39 - Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch chống phá chủ trương, đường lối lãnh đạo công tác giáo dục, đào tạo của Đảng ta

 

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề “diệt giặc dốt”, là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của nước nhà lúc bấy giờ. Người đã ký sắc lệnh thành lập Nhà Bình dân học vụ. Tiếp đến, tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn thất học. Chỉ sau một năm phát động phong trào “diệt giặc dốt”, cả nước đã có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ và đến năm 1948 đã có 06 triệu người thoát nạn mù chữ.

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc cải cách giáo dục. Năm 1950, trong hoàn cảnh nước nhà còn muôn vàn khó khăn, nhưng cuộc cải cách giáo dục lần đầu tiên nhằm mục tiêu xây dựng một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Đến năm 1956, cải cách giáo dục lần thứ hai hướng tới đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân tốt, có đức, có tài. Năm 1981, cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba toàn diện hơn, đồng bộ hơn nhằm tạo bước chuyển biến mới về hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Đến những năm cuối của thế kỷ XX, nước ta đã có hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành phố và 90% quận, huyện đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực.

Cuộc cách mạng về giáo dục với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), bảo đảm cho giáo dục Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo lộ trình, bắt đầu từ năm học 2020 - 2021, ngành Giáo dục chính thức triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới ở bậc tiểu học.

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2010-2020 xác định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Các văn kiện quan trọng khác của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ đại hội XI, XII tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo. Hội nghị TW 6, khóa XI khẳng định:“ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách, đòi hỏi phải: đổi mới tư duy, đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dậy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện đảm bảo.., trong toàn hệ thống, tiếp tục cần được cụ thể hóa trong từng giai đoạn.

Thành tựu sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, đặc biệt là 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, giáo dục và đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Chất lượng từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện; mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Vai trò, vị trí các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong hệ thống dần được khẳng định, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm được đề cao; chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, hệ thống chương trình đã được đổi mới, chú trọng phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp giảng dậy theo hướng tích cực cũng được chú trọng. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh… Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế các khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo định hướng XHCN trong giáo dục và đào tạo. Hợp tác quốc tế được tăng cường theo hướng chủ động, tích cực đáp ứng yêu  cầu phát triển của ngành giáo dục, cũng như yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước.

          Nhờ những kết quả trên, quy mô nguồn nhân lực được mở rộng, lực lượng lao động tăng từ 50,4 triệu người năm 2010 lên khoảng 54,6 triệu người năm 2020 với cơ cấu hợp lý hơn, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện đáng kể, phù hợp với nhu cầu thị trường. Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2010 lên 64% năm 2020.Trong đó, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 14,6% năm 2010 lên 24,5% vào năm 2020.

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển giáo dục và đào tạo, như nhận thức về triết lý giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới, vai trò và sứ mạng của giáo dục chưa đủ sâu sắc, chưa làm rõ được tính ưu việt của nền giáo dục cách mạng, theo định hướng XHCN. Việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện, công cụ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin chưa thực sự hiệu quả; vấn đề rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề ở một số nhà trường vẫn chưa thật sự được chú trọng. Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dậy ở nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa được hiện đại hóa tương xứng, còn năng về lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa thực sự chú ý kỹ năng mềm cho người học. Đầu tư cho giáo dục chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Công tác quản lý cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở liên kết giáo dục còn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước…

Những kết quả và hạn chế trong giáo dục và đào tạo của nhiệm kỳ Đại hội XII đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Một số kết quả chính như: mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô. Việt Nam là quốc gia luôn ưu tiên đầu tư cho giáo dục, 5 năm 2016-2021, ngân sách nhà nước chi cho lĩnh vực này đạt khoảng 20% tổng chi ngân sách. Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới được ban hành và đang tích cực triển khai; phương pháp giảng dạy và học tập có bước đổi mới. Giáo dục mầm non đạt chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt, được thế giới công nhận. Công tác thi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực chất, hiệu quả hơn. Quản lý, quản trị đại học có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên. Giáo dục nghề nghiệp có nhiều chuyển biến. Cơ chế, chính sách tài chính cho giáo dục và đào tạo từng bước đổi mới. Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo được thể chế hoá và đạt kết quả bước đầu. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng. Trong thời gian dịch bệnh Covid-19, ngành giáo dục và đào tạo đã tiếp cận dậy và học qua internet, truyền hình với nhiều hình thức khác nhau.

Tại Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo, yêu cầu phải Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”.Nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta đều biết rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng của đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, từ việc đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đến thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó có nền giáo dục, đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử, từng bước nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực, những thành tựu to lớn đó là một thực tế không thể phủ nhận.

Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội cần phải tự ý thức và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, nếu như những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không được ngăn chặn kịp thời thì sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

NVI39 - Âm mưu chống phá, xuyên tạc việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025

 

Vừa qua Bộ Ngoại giao đã thông tin chính thức về việc Việt Nam sẽ ứng cử  vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với mong muốn đóng góp tích cực, trách nhiệm và hiệu quả hơn vào nỗ lực chung thúc đẩy và bảo vệ quyên con người trên thể giới. Đặc biệt Việt Nam cũng là thành viên duy nhất đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ ứng cử vào vị trí thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Việc Việt Nam là thành viên duy nhất của ASEAN ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 không chỉ là trách nhiệm mà còn là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người trong thời gian qua. Khẳng định Việt Nam tham gia ứng cử là chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc mà trước đó, Việt Nam đã là thành viên có trách nhiệm và có những đóng góp rất lớn trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và đảm bảo cao nhất quyền con người, được cụ thể hóa trong Hiến pháp 2013 và trong các bộ luật.

Vậy nhưng một số kẻ thiếu thiện chí lại ra sức đăng tải các thông tin tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo sai sự thật về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam để từ đó kêu gọi các quốc gia không bỏ phiếu cho Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Điển hình trong số đó có thể kể đến là “Việt Tân”, BBC Tiếng Việt, RFA, các tổ chức phản động lưu vong hay một số phần tử chống đối đất nước đang sống lưu vong, tỵ nạn ở xứ người như Nguyễn Văn Đài,...

Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, vu cáo về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng: “trước khi muốn được làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, Việt Nam phải cải thiện hồ sơ nhân quyền của chính mình, thực thi nghiêm chỉnh các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết, và đóng góp cùng cộng đồng quốc tế để xây dựng một thế giới hoà bình và thịnh vượng”.

Nguyễn Văn Đài khi biết được Việt Nam sẽ thành viên duy nhất của ASEAN tham gia ứng cử vào vị trí thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã xuyên tạc cho rằng: “Một điều chắc chắn là Việt Nam không thể ứng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ. Bởi vì trong ít nhất bốn năm vừa qua, Việt Nam đã trở thành nước đàn áp nhân quyền nhiều nhất Đông Nam Á, thay thế Miến Điện trở thành nước giam giữ tù nhân chính trị nhiều nhất, cho nên Việt Nam không thể xứng đáng ứng cử...

Hay gần đây, 08 tổ chức phản động khi đã đưa ra “Thư ngỏ” với mục tiêu sẽ thu thập 100.000 chữ ký từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2022 và sau đó, “thư ngỏ” này sẽ được gửi tới Liên Hợp quốc, Đại sứ Mỹ, Anh nhằm “ngăn chặn Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025”.  Những ngày gần đây, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (một trong 8 tổ chức đã soạn thảo “thư ngỏ” này) đã đăng tải thông tin cho rằng sau hơn 1 tháng “nỗ lực” kêu gọi thì họ đã thông báo rằng đã có hơn 300/100.000 người ký tên yêu cầu Liên Hợp quốc loại Việt Nam ra khỏi danh sách ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025.

Đây là những kẻ ngược dòng chảy của dân tộc, những kẻ đã quay lưng với đất mẹ Việt Nam, với Tổ quốc Việt Nam. Tất cả những gì mà các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam đang xuyên tạc, vu cáo hay phủ nhận những thành quả của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ cũng như thúc đẩy quyền con người cũng chỉ là chiêu trò nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực. Có thể thấy những chiêu trò này đã quá quen thuộc và chắc chắn rằng nó cũng sẽ thất bại như những gì mà họ đã làm trong lần Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 mà thôi.

NVI39 - NHỮNG THÀNH TỰU TO LỚN CỦA ĐẤT NƯỚC VỀ KINH TẾ SAU 35 NĂM THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG - CƠ SỞ NIỀM TIN KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CỦA NHÂN DÂN VỀ MỘT XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta đang đi vào chiều sâu và đạt được những thành tựu to lớn. Hơn 35 năm đổi mới ở Việt Nam là giai đoạn lịch sử quan trọng đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện và triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thực hiện thành công. Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các phương diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh. Trong đó những thành tựu to lớn về kinh tế là cơ sở vững chắc để củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng của nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

Trong suốt hơn 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, thì giai đoạn 1991 - 1995 GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức bình quân 6,8%. Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Đặc biệt, trong năm 2020, trong khi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác động của dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm qua tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/năm, thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm, thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm. Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích luỹ - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động - việc làm,… tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô. Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6%.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập. Xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020, cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế.

Hơn 35 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu của Việt Nam. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với nhiều nước, trong đó có tất cả các nước P5 (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp, Anh) và hầu hết các nước chủ chốt trong trong khu vực và trên thế giới; đã có trên 70 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Các đối tác FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế - thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Năm 2020 phê chuẩn và triển khai có hiệu quả EVFTA; tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và ký FTA Việt Nam - Anh)…

Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịch Covid-19. Y tế đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống ngày càng cải thiện. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 năm 1993 xuống còn 16,7 năm 2020 (trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 năm 1990 lên 75,4 năm 2019, cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực có mức thu nhập tương đương. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn trung bình khu vực và trung bình thế giới. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, tính đến hết tháng 7/2021, toàn quốc có khoảng 16 triệu người tham gia BHXH (chiếm 32% lực lượng lao động). Trong đó có hơn 14,7 triệu người tham gia BHXH bắt buộc; gần 1,2 triệu người tham gia BHXH tự nguyện; hơn 13 triệu người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp; hơn 85 triệu người tham gia BHYT (đạt tỷ lệ bao phủ 87,1% dân số).  

Về triển vọng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô và đang trong xu hướng phục hồi theo hình chữ V; là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều sâu, hoàn thiện mô hình tăng trưởng đồng bộ trên cả phương diện kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và kinh tế - sinh thái, thúc đẩy phát triển trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế.

Những thành tựu về kinh tế của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”.

Những thành tựu to lớn qua hơn 35 năm đổi mới đánh dấu một bước tiến chưa từng thấy trên con đường xây dựng, phát triển đất nước, minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Ý nghĩa to lớn của những thành tựu đó không đơn thuần ở những con số mà quan trọng hơn là ở những nỗ lực cao nhất mà Đảng và Nhà nước ta đã tập trung một cách hiệu quả trong một thời gian không dài, trong những điều kiện rất khó khăn, phức tạp, để cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân. Đó cũng là cơ sở niềm tin để khơi dậy khát vọng của nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc, vì hạnh phúc của nhân dân./.

 

 

 

NVC39 - KIÊN QUYẾT CHỐNG TIÊU CỰC TRONG DỰ ÁN CAO TỐC BẮC - NAM PHÍA ĐÔNG

 

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 6349/VPCP-CN ngày 23/9/2022 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành về việc tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025.

Văn bản nêu rõ, xét báo cáo của Bộ Giao thông vận tải về việc tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành có ý kiến như sau:

Bộ Giao thông vận tải tổ chức lựa chọn nhà thầu xây lắp Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 theo đúng thẩm quyền quy định tại Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2022 của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 44/2022/QH15 ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 và quy định pháp luật về đấu thầu.

Phó Thủ tướng lưu ý Bộ Giao thông vận tải thực hiện đúng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 46/TB-VPCP ngày 19 tháng 02 năm 2022 của Văn phòng Chính phủ; không chia nhỏ gói thầu (vì quá nhiều gói thầu sẽ mất rất nhiều thời gian, khó liên thông kết nối, gây chậm trễ, tăng kinh phí, tăng tổng mức đầu tư…); phải lựa chọn được nhà thầu xây lắp có năng lực, kinh nghiệm, uy tín bảo đảm công khai, minh bạch, nghiêm túc, hiệu quả, tuân thủ quy định pháp luật; kiên quyết phòng, chống tiêu cực, lợi ích nhóm, tham nhũng, thông thầu, chuyển nhượng thầu không đúng quy định.

 

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...