Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2023

NVD39 - PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “CHỐNG THAM NHŨNG LÀM ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM”

 

Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng. Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", làm "nhụt chí" những người khác”.

Tham nhũng là tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, hủy hoại uy tín, danh dự của lực lượng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Và chính tham nhũng hiện nay cũng đang trở thành hiểm họa, vấn nạn mà tất cả các quốc gia đều quan tâm. Trong đó, những quốc gia đang phát triển và chậm phát triển thì vấn đề này như một căn bệnh mà nếu không ngăn chặn được sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường.

“Cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” - đó là lập luận của những cá nhân, tổ chức, các trung tâm truyền thông chống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tập trung tuyên truyền. Luận điệu này được Đài RFA đăng tải trên website ngày 28/11/2022, cho rằng “cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài RFA dẫn lời của Reuters suy diễn rằng, việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”… Đài VOA tiếng Việt hôm 29/11/2022 rêu rao, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Cùng phụ họa với RFA, VOA là các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ bài viết lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

Luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Trước tiên, cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý... Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ. Do đó, lập luận cho rằng chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế là sai trái.

Quan điểm trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước Việt Nam rất rõ ràng, những đối tượng tham nhũng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tích cực thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch trong cả đầu tư công và môi trường đầu tư tư nhân. Như vậy, quan điểm rõ ràng “cây ngay không sợ chết đứng”, đã trong sạch, không tham ô, tham nhũng thì không phải e dè trong công việc của mình. Do đó, không thể cho rằng vì lý do chống tham nhũng nên nhiều cá nhân sợ không dám làm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, tác động đến các chuỗi cung ứng trong kinh tế.

Cần phải nhận thức rằng, tình trạng tham nhũng làm suy giảm các lực lượng cạnh tranh vốn có của thị trường, gây ra sự cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tham nhũng làm cạn nguồn đầu tư nội địa, làm giảm đáng kể các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tham nhũng không chỉ gây trở ngại cho hoạt động kinh tế vĩ mô mà còn kìm hãm hoạt động của các hãng riêng lẻ. Cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam tạo động lực không ngừng cho đầu tư, phát triển kinh tế, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Để đối phó với tình trạng này, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ban hành Công ước về chống tham nhũng vào ngày 9/12/2003. Cuộc chiến chống tham nhũng cũng là một phần không thể thiếu đối với những quốc gia phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia Đông Nam Á... đều tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng để tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội. Các quốc gia tổ chức triển khai cuộc chiến chống tham nhũng tạo động lực to lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, một quốc gia trong khối ASEAN là Indonesia đã tổ chức cuộc chiến chống tham nhũng rất bài bản với việc công bố “đường dây nóng” để người dân có thể trực tiếp thông báo những vấn đề họ bức xúc; thành lập Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia (KPK); thành lập Tổ cố vấn của Tổng thống về chống tham nhũng... Những việc làm quyết liệt đó đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở đất nước này. Do đó, hoàn toàn không có lý lẽ nào để tô vẽ, nguỵ biện rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế.

Thời gian qua, các thế lực chống phá Việt Nam luôn viện dẫn nhiều lý do để chỉ trích Việt Nam, khi cuộc chiến chống tham nhũng đang cho thấy hiệu quả rất tích cực thì họ cũng không muốn điều đó xảy ra. Những thông tin sai trái từ các cá nhân, tổ chức, trung tâm chống phá Việt Nam về cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi người dân cần cảnh giác, không phụ họa, chia sẻ trên mạng xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định: “Công tác chống tham nhũng, tiêu cực đã trở thành xu thế không thể đảo ngược”; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm nản chí, chùn bước, sợ sai không dám làm của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm chùn bước những ai có động cơ không trong sáng, đã trót "nhúng chàm" và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”.

Cuộc chiến chống tham nhũng đi vào thực chất, không còn vùng cấm và việc nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía người dân chính là động lực để cuộc chiến này càng thêm vững vàng với mục tiêu xây dựng một xã hội thực sự trong sạch, vì quyền lợi của mọi người dân, vì lợi ích của quốc gia dân tộc.

NVD39 - Nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

 

Các thế lực thù địch đã và đang ráo riết, tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, mục đích của chúng là: “tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, hòng tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. Một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch tấn công nhiều nhất là vai trò lãnh đạo, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã đạt được trong suốt 93 năm qua.

Trong quá trình 93 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của gần bốn thập kỷ đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước, qua gần bốn thập kỷ đổi mới, cho thấy: Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tại Đại hội XIII của Đảng, Đồng chí Tổng bí thư đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ, tự cho mình quyền cầm đầu nhân dân” như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch. Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua. Mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng lấy hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; vì Nhân dân mà tôi luyện, trưởng thành. Ngược lại, Nhân dân luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay, góp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng đưa đất nước vượt qua những khó khăn. “Ý Đảng, lòng dân” chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam.

Nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh với những thủ đoạn, luận điệu, quan điểm sai trái chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Bởi đây là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta; cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước. Lợi dụng những hạn chế của công cuộc đổi mới, với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch không ngừng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả; đòi “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”; chúng khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; chúng lập luận rằng: “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”, “thể chế Việt Nam hiên nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Chế độ một đảng cầm quyền là cản trở sự phát triển của đất nước”...

Đồng thời chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối, các cương lĩnh, văn kiện của Đảng. Chúng cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhân dân, đối lập Đảng với Nhà nước. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, chúng ra sức công kích, xuyên tạc con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Thực chất là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới, trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là “linh hồn” của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động “phản biện xã hội”. Chúng triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm” để bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lợi dụng các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng… từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các đồng chí lãnh đạo Đảng và công tác xây dựng Đảng…

Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện, để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta Khẳng định thành tựu trong 93 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã hồi sinh và không ngừng thay da đổi thịt. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc hậu và không có tên trên bản đồ thế giới đã vươn lên tiến cùng thời đại, làm rạng danh non sông dòng giống Lạc Hồng. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, cùng với phẩm chất, năng lực, đạo đức và uy tín của mình, cùng với sự tin yêu của nhân dân, chắc chắn rằng: hiện tại và tương lai, sự lãnh đạo của Ðảng ta vẫn sẽ là sự lựa chọn duy nhất, sự ủy thác tín nhiệm cao nhất của Nhân dân và Dân tộc dành cho Đảng. Đó là niềm tự hào, là trọng trách lớn lao của Đảng trước Đất nước, Nhân dân và Dân tộc, đây điều mà không một đảng chính trị nào khác có được. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết không từ bỏ quyền độc tôn lãnh đạo đất nước và xã hội mà nhân dân đã ủy thác; Nhân dân và Dân tộc Việt Nam không cần, không chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch thường rêu rao.. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo./.

 

NVC39 - CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG LÀ GẠN ĐỤC, KHƠI TRONG, KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “ĐẤU ĐÁ, THANH TRỪNG NỘI BỘ"

 

            Lâu nay trên không gian mạng vẫn thường nghe các tổ chức phản động rêu rao rằng: “Các đảng viên Cộng sản cao cấp đấu đá, thanh trừng nhau để tranh giành quyền lực, lợi ích nhóm, đấu đá, thanh trừng nội bộ". Chúng xuyên tạc rằng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta thực chất là đang thanh trừng phe cánh, đấu đá nội bộ... Nhìn nhận những năm qua chúng ta thấy những điều thật sự rõ ràng như sau:

          Việc xử lý những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, gây hậu quả nghiêm trọng... là sự cụ thể hóa quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Những người bị xử lý từ xưa đến nay có cả Ủy Viên bộ Chính trị đến những Đảng viên bình thường. Nghĩa là “không có ngoại lệ”, “không có vùng cấm”, không dung túng cho cái xấu, cái tiêu cực hoành hành. Đảng và nhà nước ta xử lý cán bộ Đảng viên vi phạm theo điều lệ Đảng, theo tinh thần thượng tôn pháp luật, đúng người, đúng tội và có lý, có tình chứ không phải là “thanh trừng nội bộ” như cái cách mà đám xỏ lá ba que vẫn rêu rao, xuyên tạc.

          Cổ nhân có câu “nhân vô thập toàn” và Đảng cũng không phải là ngoại lệ. Trong mỗi thời kỳ đều luôn có những loài sâu mọt, thậm chí chúng đã chui sâu, leo cao để đứng trong hàng ngũ của những người Cộng sản. Những kẻ thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, cơ hội, trở cờ để hại dân, phản Đảng. Những kẻ đó, thời nào cũng có và dù sớm hay muộn thì chúng cũng bị trừng trị thích đáng.

          Loại bỏ chúng ra khỏi hàng ngũ của Đảng, để góp phần làm trong sạch Đảng, để xứng đáng “vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân”. Cổ nhân dạy "cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm; tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Những người không tu thân, không tề gia được thì sao có thể trị quốc, bình thiên hạ. Bất kể là ai, vi phạm thì tất bị xử lý; tiến hành cắt bỏ u nhọt để cứu cơ thể, diệt trừ sâu bọ để vườn rau tốt tươi. Đảng cộng sản Việt Nam muốn trường tồn, phát triển và được nhân dân tin yêu thì tất yếu phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự khắc phục khuyết điểm.

          Đấu đá, tranh giành và thanh trừng nội bộ thì phải kể đến chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn, một chế độ được Việt Tân và các tổ chức phản động ngợi ca hết lời và tỏ ý vô cùng tiếc nuối. Nhìn lại thời kỳ đất nước chưa được giải phóng, chế độ ngụy Sài Gòn do bè lũ tay sai Diệm, Thiệu cầm đầu, chúng ta sẽ thấy đó là thời kỳ của những cuộc thanh trừng đẫm máu giữa các phe phái. Có thể dễ dàng nhận thấy các sự việc “thanh trừng nhau” như: Cuộc đảo chính năm 1960, năm 1963, giai đoạn 1964-1965…

          Từ những luận điểm trên, có thể khẳng định rằng: “đấu đá, thanh trừng nội bộ” chỉ có ở ngụy Sài Gòn và lũ vong quốc nô! Chỉ tồn tại ở đám có dòng máu “liếm gót giày tây béo mượt đầu” gia truyền chúng mày mà thôi! luận điệu của chúng là luận điệu của một lũ lừa đảo đầu sỏ, không hơn, không kém! Dù các ngươi có dùng trăm mưu hèn và ngàn kế bẩn thì cái kết sẽ là sự thất bại, đớn hèn và thật nhục nhã như cái cách mà tên phản quốc đã khai sinh ra tổ chức khủng bố Việt Tân là Hoàng Cơ Minh phải nhận mà thôi!

          Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chiến thắng thù trong, giặc ngoài cho dù chúng là ai, lịch sử của dân tộc đã chứng minh chân lý đó. Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang gặt hái được nhiều thành quả, được nhân dân tin yêu và đất nước ngày càng phát triển, là minh chứng rõ nét nhất. “Trăng cứ sáng, chó cứ sủa và lò cứ cháy sáng lên”./.

 


 

NVB39 - Sự hy sinh thầm lặng của người phi công mẫu mực

 

Thiếu tá Trần Ngọc Duy, Phó phi đội trưởng Phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371, phi công quân sự cấp 3 với hơn 725 giờ 25 phút  bay luôn được đồng chí, đồng đội tin yêu bởi sự giản dị, chân thành và tinh thần trách nhiệm trong công tác.

Sinh ra và lớn lên ở Tân Phong, Vũ Thư, Thái Bình ngay từ nhỏ anh đã mơ ước được chinh phục bầu trời. Năm 2010 anh đăng ký nhập ngũ và được tuyển chọn đào tạo Phi công quân sự tại Trường SQKQ. Là học viên phi công, anh trải qua quá trình đào tạo, huấn luyện khắt khe ở nhà trường với rất nhiều khoa mục đòi hỏi tối đa về thể lực, khả năng chịu đựng, rèn luyện ý chí, bản lĩnh và tư duy. Được huấn luyện trên 2 loại máy bay YaK-52 và L-39, lúc nào anh cũng tâm niệm phải nỗ lực cố gắng cao nhất để nắm vững lý thuyết và thực hành, nâng cao thể lực, sức chịu đựng để làm chủ máy bay. Với tố chất nhanh nhạy và sự cầu thị, ham học hỏi, rèn luyện bền bỉ, năm 2014 anh đã tốt nghiệp ra trường và được điều về công tác tại Trung đoàn 921, Sư đoàn 371.

Vào 12 giờ 9 phút, ngày 31-1-2023, máy bay Su 22, số hiệu 5873 do Đại úy Trần Ngọc Duy - Phó Phi đội trưởng, Tham mưu trưởng Phi đội 1, Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân điều khiển đã cất cánh chuyến bay thứ nhất, bài bay huấn luyện số 206. Lúc 12 giờ 27 phút, trong lúc hạ cánh, máy bay đã gặp nạn, phi công được lệnh nhảy dù nhưng cố cứu máy bay. Tuy nhiên, sau đó, máy bay bị rơi và phi công đã hy sinh.

          Đồng chí được phong quân hàm Thiếu úy năm 2014, được thăng quân hàm Trung úy năm 2016, Thượng úy năm 2019, thăng quân hàm trước niên hạn từ cấp bậc Thượng úy lên Đại úy năm 2021. Đồng chí là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.

          Ngày 1-2, Bộ Quốc phòng đã quyết định truy thăng quân hàm sĩ quan trước thời hạn từ Đại úy lên Thiếu tá đối với phi công Trần Ngọc Duy, thuộc Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân, đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bay huấn luyện chiến đấu. Đồng thời, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quyết định truy tặng Huy hiệu "Tuổi trẻ dũng cảm" cho Thiếu tá Trần Ngọc Duy, vì đã dũng cảm hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ.

          Anh là tấm gương sáng cho tuổi trẻ quân đội nói riêng, tuổi trẻ cả nước nói chung, về tinh thần nhiệt huyết cống hiến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời nêu cao tinh thần khắc phục mọi khó khan, thử thách, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Có thể thấy rằng ngày ra di của anh luôn là sự tiếc thương với thế hệ trẻ cả nước nói chung,  cán bộ, đảng viên, chiến sỹ trong Học viện Chính trị nói riêng, từ đó quyết tâm nỗ lực, không ngừng học tập, nghiên cứu, trau dồi tri thức để hoàn thiện nhân cách người học viên sỹ quan ưu tú, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cũng như nếu cao phẩm chất anh “Bộ đội Cụ Hồ”.

NVB39 - MỘT SỐ THỦ ĐOẠN, PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO THỜI GIAN GẦN ĐÂY

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương.

Chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế. 

Triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

NVA39 - PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI XOÁ BỎ ĐIỀU 117 TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

 

Pháp luật là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội loài người, phản ánh ý chí của Nhà nước, giai cấp thống trị. Sự xuất hiện của Nhà nước hay nói cách khác là giai cấp cầm quyền cũng chính là nguyên nhân cho sự ra đời của pháp luật, hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật dựa trên ý kiến tổng hợp, đóng góp của người dân, từ đó đưa ra các qui định chung điều chỉnh, quản lý xã hội. Như vậy, pháp luật ra đời gắn liền với lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của những người dân trong xã hội đó. Pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mang lại lợi ích chung cho toàn dân tộc. Thế nhưng, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số người dân, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước tìm cách tác động, hướng lái, tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ một số điều trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm thay đổi bản chất, giá trị; bình luận sai lệch một số điều luật và sự điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này. Điều 117, BLHS quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Liên quan đến hoạt động kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, BLHS là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”.  Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS với nội dung qui kết rằng: “Điều 117  vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các đối tượng chống phá Nhà nước không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xóa bỏ Điều 117, BLHS để đạt được các mục tiêu, ý đồ phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao các đối tượng phản động, chống phá lại kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS?

Kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, các đối tượng phản động, chống phá nhằm tác động trực tiếp đến nền tư pháp Việt Nam. Các lập luận, quan điểm xóa bỏ Điều 117, BLHS nhằm tạo ra kẽ hở về mặt pháp lý cho các phần tử phản động, chống phá có thời cơ để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Có thể nói rằng, muốn có cơ hội cho hoạt động tuyên truyền, tán phát các tài liệu chống phá Nhà nước mà không bị các cơ chế pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên các đối tượng cần phải kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS cũng là lý do để tuyên truyền, xuyên tạc, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, can thiệp vào quyền “tự do ngôn luận” nói lên tiếng nói của công dân. Các hoạt động kêu gọi xóa bỏ điều luật nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chống phá nhà nước tuyên truyền, can thiệp vào các lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội của Việt Nam trong vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những mục tiêu mà các đối tượng phản động, chống đối đặt ra là có thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, BLHS nói riêng, BLHS nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, BLHS đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, không thể cho rằng Điều 117, BLHS là “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, bởi lẽ trên thực tế ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ và đó cũng là quyền cơ bản của công dân theo qui định của Hiến pháp. Tuy nhiên, ở đây cần phải hiểu rằng, quyền tự do ngôn luận luôn gắn với nghĩa vụ của công dân, gắn với chế độ chính trị của từng quốc gia, do đó cần phải hiểu đúng các qui định về vấn đề này. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các giới hạn, quy định riêng về các quyền tự do ngôn luận để phù hợp với đặc thù của chế độ xã hội, tình hình chính trị, văn hóa của các quốc gia đó. Bàn về vấn đề này, năm 1993, Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna (Áo), đại diện các quốc gia đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”…

Các lập luận, viện dẫn các thông tin cho rằng Điều 117, BLHS “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” là hoàn toàn không có cơ sở, thiếu căn cứ để ràng buộc. Rõ ràng, đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống đối nhằm hướng đến mục đích, ý đồ xâm phạm an ninh quốc gia, đe dọa đến sự tồn tại của chế độ, của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam./.

NVA39 - HIỆP ĐỊNH PARIS – BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ, ĐỈNH CAO THẮNG LỢI CỦA NGOẠI GIAO VIỆT NAM

 

Cách đây 50 năm, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris - hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết tại Paris (Pháp). Đây là bước ngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới cho cuộc chiến đấu của dân tộc ta, tiến lên giành những thắng lợi mới mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

         Thế nhưng gần đây nhân sự kiện 50 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/01/2973 - 27/01/2023), các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện chính trị trọng đại này để tiếp tục tuyên truyền, tán phát các bài viết xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giá trị, thành quả của Hiệp định Paris đối với cách mạng Việt Nam. Ngày 24/01/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài: “50 năm Hiệp định Paris: Thắng lợi vĩ đại hay hòa bình cay đắng”; ngày 29/01/2023, trên trang facebook Chân Trời Mới Media, đối tượng Jackhamer Nguyễn tán phát bài “50 năm sau Hiệp định Paris, Việt Nam không còn lịch sử”, nội dung xuyên tạc lịch sử; phủ nhận công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thành tựu xây dựng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam.

          Chúng ta khẳng định rằng Hiệp định Paris vai trò, ý nghĩa lịch sử to lớn đối với cách mạng Việt Nam, đó là đỉnh cao thắng lợi của ngoại giao Việt Nam trong gần 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, là minh chứng hùng hồn cho việc vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho chủ trương “thêm bạn, bớt thù”, dự báo và nắm đúng thời cơ để đi đến thắng lợi quyết định của Đảng ta, góp phần thắng lợi vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Quay ngược lại lịch sử, Hiệp định Paris là cuộc đọ sức trên mặt trận ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Từ năm 1965, cùng với việc đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao, với danh nghĩa  “để giải quyết vấn đề Việt Nam” nhưng thực chất là “đòi Việt Nam thương lượng không điều kiện”. Trước tình hình đó, Đảng ta đã khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (tháng 1-1967), Đảng ta chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”, qua đó nâng đấu tranh ngoại giao lên thành mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận chính trị và mặt trận quân sự, có giá trị như một bản Cương lĩnh đấu tranh ngoại giao của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tháng 5-1968, Hội nghị Paris chính thức diễn ra, đánh dấu cuộc đọ sức trên mặt trận ngoại giao, tạo cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Cuộc đàm phán ở Hội nghị Paris đã diễn ra đầy cam go, phức tạp, kéo dài gần 5 năm, với hàng trăm phiên công khai và bí mật, với khoảng 500 cuộc họp báo và 1.000 cuộc phỏng vấn, đàm phán. Cuối cùng, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Paris) ngày 22-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Henry Kissinger ký tắt. Ngày 27-1-1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký chính thức, kết thúc cuộc đàm phán lâu dài nhất, khó khăn, phức tạp nhất và thắng lợi vẻ vang nhất trong lịch sử ngoại giao của nước ta.

Thắng lợi của Hiệp định Paris đã buộc quân Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam, nhân dân Việt Nam hoàn thành mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”. Đây là thắng lợi quyết định, bước ngoặt lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tạo thời cơ thuận lợi để quân và dân Việt Nam tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; khẳng định bản chất cách mạng, khoa học, sáng tạo và tầm vóc thời đại trong đường lối chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sự trưởng thành vượt bậc, những đóng góp to lớn của ngành ngoại giao Việt Nam. Bên cạnh đó, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đến nay, những bài học về thắng lợi của Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đó là: Kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt khôn khéo trong sách lược, theo đó quá trình đàm phán thương lượng để đi đến ký kết Hiệp định, ta luôn dựa trên cơ sở cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo, khôn khéo về sách lược “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tích cực và chủ động sáng tạo. Ta chủ trương hòa bình phải gắn liền với độc lập, tự do thực sự. Luôn giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao; cùng với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán, ta đã đẩy mạnh các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam.

Kế thừa những giá trị sâu sắc từ sau Hiệp định Paris, chính sách đối ngoại, ngoại giao cây tre khẳng định chính sách trước sau như một của Việt Nam: Độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, cùng có lợi. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 191 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, với tổng thể các mối quan hệ đặc biệt, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO...

Trước bối cảnh tình hình khu vực và thế giới hiện nay có nhiều thay đổi với diễn biến khó lường nhưng những bài học quý báu từ cuộc đàm phán lịch sử tại Paris cách đây nửa thế kỷ vẫn còn vẹn nguyên giá trị và cần được vận dụng hiệu quả trong triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, đập tan luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị, bài học quý báu mà Hiệp định Paris để lại cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt nam.

 

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

NVD40 - Vững vàng niềm tin dưới lá cờ Đảng

 

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Ðó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ vĩ đại và gần đây nhất là cuộc chiến chống dịch bệnh covid-19. Chúng ta luôn nhận thức được rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn là hạt nhân nòng cốt đưa cách mạng, dân tộc Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Ðảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa rất nhiều cán bộ, đảng viên ta luôn anh dũng, gương mẫu, vượt gian khổ đi trước hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.

Trên mặt trận đấu tranh với các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chống đối chính trị; tình trạng suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chúng ta đã đạt được nhiều kết quả to lớn, giữ vững niềm tin của Nhân dân với Đảng. Có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Những thành tựu đó ngày càng củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; tạo động lực, khí thế mới đưa nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Đảng đã mang lại 93 mùa Xuân tươi đẹp cho đất nước ta. Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, dân tộc anh hùng, các tổ chức Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn  Thanh niên Học viện chung nói chung và mỗi đoàn viên, hội viên của các tổ chức quần chúng Hệ Quốc tế nói riêng hướng tới kỷ niệm 93 năm ngày Thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/2/1930 – 03/2/2023) với niềm tự hào to lớn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, thi đua thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh toàn diện, xây dựng Đảng bộ Học viện trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị và Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”./.

NVD40 - Tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm xấu độc trên không gian mạng

 

Ngày nay, Internet đã và đang có những bước tiến vượt bậc, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển, biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, Internet ngày càng trở nên phổ cập và là nhu cầu thiết yếu của một bộ phận không nhỏ người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích, Internet lại đang trở thành công cụ để các thế lực thù địch gia tăng các hoạt động phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

          Hiện nay, hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động đang trở nên phổ biến, được lan truyền rộng rãi với sự hỗ trợ đắc lực của Internet, mạng xã hội và các sản phẩm công nghệ thông minh. Các thông tin sai trái, thù địch được phát tán một cách nhanh chóng, rộng rãi trên Internet dưới nhiều hình thức khác nhau như tuyên truyền thông qua các trang thông tin, báo chí điện tử; mạng xã hội (facebook, twitter, youtube, blogsport...); thư điện tử (email)...

          Các thế lực thù địch, các phần tử phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc các vấn đề về biển Đông; vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; lợi dụng các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm như những bất cập trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, xã hội; công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo, việc Quốc hội họp bàn thông qua hai dự án luật: Luật An ninh mạng và Luật đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt...  cũng như tâm lý bài Trung Quốc để xuyên tạc, bịa đặt và kích động quần chúng nhân dân phản đối, tập trung đông người, tuần hành, biểu tình trái pháp luật, gây rối an ninh trật tự...

          Nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, trong mọi giai đoạn lịch sử, Đảng ta luôn chú trọng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, xem đó là một nhiệm vụ then chốt của công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Đại hội Đảng đã xác định công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các bộ, ban, ngành, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền các cấp và quần chúng nhân dân.

          Xác định rõ tầm quan trọng của công tác đấu tranh, phản bác với các quan điểm sai trái, thù địch, trong những năm qua, Đảng ủy, ban giám đốc Học viện, lãnh đạo chỉ huy các phòng, ban, hệ quản lý học viên đã lãnh đạo và thành lập nên nhiều trang thông tin nhằm đưa những thông tin chính thống, các bài viết vừa có tính định hướng dư luận đồng thời cũng đấu tranh với những luận điệu sai trái giúp cho người đọc có cơ sở và căn cứ chính thống hơn.

          Các đồng chí được giao viết tin bài tích cực, chủ động xây dựng các tin, bài phản bác các nội dung sai trái, thù địch. Nội dung đấu tranh tập trung phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ định giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam đặc biệt là trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, đối ngoại, dân tộc và tôn giáo.

          Nhằm phát huy hiệu quả hoạt hơn nữa hoạt động của công tác đấu tranh, phản bác với các quan điểm sai trái, thù địch, Học viên đã tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ; thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả hoạt động. Cán bộ, học viên đã xây dựng các bài viết tuyên truyền về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chia sẻ những bài viết hay, ý nghĩa, những hình ảnh đẹp trong cuộc sống; tổ chức đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội, phản động trên các trang mạng xã hội như facebook, youtube... 

          Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, thời gian tới Học viện sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp, trong đó đặc biệt chú trọng làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện các thông tin, bài viết sai trái, thù địch để xác định nội dung, phương pháp đấu tranh, phản bác phù hợp chia sẽ các nội dung để các khoa, hệ học viên xây dựng những bài việc từ đó làm cơ sở lựa chọn các bài hay, ý nghĩa có tính bút chiến cao. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, phản bác nhất là trên Internet và mạng xã hội. Qua đó, góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước nhà.

 

NVH39 - Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên mạng xã hội

             Biển Đông ngày càng được định vị quan trọng hơn trong các chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm điểm tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt là các nước lớn. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông.     

Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


        Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...


Có thể nhận thấy, những căng thẳng trên biển Đông đã trở thành “miếng mồi béo bở” để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, chống phá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo; từ đó chia rẽ mối quan hệ mật thiết của Đảng với nhân dân; hạ vệ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi nên cần phải có những cách thức để đấu tranh phản bác có hiệu quả.


Đảng ta khẳng định Bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”.  


Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển”.


            Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của V

NVG40 - KẾT HỢP “XÂY” VÀ “CHỐNG” LỜI BÁC HỒ DẠY CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân thể hiện sâu sắc ở việc kết hợp “xây” và “chống”; đề cao nhiệm vụ “xây”, đồng thời rất coi trọng nhiệm vụ “chống”. Tư tưởng của Người còn nguyên giá trị, có ý nghĩa thời sự đối với hiện nay, rất cần nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn xây dựng Đảng, Nhà nước ta trong bối cảnh mới. Để “xây” và “chống” hiệu quả cần nắm vững “những lầm lỗi chính” của người cán bộ, đảng viên, do Người chỉ ra, đó là:

1. Trái phép - Những kẻ Việt gian phản quốc, chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán.

2. Cậy thế - Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

3. Hủ hoá - Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu?

4. Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai.

5. Chia rẽ - Bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận với nhau. Thậm chí có đôi nơi để đất ruộng bỏ hoang, nông gia ta thán. Quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung.

6. Kiêu ngạo - Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ.

Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng.

Bác Hồ luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên và mọi người đề phòng trước và sau đó là khắc phục những biểu hiện:

👉Một là, đặc quyền, đặc lợi. Chúng ta phải xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải tẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng chức quyền để làm lợi cho cá nhân, làm như thế tức là sa vào chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cá nhân là cội nguồn sinh ra những thói hư, tật xấu.

👉Hai là, tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là giặc nội xâm , “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người phê bình những người “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”. Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Do đó, phải luôn nhắc nhở, rèn luyện bản lĩnh của người cán bộ thường xuyên, liên tục, tránh phải xử lý hậu quả do chính cán bộ đảng viên của mình gây ra.

Năm 1946, Bác Hồ đã ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Tiếp đó, Bác ký lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công là tội tử hình. Đồng thời, năm 1950, Bác Hồ đã bác đơn xin tha tội tử hình của Trần Dụ Châu - nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô.

Theo Bác, một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan, nguy hiểm và với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo.

Bác Hồ là tấm gương sáng trong việc tích cực thực hành chống lãng phí. Bác trân trọng từng đồng xu, bát gạo do dân đóng góp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo Bác, lãng phí được hiểu là lãng phí sức lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền của. Liên quan đến bệnh tham ô, bệnh lãng phí là bệnh quan liêu. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải xóa sạch bệnh quan liêu.

👉Ba là, “chia rẽ”, “kiêu ngạo” là những hành động gây mất đoàn kết, gây rối cho công tác tổ chức. Bác kịch liệt phê phán việc lợi ích nhóm, các nhóm lợi ích kéo bè, kéo cánh, con ông cháu cha, con cái, anh em họ hàng không có năng lực, đạo đức… Người có tài, có đức lại không được trọng dụng. Đôi khi, người lãnh đạo quên rằng việc nước là việc công, chứ không phải việc riêng của ai. Trong chính quyền thì chia rẽ nhau, làm sao lãnh đạo được nhân dân. Bên ngoài có người còn kiêu ngạo, cậy thế, cửa quyền, “tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi... Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính phủ. Bác chỉ rõ “Những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, như: cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo và chỉ rõ: “Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Theo Bác: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”.

Bác dạy rằng muốn kiểm soát “phải có hệ thống, phải thường làm…”, “người kiểm soát phải là những người rất có uy tín” và “không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, “kết hợp kiểm soát “từ dưới lên” và “từ trên xuống”. Tức là công tác, kiểm tra giám sát phải được liên tục, đồng bộ ở mọi cấp, mọi nơi. Cơ quan thực hiện việc giám sát phải là cơ quan có đủ uy tín, trách nhiệm.

Bác căn dặn: kiên quyết chống ba thứ, trong đó có “giặc nội xâm”, “giặc trong lòng” là tham ô, lãng phí, quan liêu. Việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên được Bác đặc biệt quan tâm và thường xuyên nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Theo Bác, muốn xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, phải kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt để chặn đứng cái xấu, tiến tới tiêu diệt tận gốc những nguyên nhân đã gây ra nạn tham ô, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, hách dịch, chủ nghĩa cá nhân.

Đó là cách tốt nhất để chế độ ta khỏe mạnh, phát triển, dân tin yêu, cũng giống như cơ thể con người muốn khỏe mạnh, lao động được tốt, nhất thiết phải phòng bệnh, không được để nhiễm bệnh./.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...