Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2022

NVD40 - Những luận điệu xuyên tạc về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam của các đối tượng phản động

 

Thời gian qua, trên các trang fanpage của các đối tượng phản động như Việt Tân, Chân trời mới media, đăng nhiều bài viết với chủ đề “Lên án nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “Cha Lê Quốc Thăng rời khỏi Uỷ ban Công lý và hoà bình của Hội đống Giáo mục Việt Nam”, với các luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp các hoạt động tôn giáo, so sánh hoạt động tôn giáo ở Việt Nam với các nước phương Tây, từ đó kích động, cổ suý cho các hoạt động chống đối chính quyền của các đối tượng phản động. 

Thực tế cho thấy, ở bất cứ quốc gia trên thế giới, mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới. Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”... Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Số lượng các tôn giáo, số lượng tín đồ, chức sắc tăng lên nhanh chóng. Hiện nay (2022), Việt Nam có 16 tôn giáo, 43 tổ chức tôn giáo (thuộc 16 tôn giáo) được công nhận tư cách pháp nhân. Tổng số tín đồ các tôn giáo ước khoảng 27 triệu người, chiếm gần 30% dân số cả nước. Các cơ sở thờ tự của các tôn giáo được trùng tu, xây dựng mới với quy mô to đẹp, khang trang hơn trước rất nhiều.

Các hoạt động tôn giáo được tổ chức một cách thường xuyên, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng tín đồ và người dân cả nước. Nhiều hoạt động tôn giáo mang tính quốc tế đã được tổ chức ở Việt Nam, thu hút hàng trăm ngàn người tham dự. Chẳng hạn như Đại lễ Vesak của Phật giáo thế giới đã được tổ chức 3 lần ở Việt Nam. Đối với Công giáo, Hội nghị toàn thể lần thứ X Liên hội đồng Giám mục Á Châu đã được tổ chức tại Việt Nam.

Đối với Tin Lành, năm 2017 đã tổ chức Lễ kỷ niệm 500 năm Tin Lành tại Hà Nội, sự kiện này đã thu hút khoảng 10.000 người tham gia. Một vài ví dụ vừa nêu để cho thấy, đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn thay đổi so với trước, các tôn giáo được tự do hoạt động, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân được tôn trọng, đảm bảo. Tín đồ các tôn giáo là người dân tộc thiểu số, sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo… cũng đều được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo.

Nhiều hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đối với tín đồ, mà giờ đây còn ảnh hưởng đến các tầng lớp trong xã hội. Chẳng hạn, Noel đã trở thành một dịp lễ, một sinh hoạt văn hoá trong cộng đồng xã hội, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ.

Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

NVC40 - NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM”

 

Chúng ta có quyền tự hào với nền ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - một nền ngoại giao thấm đậm tâm hồn, cốt cách, khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách khó khăn. Vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân, đoàn kết nhân ái nhưng kiên quyết kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, biết nhu biết cương biết thời biết thế, biết mình biết người để biết tiến biết thoái, tùy cơ ứng biến lạt mềm buộc chặt, mềm nắn rắn buông. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc độc lập tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia dân tộc, luôn luôn là nguyên tắc bất di bất dịch, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của chúng ta.

Bên cạnh các cuộc chiến đấu kiên cường, bảo vệ giang sơn độc lập chủ quyền của đất nước ông cha ta đã luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam. Cùng với đó, chiến lược đối ngoại của Việt Nam đặt trong tổng thể đường lối phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; gắn kết hài hòa, chặt chẽ, có hiệu quả với đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đặt sự phát triển của đất nước vào dòng chảy của thời đại, từ đó xây dựng, triển khai các đường lối, chính sách phù hợp, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói đây là một nền ngoại giao đầy hào khí, giàu tính nhân văn hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân mà thay cường bạo”. Dùng đối ngoại để phòng ngừa chiến tranh hoặc để kết thúc sớm chiến tranh trong vị thế có lợi nhất. Đối ngoại phải luôn luôn phục vụ tốt nhất cho đối nội, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ tổ quốc từ sớm từ xa. Đó là những tư tưởng triết lí đi vượt thời đại của ông cha ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị/.

NVB40 - ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT, THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

 

Thời gian qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là áp lực từ bối cảnh thế giới, nhưng nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tình hình kinh tế-xã hội của nước ta đạt được nhiều kết quả tích cực.

Từ tháng 10 tới nay, Chính phủ đã thành lập 3 tổ công tác gồm: Tổ công tác liên quan đến thanh khoản tín dụng do Phó Thủ tướng Lê Minh Khái làm tổ trưởng; Tổ công tác liên quan đến xử lý khó khăn với thị trường bất động sản do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị làm tổ trưởng; Tổ công tác để xử lý các vấn đề liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc làm tổ trưởng. Các bộ, ngành cũng vào cuộc để tập trung xử lý, ổn định tình hình. Điều này cho thấy việc chỉ đạo, điều hành đã bám sát, nắm bắt tình hình, có phản ứng chính sách, đưa ra các giải pháp phù hợp. Nhờ đó, tình hình đang ổn định trở lại, nhất là tâm lý thị trường, niềm tin thị trường đang được tăng cường, củng cố. Các vấn đề đột xuất, phức tạp diễn ra được xử lý bình tĩnh, chắc chắn, mang lại hiệu quả, nhất là xử lý một số ngân hàng yếu kém. Thị trường chứng khoán có tín hiệu tích cực.


Bình quân 11 tháng năm 2022, CPI tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 2,38%. So với tháng trước, CPI tháng 11-2022 chỉ tăng 0,39%, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân. Đây là thành công trong kiểm soát lạm phát của Việt Nam trước bối cảnh lạm phát gia tăng ở hầu khắp các quốc gia.

Cùng với đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi. Đăng ký doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 11 tháng đạt gần 195.000 doanh nghiệp, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 40,5%. Công tác chăm lo, phát triển văn hóa, xã hội, cải thiện đời sống người dân được thực hiện tốt; quốc phòng an ninh được bảo đảm, hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh; công tác đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực, linh hoạt, hiệu quả, bảo đảm ứng xử phù hợp với các diễn biến tình hình thế giới, khu vực. Theo báo cáo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam là một trong những nước được dự báo có mức tăng trưởng tốt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2022 của Việt Nam lần lượt là 7,5%.

Vậy mà trong thời gian gần đây, lợi dụng sai phạm của một số doanh nghiệp trong phát hành trái phiếu như: Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Tập đoàn Tân Hoàng Minh, FLC…. đã bị cơ quan Công an phát hiện, khởi tố điều tra. Các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc chủ chương, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta, phủ nhận vai trò điều hành của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng…Điều này thể hiện rõ bản chất phản động, chống phá của các thế lực thù địch (RFA, Việt Tân, VOA tiếng Việt…)

Thấy được tình hình kinh tế - xã hội của nước ta và các giải pháp của Chính phủ là cơ sở để khẳng định Đảng, Nhà nước đã có những giải pháp phù hợp, kịp thời, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát đồng thời bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững trong bối cảnh thế giới biến đổi phức tạp, khó lường hiện nay.

NVH39 - CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

 

Ngày 25/11/2022, trên trang blog VOV tiếng Việt, đối trượng Trân Văn phát tán bài “Việt Nam có cây tre nên không cần giống ai”, ngày 27/11/2022 trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) phát tán bài “ Việt Nam - Ấn Độ tăng cường hợp tác trước mối nguy Trung Quốc”; nội dung xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam; đưa ra những “dự báo” về tình hình khu vực gây hoang mang trong dư luận; kêu gọi Việt Nam cần liên minh quân sự trong quan hệ quốc tế, đồng thời kích động, gây chia rẽ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam với Trung Quốc, Ấn Độ.

Đây là luận điệu sai trái xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, hòng gieo rắc sự hoài nghi trong dân chúng về tính đúng đắn trong đường lối đối và chính sách ngoại của Đảng và Nhà nước, chia rẽ quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, từ đó hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã chỉ rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Tại các kỳ Đại hội, Đảng ta vẫn tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Với quan điểm, đường lối đối ngoại đúng đắn đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam không ngừng được mở rộng, phát biểu. Đến nay, có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; là đối tác chiến lược toàn diện với các nước Ân Độ, Trung Quốc và Nga. Đặc biệt, Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ Đối tác chiến lược và Đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7, 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu, 76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

Thông qua việc thiết lập quan hệ đối tác với các nước lớn, đã giúp Việt Nam xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, đưa hợp tác trở thành chủ đạo và kênh trao đổi giảm thiểu sự khác biệt trong quan hệ với các nước này, tạo điều kiện để tăng cường lòng tin, tạo ra sự đan xen lợi ích, giúp Việt Nam tranh thủ được nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công ba lần vai trò Chủ tịch ASEAN và hai lần vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Điều đó minh chứng đất nước Việt Nam đang vững bước phát triển đi lên với một tư thế mới của những con người làm chủ độc lập và làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển và chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đó là những minh chứng cho tính đúng đắn của đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua.

Như vậy, những luận điệu đối tượng Trân Văn cùng các trang blog VOV Tiếng Việt và Đài Á Châu Tự Do (RFA) đưa ra là sai lầm, đi ngược lại đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước và Nhân dân. Mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

 

NVH39 - Nhận diện và đấu tranh với tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng ở Việt Nam hiện nay

 


        Internet mang lại nhiều tiện lợi cho cuộc sống và cung cấp thông tin đa dạng cho người dân nhưng người dùng Internet cũng dễ trở thành nạn nhân của tội phạm lừa đảo.Trong đó, tội phạm công nghệ cao trong ngành Ngân hàng đang ngày càng tinh vi, phức tạp, gây ra nhiều hậu quả nặng nề khi mà hàng lang pháp lý ở nước ta còn nhiều hạn chế và bất cập, cùng với đó là sự thiếu cảnh hiểu biết cũng như bản tính chủ quan của người dân,… đã và đang là những nguyên nhân để loại tội phạm này ngày càng phát triển.

Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp dưới một số hình thức phổ biến sau:

Thứ nhất, truy cập trái phép vào tài khoản ngân hàng của cá nhân để chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn này được thực hiện bằng việc sử dụng một số phần mềm (tools) để phát hiện lỗi của các website bán hàng qua mạng, ngân hàng thanh toán qua mạng, xâm nhập vào cơ sở dữ liệu lấy quyền quản trị của admin để trộm cắp dữ liệu để lấy địa chỉ email, thông tin khách hàng, thông tin thẻ tín dụng, tài khoảng cá nhân, bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến để thu thập, trộm cắp, thay đổi, phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; Chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả….

Thứ hai, lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua tin nhắn rác và mạng xã hội Facebook, Zalo. Lợi dụng các trang mạng xã hội, trang thông tin điện tử, mạng internet, mạng viễn thông đưa ra thông tin trúng thưởng để lừa đảo. Cụ thể: Gửi tin nhắn thông báo trúng thưởng đến các số điện thoại, gửi các đường link thông báo trúng thưởng đến các tài khoản trong trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Skype, Viber...), các website game. Một số người nhận được các cuộc gọi đến xưng danh là cán bộ của ngân hàng thông báo việc khách đã trúng thưởng, đề nghị khách hàng chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; hoặc thông báo thẻ tín dụng có vài vấn đề và yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan để điều chỉnh; xưng danh là cán bộ điều tra yêu cầu nộp tiền vào một tài khoản khác để bảo lãnh, phục vụ việc điều tra...

Thứ ba, phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực thanh toán điện tử và thẻ ngân hàng. Ở dạng tội phạm này, trước hết các đối tượng phạm tội thường dùng mọi cách để có thông tin thẻ ngân hàng. Tội phạm thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công ATM và hệ thống thẻ; bẻ khoá hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các ATM/POS; thanh toán trực tuyến...

Hiện nay, các hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, đe dọa tới độ an toàn thông tin có thể đến từ nhiều nơi theo nhiều cách. Vì vậy, việc đưa ra các chính sách và phương pháp đề phòng là rất cần thiết. Trước tình hình trên, để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây: 

Thứ nhất, Các cơ quan chức năng cần phải liên tục rà soát, nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Pháp luật hình sự cần kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong xã hội, có tính nguy hiểm cao, uy hiếp an ninh của con người và của xã hội.

Thứ hai, Cần phải tiếp tục kiện toàn tổ chức, lực lượng chức năng nhằm phát hiện, đấu tranh phòng chống các tội phạm sử dụng công nghệ cao, thường xuyên bồi dưỡng, bổ sung và nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cùng kiến thức tin học, ngoại ngữ cho các cán bộ, nhất là các cán bộ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Thứ ba, Nâng cấp công nghệ và các giải pháp an ninh bảo mật cơ bản mà các ngân hàng đang triển khai như tường lửa, hệ thống phát hiện xâm nhập (IPS/IDS), hệ thống phòng chống virus, xác thực đa thành tố đối với giao dịch điện tử, mã hóa dữ liệu đối với các hệ thống quan trọng... để ngăn chặn và cảnh báo, và bảo vệ cho các server, website, cơ sở dữ liệu của ngân hàng.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; Cảnh báo mọi người dân cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu hoặc số OTP khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, forum, website, email, điện thoại...

Tội phạm sử dụng công nghệ cao gắn liền với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và viễn thông. Cùng với xu thế mới của thời đại, tội phạm sử dụng công nghệ cao sẽ tiếp tục gia tăng. Chính vì vậy, cần tổ chức thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp cơ bản trên đây nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

 

NVH39 - CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Chống phá cách mạng Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động; trong đó, trọng tâm hàng đầu là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng. Điều này được thể hiện thông qua những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm đòi hỏi mỗi người cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh.

Tuy nhiên, với định kiến chính trị và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng đó là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác - Lênin là lý thuyết suông về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không có thực”,... Chúng đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô với bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp với thế kỷ XXI, không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ khỏi đời sống tư tưởng chính trị xã hội. Chúng cũng tầm thường hóa tư tưởng Hồ Chí Minh,… Mục đích sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng,... để gây “nhiễu” dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân là do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, chúng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; “việc phòng chống tham nhũng thực chất là đấu đá trong nội bộ Đảng”. Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi “thay đổi chế độ”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Cần nhận thấy, tham nhũng là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi chế độ chính trị khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Do đó, dù chế độ chính trị nào, chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa, chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vẫn có nạn tham nhũng. Trong bối cảnh hiện nay, tham nhũng đang là “vấn nạn” đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, luận điệu cho rằng tham nhũng là “hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng” đã cho thấy động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Các thế lực này đang cố tình bỏ qua bản chất, tính xã hội của hiện tượng tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do đó, mọi âm mưu, luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều là biểu hiện của động cơ chính trị đen tối, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác; tích cực vạch trần và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, luận điệu nói trên để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân./.

 

NVH39 - BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ PHÒNG NGỪA, ỨNG PHÓ VỚI BẠO LỰC TRÊN CƠ SỞ GIỚI NĂM 2022

 

Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới được tổ chức từ ngày 15/11 đến ngày 15/12 hàng năm trên phạm vi toàn quốc theo Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, đồng thời tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ, tự phòng ngừa bạo lực, xâm hại cho phụ nữ và trẻ em.

Theo Kế hoạch, Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2022 sẽ diễn ra từ ngày 15/11/2022- 15/12/2022 với chủ đề: “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới”. Đây sẽ là điểm nhấn tạo nên một chiến dịch truyền thông trên phạm vi toàn quốc. Thông qua chiến dịch nhằm thu hút sự quan tâm, đề cao vai trò, trách nhiệm và tính chủ động tham gia hành động của cá nhân, gia đình, cộng đồng, các cơ quan, tổ chức trong việc đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về các chính sách an sinh xã hội, bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ, phòng ngừa bạo lực, xâm hại cho phụ nữ và trẻ em, các thành viên gia đình, người làm công tác bình đẳng giới và trẻ em. Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt tình trạng bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em; đẩy mạnh công tác phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn, xử lý kịp thời các vụ bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em.

Thông điệp của chủ đề năm nay tiếp tục tăng cường tuyên truyền, phổ biến và thực hiện nghiêm túc về công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ và trẻ em gái. Tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng bảo vệ, phòng ngừa bạo lực, xâm hại cho phụ nữ và trẻ em; phát động các phong trào thi đua trong phụ nữ; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Thông qua việc triển khai Tháng hành động đã góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của cán bộ và người dân đối với công tác bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới.   Việc lựa chọn chủ đề “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng, tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới” một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc huy động sự tham gia đồng bộ, cùng vào cuộc một cách chủ động, mạnh mẽ của các cơ quan, tổ chức và mọi người dân trong cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em gái và nam giới trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và cam kết về một cộng đồng an toàn, không bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em.

Thông qua Tháng hành động này, hãy để các thông điệp về bình đẳng giới, phòng ngừa, ứng phó với bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em… lan tỏa mạnh mẽ đến mọi tầng lớp trong xã hội, trở thành phương châm hành động của mỗi chúng ta hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng an toàn, bình đẳng cho tất cả mọi người, nhằm góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, bình đẳng và phát triển bền vững.

NVE39 - NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI MỘT SỐ THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA

 

            Thời gian qua, trên địa bàn thành phố Hải Phòng xuất hiện một số điểm tụ tập đông người tại trụ sở đại diện các ngân hàng SCB liên quan đến trái phiếu, liên quan đến thuê đất của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có số lao động đông. Lãnh đạo thành phố Hải Phòng đã khẩn trương vào cuộc đối thoại và chủ trì đối thoại đẩy mạnh tuyên truyền để người dân có quyền lợi hiểu thêm pháp luật liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ người dân. Tuy nhiên bên cạnh những nhu cầu chính đáng theo quy định pháp luật của nhân dân, một số đối tượng cơ hội đã lợi dụng để tuyên truyền sai sự thật, gây nhiễu loạn thông tin ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quyền lợi nghĩa vụ của nhân dân. Sau đây là một số thông tin về một số thủ đoạn diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta thời gian qua, cần nhận diện để đấu tranh.

            1. Nhận diện một số thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch chống phá nước ta.

            Một là, các thế lực thù địch tìm cách xuyên tạc và xóa bỏ học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, cho rằng, dưới chế độ XHCN, sản xuất hàng hóa cũng bóc lột giá trị thặng dư; qua đó nhằm xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà ta đang xây dựng và phát triển. Đặc biệt, khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, nước ta thừa nhận kinh tế thị trường là đang mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển; “phát triển kinh tế tư nhân là quay lại đúng quỹ đạo để phát triển theo tư bản chủ nghĩa, mở đường cho “tư nhân hóa”, "tự do hóa” về kinh tế”.

            Hai là, lợi dụng chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, thông qua các hoạt động hợp tác, đầu tư… các thế lực thù địch tìm cách từng bước làm biến đổi cơ sở kinh tế, xã hội của CNXH ở nước ta, gây áp lực đòi Việt Nam phải “tư nhân hóa” nền kinh tế. Chúng còn cho rằng, Việt Nam cần tự do hóa các nguồn vốn ngoại tệ, khuyến khích tăng giá đồng nội tệ, nới lỏng chuyển đổi tự do giữa đồng nội tệ và các ngoại tệ (nhất là với đồng đôla Mỹ); thực hiện đồng bộ các giải pháp để tự do hóa thị trường tài chính, xây dựng ngân hàng trung ương thực sự độc lập.

            Ba là, thông qua các hoạt động đầu tư, thương mại, viện trợ kinh tế… các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền, giữa các ngành kinh tế, từ đó dẫn đến sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt, thông qua các hoạt động hợp tác, đầu tư…, các thế lực thù địch tìm cách gây sức ép về chính trị, đặt ra những điều kiện ràng buộc trong quan hệ ngoại giao với nước ta, từ đó hòng can thiệp vào nội bộ của các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị nước ta.

            Bốn là, lợi dụng những tồn tại, hạn chế nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, nhất là lợi dụng việc thời gian gần đây, nước ta xử lý nhiều đối tượng tham nhũng, tiêu cực trong đó có những người nguyên là lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước để xuyên tạc, từ đó phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; kích động, cổ súy, làm ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

            Cần xác định rằng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là “một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường”; là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta được xác định là dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần song kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Nước ta thừa nhận vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân với phương diện là con đường để huy động vốn, phát triển khoa học, công nghệ, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống Nhân dân chứ không phải là mục tiêu của nhiệm vụ xây dựng quan hệ sản xuất mới. Để đảm bảo yếu tố định hướng XHCN, nền kinh tế thị trường ở nước ta không phải là hoàn toàn tự do mà đặt trong “khuôn khổ”, đó là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam.

        2. Một số nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh trong thời gian tới.

            Thứ nhất, tiếp tục chủ động đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, khẳng định vị thế, vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi về thành tựu nước ta đã đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước sau gần 40 năm đổi mới, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Qua đó, nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch chống phá nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

            Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, qua đó, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị, địa phương; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền và lý luận nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và người dân hiểu rõ bản chất của thông tin xuyên tạc; từ đó có khả năng nhận diện và “miễn dịch” trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch về nền kinh tế nước ta.

            Thứ ba, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt các chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt cho Nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; gắn tăng trưởng kinh tế cao với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; tiếp tục phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân; tiếp tục tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

            Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo tinh thần: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị theo hướng đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả, khắc phục sự lạm quyền, lộng quyền và lợi dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên có chức vụ. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng một cách thường xuyên, toàn diện và công khai, có trọng tâm, trọng điểm.

            Những năm tới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hợp tác kinh tế quốc tế. Do vậy, cần tiếp tục vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng triệt để những thời cơ, thuận lợi do hội nhập quốc tế mang lại để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả với hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù địch.

 

NVE39 - MỐI NGUY HẠI TỪ VIỆC XEM NHẸ MỘT CĂN BỆNH NẶNG

 

        Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

            Tự cho mình là tốt, là hay?

         CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”.

            CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

            Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

            Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

            Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

            Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

            Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

            Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng cũng nhất quán cho rằng, CNCN là một trở ngại lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN.

            Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất.

            Việc không phải của mình!

            Vì không nhận thức rõ nguồn gốc, bản chất, mức độ nguy hại của CNCN; lại tự cho rằng bản thân mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện nên tuyệt nhiên đã trở thành người tốt, có nhân cách hoàn thiện, nhiều cán bộ, đảng viên thường sinh ra tâm lý mặc nhiên, bàng quan, vô cảm trước vấn nạn đang hiện hữu nhãn tiền. Nhiều cán bộ, đảng viên không nhận thấy trách nhiệm bản thân mà phiến diện cho rằng việc chống CNCN là việc của cấp ủy, chính quyền, của cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm. Ở nhiều nơi, khi CNCN xuất hiện phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng thì mới “phất cờ” tuyên chiến, đấu tranh theo lối thụ động, vuốt đuôi.

            Lại không ít cán bộ cho rằng, CNCN là bệnh của một cá nhân (cá thể) cụ thể nên rất dễ dàng nhận diện, đấu tranh, triệt tiêu được ngay... Thế nhưng, tất cả những nhận thức ấy hoặc là rơi vào sai lầm, hoặc phiến diện một chiều, hoặc mang nặng sự áp đặt chủ quan.

            Nên nhớ, CNCN chỉ hình thành, tồn tại và “ký sinh” như ung nhọt trong cơ thể, nhân phẩm mỗi con người cụ thể. Do đó, chống CNCN trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi cá nhân, giống như mỗi người phải có trách nhiệm chăm lo sức khỏe bản thân, làm cho đời sống tinh thần trở nên sạch sẽ, lành mạnh.

            Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Thay vào đó, hãy cố gắng tìm trong bản thân xem mình làm điều đó đúng hay sai; có gây tổn hại gì đến người khác không? Có làm điều gì đó trái với luân thường, đạo lý hay không? Có tuân theo các nguyên tắc phổ quát về chân, thiện, mỹ? Một khi, mỗi cán bộ, đảng viên đều nhất quán quyết tâm tự làm mới, tự hoàn thiện bản thân bằng thực tiễn cách mạng thì chắc chắn CNCN sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi.

            Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để.

            Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên.

            Bàn về giải pháp đẩy lùi CNCN, trong bài nói “Phát huy chủ nghĩa tập thể, tiếp tục chống CNCN”, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị từng quan niệm, cho rằng cuộc đấu tranh giữa CNCN và chủ nghĩa tập thể luôn diễn ra hằng ngày, hằng giờ. CNCN tuy rất nguy hiểm và ngoan cố, nhưng nó kỵ chủ nghĩa tập thể như lửa kỵ nước. Chỉ cần mỗi cán bộ, đảng viên có dũng khí đứng lên phất cao ngọn cờ chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về chủ nghĩa tập thể, nghĩ nhiều đến chủ nghĩa tập thể, gây một phong trào làm việc nhiều cho tập thể, tổ chức đông đảo quần chúng hành động theo khẩu hiệu “ta vì mọi người, mọi người vì ta”, nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

 

NVD39 - NHỮNG KẺ “NÚP BÓNG” TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ – CẦN TỈNH TÁO, NHÌN RÕ BỘ MẶT THẬT CỦA CHÚNG

         Vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những kênh khai thác lớn, được xem như một thứ vũ khí nguy hiểm để các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua. Chúng lợi dụng để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thông tin lệch lạc, xuyên tạc tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; từ đó kích động, mua chuộc, lôi kéo, thậm chí ép buộc… tìm mọi cách để làm giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Những kẻ phản động triệt để khai thác, sử dụng các thông tin trên báo chí công khai trong nước nhưng chỉ đăng tải thông tin một chiều, xuyên tạc, bịa đặt, sai sư thật, thêm bớt để vu cáo rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, đòi thực hiện quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí”; như đối tượng Hồng Dân đã tán phát bài “Truyền thông chính sách và báo chí tư nhân”, nội dung xuyên tạc Hội nghị trực tuyến về truyền thông chính sách và tình hình tự do báo chí ở Việt Nam,  phủ nhận vị trí vai trò của nền báo chí cách mạng, đồng thời kêu gọi tư do thành lập các tổ chức báo, đài tư nhân.

Bên canh đó, chúng còn lợi dụng những vấn đề còn thiếu sót, hạn chế, những cái chưa thực hiện được trong các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, thông qua các mánh khóe “dẫn dắt” làm “khuếch đại”, thổi phồng những “sai lầm” của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Để từ đó chúng kích động dư luận xã hội lên tiếng, đả kích, quy chụp rằng Đảng, Nhà nước ta yếu kém, mất dân chủ…

Mặt khác, chúng tìm cách lôi kéo, mua chuộc, để kích động những kẻ cơ hội, bất mãn nhằm huy động lực lượng chống đối. Chúng chống phá bằng cách thông qua các trang mạng, blog cá nhân, lợi dụng phản biện xã hội, đòi cái gọi là “tự do ngôn luận, tự do báo chí”, hướng đến thực hiện việc nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta.

Đứng trước vấn đề trên, chúng ta cần khẳng định: Những kẻ tự thành lập các hội, nhóm “núp bóng” đòi quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí” thời gian qua với nhiều nội dung nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước ta là vi phạm pháp luật Việt Nam. Bởi lẽ bất kỳ một tổ chức nào cũng phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật, được các cơ quan chức năng có thẩm quyền quyết định, chứng nhận. Những kẻ tự công bố thành lập các tổ chức, hội, nhóm tự phong chức danh cho nhau, mà không thực hiện các thủ tục đăng ký, xin phép, chưa được các cơ quan chức năng có thẩm quyền công nhận, thì không có giá trị pháp lý. Thực tế cho chúng ta thấy, những hội, nhóm đó chỉ là tập hợp của những kẻ “ô hợp”, tập hợp những kẻ bất hảo, bất lương, cặn bã của xã hội; trong số chúng có kẻ đã từng có tiền án, tiền sự. Những tổ chức, hội nhóm này hoạt động bởi sự “giật dây”, kích động, chỉ dẫn từ bên ngoài. Chúng được bơm đô la, cơ sở vật chất, hậu thuẫn của những kẻ, những tổ chức ngoài nước chống đối Việt Nam dưới danh nghĩa đòi cái quyền mà chúng cho là “tự do, độc lập về ngôn luận và báo chí”; chúng tập hợp lực lượng để lập lên “xã hội dân sự” tìm cách cung cấp thông tin cho các thế lực thù địch bên ngoài sử dụng. Qua đó bôi nhọ, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước, chế độ, tạo dư luận, hình ảnh xấu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và trên các diễn đàn quốc tế.

Các hành vi, thủ đoạn trên được chúng che đậy rất tinh vi, “núp bóng” danh nghĩa đòi quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí”; mục đích, tôn chỉ của chúng luôn đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc; vì thế chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của những kẻ “núp bóng” này để đấu tranh không khoan nhượng với chúng; góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

 


NVD39 - Thành tựu về thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị của Việt Nam

 

          Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt, đặc biệt là chúng lợi dụng internet, mạng xã hội đưa những ý kiến trái với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh sai tình hình thực tiễn cách mạng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam như: Trang blog VOA Tiếng Việt, Đài Á châu tự do (RFA), Việt Nam Thời Báo và Đài RFI… thường xuyên đăng tảitung thông tin sai sự thật chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhằm gây hoang mang trong dư luận, bôi nhọ nói xấu Đảng, nói xấu chế độ, đồng thời kích động gây chia rẽ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam với Ấn Độ, Trung Quốc.

Thực tế, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã chỉ rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Tại các kỳ Đại hội, Đảng ta vẫn tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Với quan điểm, đường lối đối ngoại đúng đắn đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam không ngừng được mở rộng, phát triển. Đến nay, có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; là đối tác chiến lược toàn diện với các nước Ân Độ, Trung Quốc và Nga. Đặc biệt, Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ Đối tác chiến lược và Đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7, 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu, 76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

Thông qua việc thiết lập quan hệ đối tác với các nước lớn, đã giúp Việt Nam xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, đưa hợp tác trở thành chủ đạo và kênh trao đổi giảm thiểu sự khác biệt trong quan hệ với các nước này, tạo điều kiện để tăng cường lòng tin, tạo ra sự đan xen lợi ích, giúp Việt Nam tranh thủ được nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Đến nay, Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Điều đó minh chứng đất nước Việt Nam đang vững bước phát triển đi lên với một tư thế mới của những con người làm chủ độc lập và làm chủ vận mệnh của mình; với một vị thế mới, vị thế của một đất nước độc lập, tự chủ, hòa bình, ổn định đang trên đà phát triển và chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong các “sân chơi” khu vực và toàn cầu. Đó là những minh chứng cho tính đúng đắn của đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua.

Có thể nói, đường đối ngoại và thực tiễn công tác đối ngoại của Đảng ta sau 35 năm đã khẳng định những thành tựu, bước tiến quan trọng trong công cuộc thực hiện công tác đối ngoại nhất quán của Đảng ta góp phần đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, tập hợp dư luận, gây hoang mang trong dư luận xã hội đó là những quan điểm đi ngược lại đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước và Nhân dân Việt Nam. Mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

 

 

 

 

 

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...