Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

NVE39 - LÀM RÕ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT NƯỚC NHÀ 80 NĂM QUA

 

Chiều 1/3, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Đề cương về văn hóa Việt Nam và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng đối với văn học, nghệ thuật 80 năm qua”.

Các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Trần Hồng Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, chủ trì Tọa đàm.

Tọa đàm khoa học “Đề cương về văn hóa Việt Nam và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng đối với văn học, nghệ thuật 80 năm qua” là cuộc Tọa đàm chuyên sâu về sự kế thừa, phát triển của văn học, nghệ thuật nước ta trong 80 năm qua trên cơ sở những luận điểm gốc, cốt lõi của Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943).

Mục tiêu chủ yếu của Tọa đàm là căn cứ vào nội dung của Đề cương về văn hoá Việt Nam (1943), xuất phát từ đời sống lý luận, phê bình và thực tiễn phát triển văn học, nghệ thuật nước nhà để đánh giá, làm rõ những vấn đề cơ bản: Phân tích làm rõ quan điểm cơ bản về văn hoá, văn nghệ và giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, lâu bền của Đề cương về văn hoá Việt Nam (1943); làm rõ quá trình kế thừa, vận dụng và phát triển những nội dung quan trọng của Đề cương trong việc xây dựng và phát triển tư duy lý luận văn nghệ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; đề xuất định hướng và những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển để xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Phát biểu khai mạc, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương khẳng định về tầm quan trọng của bản Đề cương trong lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền văn hóa nghệ thuật nước ta; nhấn mạnh: “Đề cương về văn hóa Việt Nam ngay từ khi ra đời đã khẳng định tư duy, tầm nhìn, trí tuệ của Đảng ta về cách mạng và văn hóa; như ngọn đèn pha soi rọi cho những người cộng sản và toàn dân nhìn thấy con đường mình đang đi và sẽ đi tới. Ban Tổ chức Tọa đàm mong muốn và đề nghị các đại biểu tập trung nhiều hơn cho việc đánh giá sự ảnh hưởng của Đề cương về văn hóa đối với văn hóa nói chung, với sự phát triển của văn hóa, văn nghệ nước nhà 80 năm qua; những thành tựu nổi bật của nền văn học, nghệ thuật chúng ta đã gặt hái được; những đề xuất, kiến nghị quan trọng, cấp thiết hôm nay với Đảng và Nhà nước”.

Phát biểu tại Tọa đàm, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đề nghị Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương sau Tọa đàm kiến nghị cụ thể với Chính phủ để xây dựng chương trình tổng thể về phát triển văn hóa Việt Nam. Phó Thủ tướng mong muốn các nhà nghiên cứu, các đại biểu, nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và có những dự báo để văn hóa, văn nghệ tham gia đóng góp sự phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.

Phát biểu kết luận Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: Đề cương về văn hóa Việt Nam là văn kiện đầu tiên của Đảng về văn hóa, văn nghệ, có tác dụng to lớn định hướng phát triển văn hóa văn nghệ suốt 80 năm qua. Đặc biệt, ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam "dân tộc hóa", "khoa học hóa", "đại chúng hóa" có sức sống mạnh mẽ, trường tồn.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, trên cơ sở phát triển tư tưởng cốt lõi của Đề cương, Đảng ta đặc biệt chú trọng việc xây dựng, phát triển, phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định: "Tài năng, văn học nghệ thuật là vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học - nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp".

Tuy nhiên, tình hình thế giới và trong nước hiện nay đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Thế giới tiếp tục phát triển theo hướng đa cực, với nhiều khuynh hướng khác nhau, vừa quốc tế hóa và vừa khu vực hóa, vừa hợp tác vừa cạnh tranh về chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh, ngoại giao và văn hóa. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư tạo những tiền đề quan trọng để hiện đại hóa các ngành văn hóa, nghệ thuật nhưng cũng nảy sinh những thách thức trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và quá trình lãnh đạo, quản lý các hoạt động văn hóa, văn nghệ.

“Trước tình hình phức tạp đó, chúng ta cần phải kiên định đường lối xây dựng nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, dân chủ và nhân văn; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng về văn hóa mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: Tập trung nghiên cứu và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực của con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.” - Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị Hội đồng tiếp tục tập trung tổ chức một số công tác trọng tâm là: Tham gia tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tổng kết công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam sau 50 năm đất nước thống nhất, tham gia Chương trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cũng đề nghị Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương cần nghiên cứu đề xuất những giải pháp khả thi, đưa đường lối của Đảng vào đời sống, quảng bá ngày càng sâu rộng văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ nền văn học nghệ thuật để chúng ta có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật thể hiện chân thực đời sống nhân dân, dân tộc, giàu giá trị nhân văn và giá trị thẩm mỹ, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc và thời đại.

NVE39 - MỘT SỐ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI

             Mới đây, tại cuộc họp về Chương trình tổng thể quốc gia về phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2023-2030, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 về xây dựng, phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Huy động trí tuệ nhân sĩ, trí thức, các nhà văn hóa

Ghi nhận những cố gắng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong chuẩn bị Chương trình tổng thể quốc gia về phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2023-2030, tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đặt ra trong dự thảo Chương trình cần phải tương xứng với quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra tại Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng như các Nghị quyết, Kết luận của Đảng (Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Kết luận số 76/KL-TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị), nhất là quán triệt sâu sắc những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Theo Phó Thủ tướng, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước, đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, cần xây dựng Chương trình tổng thể mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam cho giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải khẩn trương tổng kết các chương trình văn hóa trước đây, nhất là chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016-2020; nghiên cứu các ý kiến tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam; chủ trì phối hợp các bộ, ban, ngành, địa phương, huy động sự tham gia của các tổ chức, đội ngũ nhân sĩ, trí thức, các nhà văn hóa để xây dựng Đề án về Chương trình tổng thể mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam cho giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045.

7 nhiệm vụ cấp bách

Thời gian từ nay đến năm 2025, Phó Thủ tướng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương tiếp thu ý kiến của các bộ, ban, ngành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa; rà soát các mục tiêu, nhiệm vụ của các chương trình mục tiêu có liên quan về văn hóa; căn cứ vào Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, hoàn thiện Chương trình cấp bách chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2023-2025.

Chương trình cấp bách cần có các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, dự án cụ thể có tính khả thi, nhằm giải quyết một số khó khăn, vướng mắc, khơi thông các nguồn lực, khơi dậy và phát huy các tài nguyên văn hóa, thúc đẩy phát triển bền vững đất nước, phù hợp Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, đặc biệt bổ sung nhiệm vụ, giải pháp quan trọng mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, trong đó tập trung triển khai nhóm các nhiệm vụ cụ thể:

Thứ nhất, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp các bộ, ngành xây dựng chương trình đổi mới đồng bộ hệ thống pháp luật về văn hóa, thể chế hóa các Nghị quyết, chủ trương của Đảng; hoàn thiện các cơ chế, chính sách về đầu tư, tài chính, hợp tác công-tư, bảo tồn các giá trị văn hóa, tài nguyên văn hóa đặc thù; tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy thu hút các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa, khơi thông, phát huy các tài nguyên văn hóa.

Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp các bộ, ngành đẩy mạnh cải cách hành chính, siết chặt kỷ cương, phân cấp và xác định trách nhiệm cụ thể cho các địa phương trong quản lý văn hóa đi đôi với kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Xây dựng thể chế văn hóa trong xã hội số; hoàn thiện quy định pháp luật về quyền tác giả; đổi mới chính sách đãi ngộ, tôn vinh tài năng và cống hiến đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, những người làm công tác văn hóa.

Thứ hai, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp các bộ, ngành xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về văn hóa, cán bộ văn hóa tầm chiến lược, văn hóa nghệ thuật đỉnh cao; chương trình giáo dục nghệ thuật trong nhà trường; đồng thời phát triển đội ngũ cán bộ về văn hóa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Thứ ba, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng Chương trình truyền thông về vị trí, vai trò của văn hóa, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa, Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 và phát biểu quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành nghiên cứu xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam; chuẩn mực về văn hóa trong công sở, của công chức, cộng đồng; quy tắc ứng xử văn hóa, văn minh trong môi trường số.

Thứ năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các viện, các trường nghiên cứu về văn hóa xây dựng Chương trình khoa học nghiên cứu cơ bản về văn hóa để tổng kết và phát triển một số vấn đề lý luận về văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại ngày nay, về văn hóa trong xã hội số, văn hóa đặc thù của các dân tộc, nghệ thuật đỉnh cao, nghệ thuật truyền thống, xây dựng phát triển không gian sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.

Thứ sáu, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể; số hóa và lập bản đồ số di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu; tuyên truyền quảng bá hình ảnh văn hóa, con người Việt Nam ra nước ngoài.



Thứ bảy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng các hồ sơ và đề xuất công nhận các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của Việt Nam để có kế hoạch bảo tồn; bảo tồn, phục dựng, tu bổ một số công trình di tích, di sản văn hóa quốc gia đặc biệt, di sản thế giới được UNESCO 

NVD39 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC THỦ ĐOẠN CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐÒI XOÁ BỎ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI

 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tích cực đẩy mạnh tuyên truyền chống phá Luật Đất đai, chúng cho rằng Việt Nam nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đại hoặc thực hiện chế độ đa sở hữu giống như nhiều nước khác. Đồng thời chúng cho rằng, sở hữu toàn dân là không minh bạch, mù mờ, không xác định được ai là chủ sở hữu trong các quan hệ đất đai, nhất là khi xảy ra tranh chấp đất đai.

Trong điều kiện nước ta đang thực hiện quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa, nếu thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển KT-XH. Quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa đòi hỏi chuyển một diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. Sở hữu tư nhân đất đai sẽ đặt nhà đầu tư vào chỗ phải thỏa thuận với quá nhiều người dân, chỉ một người không đồng ý với phương án chung là kế hoạch đầu tư khó triển khai thực hiện. Mặt khác, những người tư hữu riêng lẻ cũng khó có điều kiện thỏa thuận với nhà đầu tư theo giá có lợi cho họ. Kết quả là sở hữu tư nhân đất đai vừa cản trở quá trình phát triển KT-XH của đất nước, vừa không có cơ chế bảo vệ được lợi ích của nhà đầu tư và của chính người dân.

Bên cạnh đó, sở hữu tư nhân đất đai sẽ dẫn đến kết quả không mong muốn là nảy sinh tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất công trong xã hội nảy sinh.

Điều này có thấy từ các minh chứng trong lịch sử. Với sở hữu tư nhân đất đai, người sở hữu đất có quyền đối xử với đất như đối với tài sản riêng, có quyền mua, bán, chuyển nhượng, thậm chí bỏ hoang không sử dụng, cũng như chuyển đổi mục đích sử dụng. Không ai có quyền thu hồi, sử dụng đất của người khác nếu không được chủ đất cho phép. Do đất là tài sản riêng nên người dân có quyền định đoạt nó như hàng hóa trên thị trường bất động sản. Lợi dụng khó khăn hoặc kém hiểu biết của nông dân, một bộ phận người có tiền (từ nhiều nguồn khác nhau mà chúng ta không kiểm soát được) có thể thu gom đất đai để trở thành địa chủ. Điều này đã diễn ra trong cải cách ruộng đất của chế độ Mỹ - Diệm những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam nước ta.

Ngay cả ở giai đoạn hiện nay, nếu duy trì phổ biến sở hữu tư nhân đất đai cũng sẽ dẫn đến hiện trạng người có nhiều tiền thu gom đất đai và chỉ sử dụng đất vì mục đích cá nhân như làm trang trại để nghỉ ngơi, giải trí, cho thuê nhằm kiếm lời,… Đây sẽ là nguyên nhân dẫn đến một bộ phận nông dân đói nghèo vì không có đất, không còn kế sinh nhai, khi đa phần đất nông nghiệp được chuyển giao theo con đường sở hữu tư nhân cho một số người.

Nếu thực hiện chế độ sở hữu tư nhân đất đai, đành rằng Nhà nước có thể giữ lại quyền quy hoạch mục đích sử dụng từng thửa đất và ràng buộc chủ đất thực hiện một số quy định vì môi trường sống chung, nhưng không ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này còn khiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, không vì mục đích sinh tồn của đa số dân cư.

Các thế lực thù địch ra sức “cổ vũ” việc sở hữu tư nhân về đất đai, coi đó là biện pháp sử dụng đất hiệu quả đã quên đi mục tiêu xóa bỏ tình trạng dùng quyền sở hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) để nô dịch người khác. Hơn nữa, như C.Mác đã từng chỉ ra, quyền tư hữu có tính độc quyền về đất đai là vật cản của tiến bộ kinh tế, kỹ thuật trong nông nghiệp. Thực tế phân hóa giàu nghèo trong các tư bản phát triển hiện nay cũng chứng minh cho tính đúng đắn của kết luận này.

Dưới chiêu bài ủng hộ hiệu quả sử dụng đất (hiệu quả sử dụng đất theo nghĩa đem lại thu nhập bằng tiền cho người sở hữu đất), chúng lý lẽ rằng, sở hữu toàn dân về đất đai dẫn đến vô chủ và vì vô chủ nên đất được sử dụng không hiệu quả. Chúng cũng lý lẽ rằng, Luật đất đai, vì dựa trên lập trường sở hữu toàn dân nên không chính danh, không xác lập được quan hệ dân sự trong các giao dịch về đất đai nên dẫn đến các giao dịch đất đai của nước ta không giống với thông lệ quốc tế, gây tranh chấp khi có yếu tố nước ngoài. Ở đây, chưa cần bàn đến việc có cho người nước ngoài tự do sở hữu đất đai, nhất là đất sản xuất hay không, nhưng người nước ngoài trên đất Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Việt Nam, có lẽ cũng là một thông lệ. Hơn nữa, các nước trên thế giới không có một luật đất đai giống nhau.

Chúng cho rằng, Nhà nước ta không đủ năng lực quản lý đất đai. Chúng cố tình không hiểu rằng, chính vấn đề cần bàn là cần nỗ lực xây dựng một Nhà nước có khả năng quản lý đất đai tốt hơn. Chúng “khăng khăng” cho rằng, yếu kém của Nhà nước trong quản lý đất đai với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân là đương nhiên. Một luận giải khiên cưỡng, bởi nếu Nhà nước không thể thay mặt xã hội quản lý tài sản chung thì đừng nói đến quốc gia XHCN, mà quốc gia ổn định cũng không có.

Sự phù hợp của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là đúng đắn.

Xuất phát từ lập trường “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”, nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của quốc gia là đất đai. Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, không thể để cho một số người nào đó “may mắn” trên thị trường có quyền độc chiếm sở hữu. Đất đai của quốc gia, dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc, của nhân dân. Nhiều diện tích đất đai phải được quy định trong luật là để sử dụng chung như đất làm đường, công viên, bờ biển tập kết của tàu, thuyền ngư dân đánh cá, hồ nước, dòng chảy của sông,… Các cơ quan giám sát tuân thủ pháp luật phải có đủ sức mạnh để không cho phép ai lấn chiếm, sử dụng những diện tích dùng chung một cách tùy tiện.

Sở hữu toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điều kiện tiếp cận đất đai tự do. Với sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu, nhiều người không còn tin vào CNXH và thậm chí họ còn cho rằng, Việt Nam nên bỏ “định hướng XHCN” trong mô hình kinh tế thị trường định hướngXHCN. Song, bản chất XHCN không bị cố định vào mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, càng không bị trói buộc vào chế độ phân phối bình quân. XHCN dựa trên nền tảng coi trọng lao động, rằng lao động tạo ra xã hội loài người, tạo ra của cải và tạo ra cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người theo nghĩa nhân văn. Chính vì thế lao động là vinh quang, ai không lao động mà sử dụng của cải một cách bất hợp pháp do người khác làm ra là phi đạo đức. Quảng đại quần chúng lao động phải trở thành chủ nhân của xã hội và tự tổ chức lại dưới hình thức xã hội tự nguyện, bình đẳng, bác ái, dân chủ. CNXH như vậy mãi mãi là khát vọng chân chính của loài người. Định hướngXHCN chính là con đường đúng đắn nhất để đưa khát vọng đó dần trở thành hiện thực trong cuộc sống. Song, mô hình nào để chúng ta có thể xây dựng được xã hội như thế ở một nước kinh tế còn đang phát triển với biết bao áp lực của thế giới TBCN bên ngoài và tính ích kỷ trong mỗi cá nhân chúng ta còn lớn? Lời đáp cho câu hỏi đó là chúng ta còn đang phải tìm tòi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Dù mô hình kinh tế XHCN còn chưa được hiện thực hóa, dù trình độ phát triển kinh tế của chúng ta còn thua kém nhiều nước, nhưng không vì thế chúng ta lựa chọn con đường TBCN hy sinh quyền lợi của đa số người lao động, tích lũy của cải vào tay một tỷ lệ phần trăm nhỏ nhoi những người giàu có trong xã hội.

Sở hữu toàn dân không phải là sở hữu nhà nước về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai là sở hữu chung của toàn dân, nhưng có sự phân chia việc thực hành quyền sở hữu giữa người sử dụng đất và Nhà nước. Bản chất của cơ chế này là phân chia một cách hợp lý các quyền của chủ sở hữu đất đai giữa người dân và Nhà nước, cũng như giữa các cơ quan nhà nước các cấp.

Luật đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan đã trao cho người dân khá nhiều quyền: sử dụng (theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn…Về cơ bản, người dân đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của quyền chủ sở hữu mà người sử dụng đất không có là: không được tùy ý chuyển mục đích sử dụng đất; hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, mục đích công cộng. Tương ứng với mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước với tư cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nước được quy định trên các mặt sau: quy định mục đích sử dụng cho từng thửa đất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất phục vụ các mục đích an ninh, quốc phòng, mục đích công cộng; thu một số khoản dựa trên đất.

Sở hữu toàn dân về đất đai đem lại nhiều lợi ích phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam. Không những không cản trở quá trình sử dụng đất hiệu quả ở phương diện vi mô của người sử dụng đất cũng như ở phương diện lưu chuyển quyền sử dụng đất trên thị trường bất động sản, chế độ sở hữu toàn dân còn đem lại nhiều lợi ích phù hợp với đặc thù của nước ta.

Cụ thể là: Chế độ sở hữu toàn dân nhấn mạnh quyền của người dân trong sử dụng quyền của mình để cùng nhau giải quyết các vấn đề bất đồng trong sử dụng và phân chia lợi ích từ đất. Với chế độ pháp quyền XHCN, người dân có quyền cùng nhau xây dựng Hiến pháp quy định về cung cách sống chung và quyền hạn của Nhà nước trong xã hội. Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp, khi đa số công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, họ có thể yêu cầu Nhà nước sửa Luật đất đai phục vụ mục đích chung của công dân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai do cơ chế thị trường đem lại. Nếu Hiến pháp tuyên bố sở hữu tư nhân về đất đai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đất đai sẽ không cho phép đa số còn lại thay đổi chế độ phân phối lợi ích từ đất đai.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tránh cho xã hội chúng ta rơi vào tình trạng bất ổn do một số người có thể đòi hỏi xem xét lại các quyết định lịch sử về đất đai nếu như duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai. Với tuyên bố đất đai là thuộc sở hữu chung của mọi công dân Việt Nam được thực thi theo cơ chế Nhà nước được toàn dân ủy quyền cho việc giao đất cho hộ gia đình và tổ chức sử dụng và Nhà nước được ủy quyền quản lý đất đai bảo đảm quá trình sử dụng đất đai làm sao để lợi ích của người sử dụng đất đai thống nhất với lợi ích chung của quốc gia. Khi đó, không có vấn đề tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân. Việc giao đất hay cải cách quản lý của Nhà nước theo hướng mở rộng hơn nữa quyền của người sử dụng đất có lợi cho người lao động, nhất là có lợi cho nông dân, những người trực tiếp sử dụng đất với tư cách tư liệu sản xuất, chỉ là vấn đề tiếp theo của những quyết định đã có trong lịch sử, không phải là một cuộc đảo lộn lịch sử. Cách làm và quan niệm như vậy sẽ tạo được sự đồng thuận cần thiết của cả dân tộc trong bối cảnh nước ta còn không ít khó khăn hiện nay. Về mặt thực tế, duy trì sở hữu toàn dân trong điều kiện hiện nay là cách làm tốt nhất để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.

 

 

 

NVD39 - Lịch sử ra đời và ý nghĩa của ngày Thầy thuốc Việt Nam

 

 “Lương y như từ mẫu”. Câu nói trên của Bác Hồ đã thể hiện những phẩm chất cao đẹp cần có của một người thầy thuốc. Hướng tới kỉ niệm 65 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, hãy cùng nhau tìm hiểu về lịch sử ra đời và ý nghĩa của ngày Thầy thuốc Việt Nam qua bài viết dưới đây.

Lịch sử ra đời của ngày Thầy thuốc Việt Nam

Cách đây 68 năm, vào ngày 27/2/1955, trong thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y tế, chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã gửi tới những lời răn dạy tâm huyết, quý báu. Ba điều quan trọng mà Bác Hồ căn dặn trong bức thư gửi các cán bộ y tế bao gồm:

+ Trước hết là phải thật thà đoàn kết: Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì sẽ vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

+ Thương yêu người bệnh: Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ y tế cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, phải coi những đau đớn của bệnh nhân cũng như đau đớn của bản thân, thực hiện đúng tinh thần câu nói “Lương y như từ mẫu”.

+ Xây dựng một nền y học của ta: Trong những năm nước ta bị nô lệ thì y học cũng như các ngành khác bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học cần phải dựa trên nguyên tắc: khoa học dân tộc và đại chúng. Vì những ý nghĩa sâu sắc trong bức thư này, từ năm 1955, Đảng và nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 27/2 là ngày tôn vinh các y bác sĩ và những người đang làm việc trong ngành y tế, được gọi là “Ngày Thầy thuốc Việt Nam”.

Ghi nhớ và biết ơn lời dạy ấy của Người, ngành Y tế Việt Nam từng bước phát triển, sáng tạo và hiện đại, dần đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Bởi đó mà ngày 27/2 hàng năm không chỉ là ngày cả nước tôn vinh, biết ơn những người thầy thuốc, mà đó còn là ngày để cả nước nhớ về Bác để bày tỏ lòng biết ơn với lời dạy ý nghĩa và tấm lòng luôn yêu thương dân, yêu đất nước của vị lãnh tụ kính mến của cả dân tộc.

Ý nghĩa của ngày Thầy thuốc Việt Nam

Hiểu được nguồn gốc của ngày Thầy thuốc như vậy, chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của ngày kỉ niệm cao quý này. Y đức là phẩm chất cao đẹp mà những người làm công tác y tế cần có, như lời Bác Hồ đã từng dạy “Lương y phải như từ mẫu”. Mỗi một người làm công tác y tế cần phải thể hiện được tinh thần trách nhiệm cao, tận tình phục vụ và chăm sóc, thương yêu người bệnh như người thân của mình.

Một người thầy thuốc giỏi không phải chỉ là giỏi về chuyên môn mà còn cần giỏi cả về tâm lý tiếp xúc, chẩn đoán không chỉ cần đúng bệnh tật mà còn cần chẩn đoán đúng tâm lý, nhu cầu của bệnh nhân tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, môi trường sống của họ. Hơn nữa, người thầy thuốc luôn phải có cái tâm trong sáng, không được phụ lương tâm mình, không được phụ lòng dân.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đã có rất nhiều các cán bộ y tế dũng cảm, đi qua mọi nẻo đường của chiến tranh để cứu chữa, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân. Cũng không ít các y bác sĩ đã hy sinh thân mình để góp sức vào chiến thắng vang dội của dân tộc như người nữ anh hùng, Liệt sỹ – Bác sỹ Đặng Thùy Trâm. Câu chuyện của cô vẫn còn vang mãi trong ký ức những người con Việt Nam đã từng đi qua chiến tranh và cả những thế hệ trẻ chưa từng nếm mùi chiến tranh đau thương.

Chính vì thế, ngày 27/2 hàng năm không chỉ là cơ hội để Đảng, nhà nước và toàn thể người dân tôn vinh những công lao, sự hi sinh, những đóng góp to lớn của những y bác sĩ và những người làm trong ngành y trong công cuộc mang lại sự sống, niềm vui, sức khỏe cho bao bệnh nhân và gia đình, mà còn như một cơ hội để những người làm trong ngành y tế nhìn nhận lại về trách nhiệm và sứ mệnh mà mình đã được giao phó để phục vụ nhân dân./.

 

NVI39 - Đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc chính sách đất đai ở nước ta hiện nay

 

Trong những năm qua, cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam cũng dần được hoàn thiện. Vừa qua, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có nội dung về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá chính sách đất đai của Việt Nam, chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng đưa ra các kiến nghị, đề xuất không phải vì mục đích hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý đất đai mà chỉ là chiêu trò để thu hẹp, tiến tới loại trừ vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý đất đai; làm thay đổi bản chất xã hội, chệch hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.

Một số kênh truyền thông có cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam đã đăng tải nhiều bài viết, thông tin, đánh giá mang tính chất xuyên tạc, hướng lái tiêu cực trong dư luận. Chúng xuyên tạc trắng trợn về chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta, dẫn lời nhiều đối tượng bất mãn “Chính sách về đất đai này đã gây ra bao hệ lụy, oan ức cho người dân từ mấy chục năm qua”; đăng tải bài viết Kêu gọi cải cách Luật Đất đai tại Hội nghị Trung ương 5 có thành sự thật?; xuyên tạc “Luật Đất đai do Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương là một luật trái với đạo trời, trái với lòng dân, phản tiến bộ”, “Cải cách thế nào, có triệt để hay không và có cứu Đảng được hay không phải còn chờ xem”,...

Các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng.

Không chỉ dừng lại ở việc xuyên tạc nội dung Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), các đối tượng phản động đã bới móc các vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai, tung ra những thông tin không được kiểm chứng, quy chụp, suy diễn các vụ việc liên quan đến đội ngũ cán bộ của Đảng để gây hoang mang dư luận. Trong đó, mũi nhọn công kích được các đối tượng xấu hướng vào một số vấn đề chính là những vi phạm, bất cập, hạn chế liên quan đến lĩnh vực đất đai để hạ bệ, bôi lem, vấy bẩn vai trò lãnh đạo của Đảng; đưa ra những quan điểm sai trái, hướng lái công tác lập pháp trong lĩnh vực đất đai; bóp méo sự thật, phủ nhận những kết quả đã đạt, thổi phồng những sai phạm trong lĩnh vực đất đai để kích động sự mâu thuẫn trong xã hội.

Những luận điệu xuyên tạc của chúng hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, gây phân tâm trong dư luận về các vấn đề liên quan đến đất đai và quyền sử dụng đất. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Có thể thấy rằng ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình. Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

Trong điều kiện kiện hiện nay thực hiện nhất quán quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

NVI39 - LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY THẦY THUỐC VIỆT NAM 27/02

 

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”.

Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khǎn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.

* Lịch sử ra đời Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Ngày 27/2/1955, nhân dịp tổ chức hội nghị cán bộ y tế, Bác Hồ đã gửi thư cho Hội nghị căn dặn ba điều:

- Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sỹ, dược sỹ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân.

- Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang.

Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu", câu nói ấy rất đúng.

- Xây dựng một nền y học của ta - Trong những năm nước ta bị nô lệ thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học cần phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng.

Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quí báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc “Tây”.

Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, từ năm 1955, ngày 27/02 được chọn là Ngày Thầy thuốc Việt Nam.


* Ý nghĩa Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Ngày 27/02 có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi con người Việt Nam, đây là ngày để mọi người dân Việt Nam thể hiện sự kính trọng, sự biết ơn của mình đến các y, bác sĩ, những người đã dành hết sức lực và tài trí để cống hiến cho nước nhà.

Và cũng là ngày để các y, bác sĩ cùng những người làm trong ngành Y tế nhắc nhở bản thân nâng cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, xem nỗi đau của bệnh nhân như của chính mình như lời chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy: “Lương y như từ mẫu” để xứng đáng với Tổ quốc.

Nhân dịp kỷ niệm 68 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, xin chúc các bác sĩ, dược sĩ và những người làm việc trong ngành y luôn giữ được phẩm chất tốt đẹp, nhiều sức khỏe, trí tuệ để cống hiến cho nhân dân./.

NVB39 - ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG KẾ HOẠCH LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN VỀ DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI) ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG

 

Ngày 06/01/2023, Văn phòng Quốc hội công bố Nghị quyết số 671/NQ-UBTVQH15 về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Chỉ trong một thời gian ngắn được triển khai, đã có hàng trăm ý kiến của nhân dân ở trong và ngoài nước được gửi về các cơ quan có thẩm quyền xem xét, tổng hợp. Bên cạnh những ý kiến đóng góp khoa học, thiết thực và hiệu quả thì cũng có những đối tượng phản động, cơ hội, lợi dụng chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Quốc hội để xuyên tạc, chống phá. Ngày 29/01/2023, trên trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng Cát Tường tán phát bài “Dân có dám mạnh miệng đóng góp ý kiến về dự thảo Luật Đất đai sử đổi”, nội dung xuyên tạc kế hoạch lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); kích động người dân đấu trang phản đối cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thống nhất và quản lý; đồng thời kêu gọi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai ở Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định, trong thực tiễn quá trình xây dựng đất nước, cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thống nhất và quản lý đã thể hiện tính đúng đắn, ưu việt.

Thứ nhất, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Nhà nước: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân nên đất đai thuộc sở hữu toàn dân là một tất yếu. Nhân dân ta đã đổ xương máu làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thành quả đó đã giành lại non sông gấm vóc của cha ông để lại thì đất đai đó phải thuộc về sở hữu của toàn dân. Cách mạng đã đem lại quyền và lợi ích cực kỳ quan trọng đối với nông dân, đó là quyền và lợi ích thực hiện gắn liền phương châm “Người cày có ruộng”, bảo đảm người nông dân luôn có tư liệu sản xuất để sinh tồn trên chính Tổ quốc của mình. Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.

Thứ hai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là điều kiện hết sức quan trọng trong giai đoạn đất nước ta thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Ngoài hình thức sở hữu toàn dân thì không có một hình thức nào có thể đưa đất nước vào con đường đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Hình thức sở hữu này đã bảo đảm điều kiện thuận lợi nhất để Nhà nước ta thực hiện việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên toàn lãnh thổ, để xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ ba, đất đai thuộc sở hữu toàn dân phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam, tạo điều kiện cho người sử dụng đất nâng cao giá trị sử dụng đất, phát huy nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế, thỏa mãn nhu cầu và lợi ích chính đáng của mình. Chế độ sở hữu này bảo đảm được sự bình đẳng, tính công bằng trong việc Nhà nước thực hiện thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Đất đai không thể tập trung trong tay của các “chủ đất”, “địa chủ” như thời thực dân phong kiến và nông dân có quyền chiếm hữu, sử dụng đất đai của mình. Điều này đã ngăn chặn được xu hướng dùng quyền sở hữu đất để nô dịch lao động.

Thứ tư, đất đai thuộc sở hữu toàn dân giúp cho đất nước phát huy được nguồn lực đất đai phục vụ cho nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân không thể được bảo đảm khi đất đai của quốc gia, đất nước thuộc nhiều hình thức sở hữu. Nhà nước không thể điều hành, quản lý và huy động được đất đai vào việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh của đất nước.

Thứ năm, sở hữu toàn dân về đất đai, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là điều kiện cần thiết và quan trong để Nhà nước có thể thực hiện vai trò kiểm soát và quản lý nguồn đất đai cũng như điều tiết các quan hệ lợi ích đất đai có lợi cho quốc gia, cho người sử dụng đất trực tiếp. Sự kiểm tra, quản lý và điều tiết này của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ bảo đảm được công bằng, sự bình đẳng trong xã hội. Sự điều tiết này phần nào có thể khắc phục được những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo về thu nhập từ đất đai. Mặt khác, sở hữu toàn dân cũng tạo thuận lợi cho quản lý nhà nước bằng thẩm quyền quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tạo ra những điều kiện trong việc hoạch định chính sách vĩ mô, xây dựng nền tảng các cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Để đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, phản động về Luật Đất đai, một mặt chúng ta luôn khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, trung thành tuyệt đối với Hiến pháp mặt khác trong quá trình quản lý đất đai, Nhà nước ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luât và các chính sách về đất đai,  phải khắc phục được những hạn chế, thiếu sót mà Nghị quyết số 19 - NQ/TW đã chỉ ra trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Đổi mới các chinh sách quản lý đất đai như định hướng của Đảng đã đặt ra./.

NVC39 - “Lương y như từ mẫu” - Chuẩn mực y đức cao quý nhất của thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Trong hơn hai năm qua trong bối cảnh cả hệ thống chính trị, nhất là những người làm công tác y tế chung tay phòng, chống dịch Covid-19 với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, hiệu quả để “không ai bị để lại phía sau” thì những tấm gương hy sinh thầm lặng của các thầy thuốc làm sáng mãi phẩm chất cao quý “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” theo lời dạy của Bác Hồ.

Cách đây 68 năm, ngày 27/2/1955, trong Thư gửi cán bộ Hội nghị cán bộ ngành y tế, Bác Hồ đã căn dặn những người làm công tác y tế phải thực hiện cho được tinh thần trách nhiệm lớn lao trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân: “Lương y phải như từ mẫu”. Thấm nhuần và thực hiện lời dạy của Chủ tịchHồ Chí Minh, các thế hệ thầy thuốc và ngành y tế Việt Nam luôn coi đây là phương châm hành động cao cả, là trách nhiệm chính trị đối với nhân dân khi được Đảng và Bác Hồ giao cho.


Khẳng định vai trò to lớn của ngành y, từ rất sớm - ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công - Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm chăm lo xây dựng y đức cho thầy thuốc. Vì vậy, trong Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3 năm 1948, đăng trên Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 908 ngày 23/4/1948, một mặt, Người khen ngợi những nỗ lực lớn của lực lượng Quân y trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp “Từ ngày kháng chiến đến nay, quân y phát triển rất khá và các bác sĩ, khán hộ, cứu thương, ai cũng chịu khó, cố gắng. Đó là những điểm rất tốt”. Mặt khác, Người cũng chỉ ra những khuyết điểm đó là: “Song, quân y cũng như mọi việc khác, chúng ta đang mới mẻ, chúng ta còn nhiều khuyết điểm. Chúng ta phải cố gắng nữa, để tiến bộ hơn nữa”.

Để phát huy những thành tích đã đạt được và từng bước khắc phục có hiệu quả những hạn chế, khuyết điểm, Người căn dặn Quân y phải nêu cao tinh thần “Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền. Đây là phẩm chất cao quý nhất trong thang giá trị y đức của người thầy thuốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi theo Người, người thầy thuốc phải thực hiện “nhiệm vụ kép”: vừa chữa bệnh tật, vừa chữa “tâm bệnh” như một nhà tâm lý học thân thiết như người mẹ hiền của bệnh nhân: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Luận giải rõ hơn vấn đề này, trong Thư gửi cán bộ Hội nghị cán bộ y tế, Người khẳng định:“Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Nhiệm vụ ấy có hai phần: Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân”. Theo đó, “Thầy thuốc như mẹ hiền” là một đòi hỏi khách quan trong thực hành y nghiệp, y đức, cũng là nhiệm vụ vẻ vang, là trách nhiệm của thầy thuốc trước Đảng và chính phủ; do đó, Người nhắc nhở đội ngũ thầy thuốc: “Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”. Không những vậy, Người còn chỉ ra phương thức để người thầy thuốc thực sự là “Lương y phải kiêm từ mẫu”. Cán bộ y tế nên cố gắng thực hiện mấy điểm này”:

Thứ nhất, phải nâng cao trình đội chuyên môn, nghiệp vụ thông qua việc tích cực, chủ động tự học tập, tự nghiên cứu trau dồi kiến thức y học, y sinh, làm chủ phương tiện khám, chữa bệnh: “Về chuyên môn: Cần luôn luôn học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta hiện nay”.

Thứ hai, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng và trau dồi đạo đức cách mạng, vươn lên địa vị người làm chủ trong chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ nhân dân: “Về chính trị: Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác”.

Thứ ba, xây dựng các cơ sở, trung tâm và toàn ngành y tế vững mạnh về tổ chức theo hướng “giản chính, tinh cán” làm điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ thầy thuốc sáng y đức, giỏi y nghiệp: “Về tổ chức: Cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho nhân dân”.

Thứ tư, làm tốt công tác cán bộ ngành y. Nhất quán tinh thần “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Người yêu cầu phải xây dựng được đội ngũ cán bộ y tế đủ số lượng, chất lượng ngày càng cao và có cơ cấu hợp lý, trong đó phải khéo lựa chọn và đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ mới ở vùng tạm chiếm, vùng núi - căn cứ địa cách mạng- : “Về cán bộ: Cần lựa chọn và đào tạo nhiều cán bộ mới trong số thanh niên nam nữ, dạy cho họ những công tác cần thiết trong nhân dân, trong dân công ở vùng tạm chiếm và vùng rừng núi”.

Tất cả những phương thức trên chẳng những đào tạo được đội ngũ “thầy thuốc như mẹ hiền”, mà còn góp phần xây dựng nền y học nhân đạo, vì nhân dân:“Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học càng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng”.

Xây dựng chuẩn mực y đức “Lương y như từ mẫu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực y đức của thầy thuốc: “Lương y như từ mẫu” chẳng những đã góp phần đào luyện nên một thế hệ thầy thuốc tài năng, giàu lòng nhân ái để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân nhằm góp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thành công trước đây, mà còn là kim chỉ nam cho xây dựng đội ngũ thầy thuốc vững mạnh về mọi mặt, trong đó y đức là quan trọng hàng đầu để chăm sóc và bảo vệ sức khẻo cho toàn dân trong tình hình mới; đặc biệt, trong hơn hai năm qua là thời điểm “sóng to, gió lớn” chưa từng có trong lịch sử ngành y tế Việt Nam. Suốt cả năm 2021 và đầu năm 2022 là đại dịch Covid-19 hoành hành dữ dội. Thấu triệt và thực hiện lời dạy của Bác Hồ, mọi cán bộ ngành y tế làm việc với tinh thần và trách nhiệm “Lương y như từ mẫu” đã không quản khó khăn, gian khổ, bất chấp ảnh hưởng tới tính mạng của bản thân và thân nhân luôn đi đầu trong công tác phòng, chống dịch bệnh; họ thực sự là “dũng sĩ” trên trận tuyến phòng, chống dịch Covid-19. Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên thế giới và được Tổ chức Y tế đánh giá cao. Phát huy những kết quả đã đạt được, việc xây dựng chuẩn mực y đức “Lương y như từ mẫu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay cần quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục y đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó tập trung giáo dục, xây dựng đội ngũ thầy thuốc trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân; chủ động khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Sẵn sàng đem hết năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm để khám, điều trị, chăm sóc bệnh nhân; hết lòng vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Phát triển ở người thầy thuốc tấm lòng nhân ái, ứng xử có văn hóa với bệnh nhân và đồng nghiệp. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII, XIII) của Đảng gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Nghị quyết số 20 -NQ/TW) ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Thứ hai, tiếp tục xây dựng đội ngũ thầy thuốc “vừa hồng vừa chuyên”, giỏi về y thuật, y lý, sáng về y đức. Theo đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ y tế, bác sỹ, y tá, là những người có tình thương yêu, chăm sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Phát huy tấm lòng yêu thương con người của các thế hệ thầy thuốc và coi đây sức mạnh nội sinh của y tế cách mạng Việt Nam, của người thầy thuốc cách mạng. Xử lý nghiêm minh với những trường hợp y, bác sỹ vi phạm pháp luật, đặc biệt vi phạm nguyên tắc, đạo lý trong ngành y.

Thứ ba, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và các các bộ, ngành có liên quan. Trọng tâm là cán bộ nhân viên ngành y phải thật thà đoàn kết nội bộ theo đúng chỉ dẫn của Bác Hồ: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết - Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì, công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân”./.

NVB39 - Nhận diện, phê phán quan điểm cổ xúy “xã hội dân sự”

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...