Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

NVB40 - ĐẨY LÙI TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI VÀO NỘI BỘ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành môi trường để các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền những quan điểm sai trái, phản động chống Đảng, Nhà nước và đưa những thông tin sai trái, tiêu cực, thậm chí xuyên tạc, bịa đặt, vu khống hết sức trắng trợn nhằm làm giảm sút lòng tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, nhen nhóm hình thành các tổ chức phản động, gây mất ổn định chính trị đất nước.

Đối với Quân đội ta, trong thời gian qua, mặc dù chưa có thống kê đầy đủ về số lượng cán bộ, chiến sĩ tham gia mạng xã hội, nhưng có thể nhận thấy, hoạt động tham gia nhiều các mạng xã hội của cán bộ, chiến sĩ hiện nay diễn ra tương đối phổ biến, với hình thức đa dạng, phong phú. Nhìn chung, đa số cán bộ, chiến sĩ khi tham gia mạng xã hội đã ý thức được những tác động, ảnh hưởng của nó, chủ yếu sử dụng vào mục đích chính đáng như: giao lưu, kết nối với người thân, bạn bè; thể hiện bản thân; chia sẻ tâm tư, tình cảm, sở thích, trao đổi kinh nghiệm cuộc sống, tiếp thu, trao đổi thông tin có chọn lọc...

Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đầy đủ tính chất phức tạp của mạng xã hội cũng như chưa quán triệt nghiêm túc các quy định nên tham gia “quá sâu” vào hoạt động trên mạng xã hội. Nhiều trường hợp cán bộ, chiến sĩ đã chia sẻ trên mạng xã hội những thông tin cá nhân như: hình ảnh chân dung, tiểu sử bản thân, đơn vị công tác... bị các đối tượng xấu tìm hiểu, thu thập, theo dõi thông tin cá nhân để tập trung tác động. Có trường hợp đăng tải các thông tin, hình ảnh có nội dung thiếu chọn lọc, phản cảm, thậm chí vi phạm pháp luật, kỷ luật, thể hiện bức xúc cá nhân, quan điểm trái chiều; đăng tải thông tin, hình ảnh về hoạt động nội bộ của đơn vị, chứa bí mật quân sự... Một số nội dung, hình ảnh phản cảm của quân nhân đăng tải trên mạng xã hội đã bị tán phát rộng rãi và trở thành chủ đề bị đưa ra bình luận đa chiều trên mạng. Một số hình ảnh cá nhân của quân nhân đăng tải trên mạng Facebook bị các đối tượng xấu lợi dụng để lồng ghép, đính kèm các thông tin trái chiều, xuyên tạc, bôi nhọ, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín quân nhân và hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", tạo dư luận không tốt trong nhân dân về quân đội. Một số thông tin, video, clip, hình ảnh có chứa bí mật quân sự đăng tải trên mạng xã hội đã tạo điều kiện cho các cơ quan đặc biệt nước ngoài thu thập tin tức tình báo phục vụ mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội.

Để phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, loại trừ những tác động tiêu cực của mạng xã hội vào nội bộ quân đội hiện nay cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân thấy rõ mặt tiêu cực, tác động, ảnh hưởng của mạng xã hội, nhất là những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động để chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội.

Hai là, tích cực đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan báo chí trong quân đội, phát huy tối đa lợi thế của mạng Internet và mạng xã hội nhằm cập nhật đầy đủ thông tin, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức và tăng cường hoạt động của lực lượng tham gia đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng Internet nhất là trên mạng xã hội.

Ba là, tăng cường công tác chính trị nội bộ, nắm chắc tình hình quản lý, sử dụng Internet nói chung, tham gia mạng xã hội của quân nhân nói riêng. Kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh... có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là, mất cảnh giác của quân nhân khi tham gia mạng xã hội.

Bốn là, chủ động các biện pháp ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản cảm, sai qui định của quân nhân bị lộ lọt, tán phát trên mạng xã hội không để các đối tượng xấu lợi dụng chống phá, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của quân đội. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi sai trái của quân nhân khi tham gia mạng xã hội.

Hiện nay, các thế lực phản động đã, đang và sẽ tiếp tục sử dụng mạng xã hội như là một công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tiến hành các hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Vì vậy, mọi cán bộ, chiến sĩ cần thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những tác động ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội vào nội bộ quân đội, đơn vị./.

NVH39 - Nhận diện, đấu tranh với quan điểm phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đất nước

 

Thời gian vừa qua trên Internet và các trang mạng xã hội đã có nhiều bài viết chống phá, tuyên truyền nhiều luận điệu xuyên tạc về bản chất của Đảng, Nhà nước Việt Nam, phủ nhận những thành quả của đất nước ta đạt được trong thời kỳ đổi mới. Trước hết, chúng ta cần nhận diện âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, đó là: Chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận những thành tựu to lớn, ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta. Chúng kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; tập trung công kích, xuyên tạc thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam "tự vẽ lên", "tự mình khen mình", chứ thực chất, theo chúng là "không có thật"; đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng…

Thứ nhất, phải khẳng định tính tất yếu khách quan của đổi mới và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới.

Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là bước ngoặt trong tiến trình phát triển của đất nước. Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm 2011) và hơn 35 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, trở thành điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được đặc biệt quan tâm, có nhiều chuyển biến tích cực; công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả nổi bật; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Tất cả những điều đó cho thấy đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Hai là, đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi thích hợp.

Đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Đổi mới theo những nguyên tắc cơ bản như: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp; lấy chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước ta; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn; sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp sức mạnh của nhân dân và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Những thành tựu đó là kết tinh trí tuệ, sức lực và bản lĩnh Việt Nam; phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam đồng nghĩa với phủ nhận một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc; phủ nhận công lao, sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta; phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước của Đảng ta; đó là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ.

NVH39 - ĐẢNG VIÊN Ở ĐÂU TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG?

 

Mạng xã hội ở nước ta đang phát triển rất nhanh và ngày càng lan rộng, thu hút nhiều thành phần, đối tượng tham gia.

Trong đó, tỷ lệ cán bộ, đảng viên sử dụng facebook hiện nay chiếm khá cao. Hầu như ai cũng có tài khoản cá nhân facebook, thậm chí có người sở hữu 2, 3 tài khoản.

Tuy nhiên, bên cạnh một số ít cán bộ đảng viên mạnh dạn đăng tải hoặc chia sẻ các thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó thì vẫn còn đại đa số người còn thờ ơ, phớt lờ những vấn đề xã hội đang quan tâm.

Vậy thì vai trò của họ ở đâu trên không gian mạng này?

Cái tư duy thấy đúng cũng không bảo vệ, thấy sai cũng không lên án, phê phán đã và đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị. Và chính tư duy cá nhân ấy cũng được nhiều người áp dụng khi tham gia mạng xã hội.

Họ lẳng lặng vào mạng, dò đọc, rồi lẳng lặng, âm thầm trở ra như chiếc bóng. Đối với những bài viết hay, tích cực, nguồn dẫn chính thống đàng hoàng, báo đài rầm rộ đưa tin nhưng cũng không thấy họ tham gia chia sẻ, bình luận, like bài.

Hay đối với những thông tin tiêu cực, bức xúc, xã hội đang quan tâm cũng chẳng thấy họ biểu thị cảm xúc gì. Tốt cũng được, chẳng khen động viên, mà xấu cũng mặc kệ, chẳng thèm phê phán, phản ứng.

Ôi, một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng.

Tôi nghĩ thế này, đã là cán bộ, đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, tích cực, tiêu cực chứ.

Khi tiếp xúc với một bài đăng mà bản thân thấy hay, đúng, nguồn đăng rõ ràng thì cũng nên thể hiện cảm xúc của mình, đó có thể là “thích”, “thả tim”, "thương thương".

Hay hơn nữa là thêm những bình luận động viên, khen ngợi để cổ vũ nhau.

Còn nếu bạn nhận thấy rằng thông tin sai, lệch lạc hoặc còn nghi ngờ độ chính xác thì ít ra cũng nên bày tỏ thái độ bằng icon cảm xúc “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ”.

Xem, đọc xong mà vô cảm đến mức lặng lẽ cho qua, thế thì khác nào bạn đã đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi.

Bởi trong một số trường hợp được mặc nhiên rằng “im lặng là đồng ý”.

Nhiều người rất thích truy cập internet để coi và cập nhật thông tin, nhưng lại rất mù mờ và không phân biệt được đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin giả làm mất ổn định và định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội của các thế lực thù địch.

Hãy để cái tốt đẹp được lan tỏa, đồng thời cũng phải đẩy lùi những cái xấu, tiêu cực, đó không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mạng nói chung mà đó còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội facebook đó các bạn à!

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước. Là cán bộ, đảng viên trước hết phải có lập trường, tư tưởng, quan điểm rõ ràng ở mọi lúc, mọi nơi.

Trên không gian mạng lại rất cần thể hiện vai trò đó. Hãy là những nhân tố mang tính nòng cốt, tích cực trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân./.

NVH39 - Phản bác luận điệu xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

 

Chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Song, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo.

            Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại trong lòng dân tộc và bình đẳng trước pháp luật.

            Thế nhưng, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, quy chụp những điều không có thật, yêu cầu thả người “đấu tranh cho tự do tôn giáo”... Rồi chúng xuyên tạc quy định “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”.

            Chúng cũng lợi dụng những vấn đề xã hội như: ô nhiễm môi trường, về công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước để xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam, với mục tiêu gây rối loạn trong lòng dân, trong chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, gây sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của chức sắc tôn giáo và tín đồ quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước ta.

Đảng, Nhà nước ta khẳng định, động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Đảng, Nhà nước chủ trương xóa bỏ mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tôn trọng ý kiến khác nhau, không trái với lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước.

Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo, Nhà nước kịp thời thể chế bằng những văn bản pháp luật để đưa vào thực tiễn. Đảng, Nhà nước ta cũng kịp thời chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nền nếp, đúng hướng, tạo sự tin tưởng của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo. Để xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đã khẳng định “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước như ngày nay”, là do sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trong đó có sự đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

NVE39 - NHỮNG NHÌN NHẬN SAI LẦM VỀ CỘNG TÁC VIÊN DƯ LUẬN XÃ HỘI.

 

                Không biết từ bao giờ, cụm từ “dư luận viên” được các nhà dân chủ tự xưng sử dụng để miêu tả về một nhóm người “luôn tìm cách chửi bới, nói xấu, vu vạ và report tài khoản để bịt mồm những ý kiến phản biện” như một bài viết mới đây trên facebook của Chu Hồng Quý đăng tải và được chia sẻ trên trang Baeuxit Vietnam. Cùng với đó là nhiều ý kiến phê phán đội ngũ dư luận viên mà trong bài viết ông Quý chỉ mặt đặt tên là cộng tác viên dư luận xã hội. Bài viết cho thấy cái nhìn thiên kiến về hệ thống chính trị, thiếu những thông tin về các vấn đề, sự kiện trong nước của một số cá nhân, điều này làm mờ nhận thức của họ về đất nước, tự coi mình là “bác sĩ xã hội” nhưng lại không biết nơi để kê thuốc cho đúng.

            Nắm bắt dư luận xã hội (public opinion) là một ngành khoa học được các nước phương Tây rất coi trọng trong việc xây dựng và thực thi chính sách. Nếu ở Mỹ có viện nghiên cứu Pew, công ty Gallup, ở Anh có Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội Anh (British Institute of Public Opinion),… thì ở Việt Nam, hoạt động nghiên cứu dư luận xã hội, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân không những được thực hiện bởi Viện Dư luận xã hội với phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng qua khảo sát, bảng hỏi… mà còn thông qua đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội nhằm nắm bắt được sâu rộng ý kiến của các tầng lớp nhân dân, giúp Đảng và các tổ chức chính trị, các nhà quản lý nắm được tâm tư, nguyện vọng, ý kiến phản biện, đóng góp của các tầng lớp nhân dân về việc xây dựng và thực thi chính sách của các cơ quan lập pháp và hành pháp ở địa phương và Trung ương được đa dạng, nhiều chiều hơn.

            Không hiểu về hoạt động của đội ngũ cộng tác viên dư luận, Chu Hồng Quý rêu rao trên trang của mình rằng “Kỳ vọng của đảng thành lập mạng lưới “Cộng tác viên dư luận xã hội” mà người ta quen gọi “Dư luận viên” là để chăn dắt, định hướng dư luận.”, đồng thời ca ngợi bản thân và một số nhà phản biện như những “bác sĩ chẩn đoán bệnh cho xã hội”. Chu Hồng Quý đã quên mất rằng, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng những ý kiến phản biện đúng, có đóp góp tích cực cho sự phát triển của Đất nước. Việt Nam có cả hệ thống các cơ quan phản biện xã hội, đó là Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể xã hội, cơ quan Dân nguyện của Quốc hội… đều trân trọng, lắng nghe ý kiến phản biện của Nhân dân. Bên cạnh các phương thức nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân thông qua tiếp xúc trực tiếp, các cơ quan Nhà nước cũng thiết lập các Website để người dân có thể góp ý vào các văn bản pháp luật dự thảo./.

NVE39 - PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và mối quan hệ giữa hai thành tố này trong hệ thống chính trị luôn bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước ra sức xuyên tạc, chống phá. Việc nhận diện và đấu tranh vạch trần những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc về vấn đề này tuy không mới nhưng luôn có tính thời sự, bởi “chiêu trò cũ” nhưng “thủ đoạn mới” rất tinh vi, khó lường. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của chúng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Từ việc nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, bản chất, phương thức và những biểu hiện cụ thể của những luận điệu xuyên tạc, chống phá về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, chúng ta khẳng định rằng, đó là những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt, hoàn toàn sai trái, không có cơ sở.

Về mặt lý luận, chúng ta biết rằng, đảng cầm quyền là khái niệm thuộc về khoa học chính trị, dùng để chỉ một đảng chính trị đại diện cho giai cấp đang nắm quyền lực và lãnh đạo chính quyền nhà nước để tổ chức, quản lý đất nước và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền” để chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và nhấn mạnh vị thế, vai trò của Đảng với tư cách là tổ chức đảng duy nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam nắm giữ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một đảng chính trị nào được tổ chức chặt chẽ, khoa học, được nhân dân hết lòng ủng hộ, giúp đỡ ngay từ khi mới ra đời như Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vai trò cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng được quy định trong Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng cầm quyền thông qua sự lãnh đạo các cơ quan công quyền chứ không tự mình biến thành Nhà nước, đứng trên Nhà nước hoặc làm thay Nhà nước. Thực tế này bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch khi đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước và mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đến lượt mình, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát huy vai trò là trung tâm của hệ thống chính trị, sử dụng hệ thống pháp quyền xã hội chủ nghĩa để điều hành đất nước, quản lý xã hội và quản lý các tổ chức đảng, thanh tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các đảng viên và các tổ chức đảng, kiểm soát sự hoạt động của Đảng trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng hơn 93 năm qua, đặc biệt là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng luôn xác định phương châm tiến hành đổi mới đồng bộ, đổi mới chính trị gắn với đổi mới kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị cho từng bước đi với mỗi chặng đường thích hợp. Nhờ vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách  mạng Việt Nam

 

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng: Vai trò cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội có những mặt, những khâu chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới. Trong mối quan hệ với tổ chức hoạt động của Nhà nước, vẫn còn tình trạng chồng chéo, chưa phân rõ chức năng, quyền hạn giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước quản lý; vẫn còn những khe, kẽ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc chống phá.

Trong những năm tiếp theo, để tiếp tục đấu tranh vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong hệ thống chính trị. Từ đó, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, các lực lượng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về mối quan hệ tự nhiên, máu thịt không thể tách rời giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân.

Hai là, thường xuyên nhận diện, kịp thời đấu tranh vạch trần những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện mới.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lấy cơ quan tuyên giáo các cấp và lực lượng 35 làm nòng cốt.

Bốn là, bảo đảm tốt việc trang bị cơ sở vật chất, công cụ, phương tiện và công tác chính sách, bảo đảm môi trường thuận lợi cho công tác đấu tranh.

Những quan điểm sai trái, thù địch về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc về cuộc đấu tranh ý thức hệ, nó diễn ra lâu dài, với nhiều phương thức, thủ đoạn thâm độc. Cho dù trong thực tiễn, chúng ta đã giải quyết mối quan hệ này tốt đến đâu thì chúng vẫn ra sức chống phá và không ngừng xuyên tạc. Cho nên, vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta nhận thức được mặt tích cực, khắc phục những nhược điểm, hạn chế và có giải pháp đúng đắn giải quyết tốt mối quan hệ mật thiết này chính là cơ sở khoa học để đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch./.

 

 

NVD39 - Từ chủ trương nhất quán về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến nhận diện âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá của các thế lực thù địch

 

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.  

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển 2011) khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân”.

Trong các văn bản riêng về tôn giáo, tín ngưỡng có thể xem Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Quy định về các hoạt động tôn giáo" là văn bản mở đầu. Ngày 4/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo của Chính phủ, cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước. Sau đó, một loạt văn bản khác đã được ban hành như: Nghị định 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Quyết định số 125/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 18/6/2003 về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác tôn giáo…

Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Nghị quyết này có hai luận điểm mang "tính đột phá" là: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới. Ngày 12/3/2004, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo. Đến nay, Nghị quyết này vẫn được xem là “kim chỉ nam” cho công tác tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghị quyết 25-NQ/TW khẳng định những chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo.

Một dấu mốc quan trọng phải kể tới nữa, đó là ngày 18/6/2004, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp tục thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, Luật Tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội khóa XIV nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 18/11/2016. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là sự cụ thể hóa quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, thể hiện nhất quán chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Những nội dung mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng được bổ sung để tạo sự tương thích với luật pháp quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, ký kết và thi hành nhiều hiệp định.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo: Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo".

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, mọi cán bộ, đảng viên cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

 

NVD39 - Cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam

 

Vừa qua, trên trang facebook Chân Trời Mới Media tán phát bài “Hội đồng liên tong khẳng định Việt Nam không có tự do tôn giáo” và trên trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng Phạm Lê Đoan tán phát bài “Tôn giáo ở Việt Nam là một quyền tự do có định hướng chính trị”, nội dung xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta; vu cáo Việt Nam “đàn áp” các hoạt động tôn giáo; cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng trong tổ chức “Tin Lành đấng Chist Tây Nguyên”; đồng thời yêu cầu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước.

Nhưng trên thực tế, những ai quan tâm theo dõi chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ  các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự, xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân... Chính sách trên luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán. Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử với những người có tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt hay kỳ thị bất cứ tôn giáo nào, miễn sao hoạt động của các tôn giáo nằm trong khuôn khổ pháp luật.

Tự do tôn giáo được xem xét dưới nhiều góc độ. Dưới góc độ pháp lý, tự do tôn giáo là một khái niệm để chỉ quyền tự do theo đạo, tự do bỏ đạo, tự do đổi đạo, tự do thể hiện và thực hành đức tin của mình, tự do trong sinh hoạt tôn giáo, v.v. Đây không chỉ là quyền của cá nhân tín đồ, chức sắc mà còn là quyền của các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân. Cũng từ phương diện pháp lý cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền dân sự hay chính trị nào khác cũng đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật. Không có tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc, tự do một cách tuyệt đối.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử. Nghĩa là nó phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với một thể chế chính trị - xã hội và điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể nhất định. Không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà lại không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định. Điều này khẳng định rằng, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Tất nhiên, trên phương diện khoa học, chúng ta vẫn có thể đem ra so sánh, phân tích và đối chiếu. Nhưng trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, các thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo.

Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nêu rõ: “Quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình chỉ phải chịu các giới hạn chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác”. Như vậy, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp.

Đặc biệt, thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội cần phải tự ý thức và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, nếu như những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không được ngăn chặn kịp thời thì sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

NVC39 - SỰ KHỐN CÙNG CỦA VIỆC TÁCH TÔN GIÁO RA KHỎI SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

 

        Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

          Một trong những âm mưu, thủ đoạn của chúng là tuyên truyền, xuyên tạc nhằm tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước; chúng cho rằng tôn giáo là những vấn đề tinh thần của mỗi cá nhân nên không cần sự quản lý của nhà nước, chỉ cần quản lý về mặt sản xuất của cải vật chất. Đây là một trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhằm làm lu mờ đi nguồn gốc, bản chất của tôn giáo cũng như sự tồn tại, ảnh hưởng của tôn giáo đối với quá trình xây dựng đất nước ở Việt Nam hiện nay.

          Để nhận rõ được vấn đề tôn giáo trước hết chúng ta phải tìm hiểu được nguồn gốc ra đời của tôn giáo. Trên quan điểm duy vật biện chứng, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Leenin đã khẳng định tôn giáo được hình thành trên 3 nguồn gốc:

          Một là, nguồn gốc kinh tế - xã hội. Sự nghèo khổ của chính người lao động, sự thất bại trong kinh doanh, buôn bán, hay sự thất bại do sự chèn ép của giai cấp tư sản buộc người lao động phải tìm đến tôn giáo nhằm cầu nguyện cho cuộc sống tốt đẹp hơn, nhưng sự cầu nguyện đó chỉ giải quyết cho họ về vấn đề tinh thần. Cho nên C.Mác đã nói rằng: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần; tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

          Hai là, nguồn gốc tâm lý xã hội. Đó chính là những trạng thái tâm lý tiêu cực sự sợ hãi, lo âu, bất hạnh, đau khổ, nhất là sợ hãi trước cái chết hay là sự biết ơn, kính trọng, sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, xã hội cũng làm nảy sinh nhu cầu tôn giáo. V.I.Lênin đã viết: “Sợ hãi trước thế lực mù quãng của tư bản, các nước đế quốc, mù quãng vì họ không biết được bất cứ lúc nào trong đời sống người lao động bị các nhà tư bản, địa chủ đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, kẻ bần cùng của xã hội”

          Ba là, nguồn gốc nhận thức. Do trình độ nhận thức thấp kém, con người không lý giải được các hiện tượng bí ẩn của thế giới khách quan, họ đã tưởng tượng và gán cho tôn giáo, lực lượng siêu nhiên.

          Như vậy, nguồn gốc của tôn giáo suy đến cùng là do chính điều kiện hoàn cảnh hiện thực hay nói cách khác là do tồn tại xã hội hiện thực đã tác động đến đời sống của người lao động, họ bị bất lực trước những hoàn cảnh hiện thực, họ không hiểu được nguyên nhân là do điều kiện hoàn cảnh đã bắt họ trở nên đói khổ, vất vả, bần hàn trong cuộc sống. Từ đó buộc những người lao động phải tìm đến tôn giáo.

          Mặt khác, Thực tiễn chững minh. Trong những năm gần đây các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, tín ngưỡng để truyền những đạo lạ, trái pháp luật ảnh hưởng thuần phong mỹ tục Việt Nam, đảo lộn cuộc sống của một số gia đình và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội như: Hội Thánh Đức chúa trời, Pháp luân công, Pháp Môn Di Lặc…

          Chính vì vậy, để cải tạo tôn giáo, quản lý tôn giáo đòi hỏi phải đặt trong sự quản lý của Nhà nước nhằm đưa ra những chủ trương chính sách phù hợp để từng bước cải thiện đời sống nhân dân, định hướng những giá trị tốt đẹp của tôn giáo đối với nhân dân như: từ bi, hỉ xả, lòng yêu thương con người…Cho nên việc phải đặt tôn giáo trong sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp và cần thiết trong quá trình cải tạo xã hội cũ thực hiện thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

 

NVB39 - TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI VÀO ĐẢNG VÀO ĐẢNG

 

Trong thời gian qua với những thủ đoạn chính trị bẩn thỉu của bọn “Châu Chấu” chống phá cách mạng Việt Nam, bất kỳ một diễn biến nào xảy ra trong xã hội hiện nay đều có thể trở thành cái cớ để chúng tập trung “sâu xía”, “rỉa mói”. Đặc biệt, khi mạng xã hội trở thành phổ biến, thì cường độ, thủ đoạn chống phá của chúng lại càng trở nên hung hăng, đê tiện. Trong những ngày vừa qua, một số phần tử phản động phản đối chế độ một Đảng lãnh đạo ở Việt Nam, trên hàng loạt trang thông tin mạng, bọn “Châu Chấu” lại ra rả những luận điệu cũ rích chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thật không khó để nhận diện những luận điệu chống phá của bọn “Châu Chấu”. chúng đặt Đảng đối lập với Nhân dân, tự nhận là người “đại diện” Nhân dân để phán xét Đảng, hòng làm lay chuyển lòng tin chính trị của Nhân dân với Đảng. Nhưng chúng đã nhầm, cố tình nhầm. Chúng càng hung hăng hò reo chống phá thì càng khẳng định lòng tin chính trị vững bền của Nhân dân với Đảng. Đồng thời khẳng định, giữ vững lòng tin chính trị của Nhân dân với Đảng là mục tiêu phấn đấu của Đảng, cũng là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng vượt qua mọi thử thách, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được lòng tin chính trị trong lòng dân tộc. Lòng tin chính trị đó được xây dựng bằng bao hy sinh, phấn đấu của các thế hệ đảng viên, từ khi Đảng còn hoạt động bí mật, bằng uy tín cách mạng cũng như nhân cách cao cả của các lãnh tụ của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ thực tế cách mạng Việt Nam có thể thấy, vai trò và uy tín của người đứng đầu là vô cùng quan trọng với việc Đảng giữ vững được lòng tin của nhân dân. Với việc bôn ba cách mạng, hy sinh cả xương máu và hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp cách mạng, những thế hệ lãnh đạo cách mạng tiền bối, mà đại diện tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được lòng tin yêu và kính trọng của quần chúng, qua đó củng cố và giữ vững lòng tin với Đảng của nhân dân.

Giai đoạn hiện nay, cũng không thiếu những tấm gương đảng viên ở mọi cương vị, bằng lời nói, bằng hành động, bằng quyết tâm chính trị bền bỉ, sắt đá đã góp phần giữ vững lòng tin chính trị của quần chúng nhân dân với Đảng, đồng thời được nhân dân tin yêu, kính trọng.

NVB39 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ TÌNH HÌNH BIỂNĐÔNG, GÂY HOANG MANG DƯ LUẬN, BÔI NHỌ, NÓI XẤU MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

 

            Hiện nay, trước diễn biến trên thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, trong đó có tình hình Biển Ðông. Điển hình là các sự kiện như: dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; và mới đây nhất tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hải cảnh, tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam...Liên quan vấn đề này các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, bôi nhọ, nói xấu mối quan hệ Việt Nam- Trung Quốc. 

          Trước hết, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông. Thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Gây chia rẽ, bất ổn trong nước.

          Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

          Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...

          Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do đó, các thế lực thù địch đã lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông để kích động một bộ phận nhân dân biểu tình, tuần hành gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, từ đó tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo đểchống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.

          Do đó, đối với vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, chúng ta phải đặc biệt cảnh giác trước chiêu bài của các phần tử phản động và thế lực thù địch. Việt Nam không thể trở thành con bài chính trị - nhất là của hai nước lớn, điều đó sẽ hết sức nguy hiểm cho lợi ích quốc gia, dân tộc.

          Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: âm mưu độc chiếm Biển Ðông của Trung Quốc không hề thay đổi. Ðối với giải quyết mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay Ðảng, Nhà nước ta đã xác định: giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là bất di, bất dịch, bất khả xâm phạm.

          Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Giữ vững mối đoàn kết với tất cả các nước. Không được để xảy ra xung đột. Không để lệ thuộc về kinh tế; không để bị cô lập về chính trị; không để bị lôi kéo đi theo nước này để chống lại nước khác; không để đối đầu về quân sự.

          Quan điểm của Ðảng, Nhà nước ta về giải quyết những mâu thuẫn trên biển hiện nay là thực hiện tốt phương châm: Bốn không, bốn tránh, chín K, bốn giữ vững. Bốn không: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bốn tránh: tránh xung đột, tránh đối đầu, tránh bị cô lập về chính trị, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chín K: kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm và không để xảy ra xung đột, đụng độ, không nổ súng trước. Bốn giữ vững: giữ vững chủ quyền quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển; giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt - Trung; giữ vững ổn định chính trị trong nước.

          Trước vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, có quan điểm cho rằng Việt Nam cần phải kiện Trung Quốc ra toà trọng tài quốc tế và phải đánh Trung Quốc. Thực ra, hiện nay Việt Nam chưa kiện, chứ không phải không kiện. Bởi, Việt Nam chủ trương đấu tranh bằng phương pháp hoà bình theo từng cấp độ, theo diễn biến của tình hình và trên cơ sở phương châm 16 chữ (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và 4 tốt (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) trong quan hệ với Trung Quốc. Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh cả trên thực địa và ngoại giao. Khi cần thiết, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố ta sẽ kiện, mà đã kiện là phải thắng.

          Hơn bất kỳ một dân tộc nào, dân tộc ta thấu hiểu được sự mất mát đau thương của chiến tranh. Trong điều kiện hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra sẽ là vô cùng nguy hại, sẽ là thiệt hại vô cùng lớn cả về con người và cơ sở vật chất, cả về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao; đặc biệt là không còn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước...

Khi chúng ta đã dùng hết mọi biện pháp hoà bình, không còn biện pháp nào khác thì chúng ta buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố, biển đảo của Tổ quốc. Khi buộc phải đánh, chúng ta sẽ đánh và đã đánh là phải thắng.

          Thực tế lịch sử đã chứng minh, đất nước Việt Nam có Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nhân dân anh hùng, có quân đội anh hùng. Việt Nam đã có Ðiện Biên Phủ trên bộ, Ðiện Biên Phủ trên không, nếu tình huống xấu nhất xảy ra (dù ta không hề muốn), chắc chắn chúng ta sẽ có Ðiện Biên Phủ trên biển. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối đối ngoại để chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./.

NVA39 - NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

 

Trong những năm gần đây theo kết quả được Tổng cục Thống kê công bố, Trong những giai đoạn khủng hoảng, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có mức tăng trưởng GDP dương (năm 2020 đạt 2,91%, năm 2021 đạt 2,58%) đặc biệt lần đầu tiên quy mô GDP của Việt Nam đạt 409 tỷ USD, uớc tính GDP năm 2022 là 8,02% và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn này, điều này đã thể hiện sức chống chịu và tính bền vững của nền kinh tế. Kinh tế khởi sắc là điều đáng mừng. Vậy nhưng một số kẻ lại cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực trong phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.

“Lưỡi không xương trăm đường lắt léo. Miệng không vành méo mó tứ phương”. Đây là câu thành ngữ rất đúng để mô tả về các “nhà dân chủ”. Không khó để nhận thấy, dưới ánh mắt của những kẻ này, mọi vấn đề của Việt Nam đều mang màu sắc tiêu cực. Khi kinh tế Việt Nam không tăng trưởng, chúng rêu rao cho rằng Nhà nước không đủ năng lực lãnh đạo đất nước, các chính sách kinh tế - xã hội được Đảng đưa ra là sai lầm. Ngược lại, khi kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức cao, những kẻ này lại phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cho rằng kết quả đạt được là “ăn may”, là “số liệu bịa”…(?!)

Sau khi Tổng cục Thống kê công bố quy mô GDP của Việt Nam năm 2022 đạt 409 tỷ USD, những chiếc “lưỡi không xương” tiếp tục tung ra các thông tin độc hại. Có kẻ cho rằng nền kinh tế Việt Nam phát triển không ổn định, hoàn toàn phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài; một số kẻ khác lại rêu rao kinh tế Việt Nam phát triển nhưng không mang lại lợi ích cho dân chúng mà chỉ phục vụ một nhóm nhỏ trong xã hội. Bằng những luận điệu xảo trá, các “nhà dân chủ” lồng ghép quan điểm cho rằng “bản chất chế độ không thay đổi thì đất nước không có tương lai”… Thực tế, mưu đồ của chúng là chống phá chế độ, chống phá đất nước.

Phải khẳng định rõ, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Trước hết, hành lang pháp lý về kinh tế đã được xây dựng tương đối đầy đủ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu hoạt động. Việc hội nhập kinh tế quốc tế cũng diễn ra mạnh mẽ. Nước ta đã tham gia vào nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, trong đó nổi bật như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Cùng với đó, công tác phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh, góp phần làm trong sạch môi trường đầu tư, kinh doanh. Tất cả yếu tố nêu trên đã tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển.

 

Hiện nay, mô hình kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực. Từ một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, xuất khẩu thô, lao động nhân công giá rẻ, chúng ta đang từng bước chuyển sang nền kinh tế hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh. Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đã vào được các thị trường khó tính. Năm vừa qua, mặc dù kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn nhưng giá trị xuất - nhập khẩu của nước ta vẫn cao, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu 732,5 tỷ USD, trong đó xuất siêu 11,2 tỷ USD. Trong lĩnh vực công nghiệp, nước ta đã hình thành được một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh và vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế. Một số doanh nghiệp công nghiệp trong nước có năng lực cạnh tranh tốt như Tập đoàn VinGroup, Tập đoàn Trường Hải, Tập đoàn Thành Công trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ôtô; Vinamilk, TH True Milk trong lĩnh vực sản xuất, chế biến sữa và thực phẩm; Tập đoàn Hoa Sen, Tập đoàn Hòa Phát, Công ty TNHH Hòa Bình Minh, Công ty thép Pomina, Công ty cổ phần Thép Nam Kim trong lĩnh vực sắt thép, kim khí...

Từ những thông tin nêu trên, có thể thấy kinh tế Việt Nam hoàn toàn không “nhỏ bé”, “thiếu ổn định”, “phụ thuộc hoàn toàn” vào bên ngoài như những gì các “nhà bình luận”, “nhà dân chủ” cố tình tung ra.

Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Trong đó có thể kể đến như: Việc cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm; một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, thiếu chặt chẽ, chưa ổn định; vẫn còn tình trạng lợi ích cục bộ, sách nhiễu người dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính; công tác chỉ đạo, điều hành của một số địa phương, bộ, ngành có mặt còn lúng túng, chưa quyết liệt, phản ứng chính sách có mặt còn chậm, phương thức lãnh đạo, quản lý chưa thật phù hợp, hiệu lực, hiệu quả chưa cao…

Để bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững, thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư./.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...