Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2023

NVG40 - PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

 

 

 

 

NVG40 - CHỐI BỎ LỊCH SỬ, KHÔNG CÓ QUÁ KHỨ, CHẲNG CÒN TƯƠNG LAI

 

Trong khi người Ukraine loại bỏ Cố Tổng bí thư Trường Chinh ra khỏi danh sách "Công dân danh dự thành phố Kiev" cùng với các nhà lãnh đạo Liên Xô khác. Trong đó có Leonid Brezhnev, anh hùng Liên Xô gốc Ukraine, tham gia lãnh đạo Phương diện quân Ukraina 1 chiến đấu trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, giải phóng Ukraine khỏi Đức Quốc Xã.... Lịch sử hào hùng của họ mà họ còn buông bỏ được chỉ vì muốn “loại bỏ những ảnh hưởng của chế độ cộng sản cũ”... Thậm chí, khi thông tin này xuất hiện trên Twitter, người ta đã bình luận rằng: “Ukraine, no history, no future”. Tức là “Ukraine, không có lịch sử, không có tương lai”.

Dĩ nhiên, đó là quyết định của người Ukraine và họ sẽ phải chịu hậu quả hoặc là thành tựu nếu có. Nhưng thật may là chúng ta không hành động như người Ukraine. Chúng ta không đạp đổ lên thành quả cách mạng, không bắn một phát súng vào quá khứ, không rũ bỏ đi những ký ức hào hùng nhất của lịch sử dân tộc…

Chúng ta có Kostas Sarantidis hay tên gọi thân thương hết sức Việt Nam là Nguyễn Văn Lập. Ông là người nước ngoài đầu tiên và duy nhất được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là chiến sĩ “Việt Nam mới”, tham gia chống Pháp và góp phần không nhỏ cho cuộc chiến thống nhất đất nước… Kostas Sarantidis yêu Việt Nam như sinh mệnh và trong một bài phỏng vấn, Kostas Sarantidis cho biết dù có một cuộc đời khác, ông vẫn sẽ chọn cống hiến cho Việt Nam… Ngày ông mất, ông trở về Việt Nam, nằm yên nghỉ cùng đồng đội tại Nghĩa trang Quân khu 5…. Dù mấy chục năm trôi qua, dù không sống ở Việt Nam, Kostas Sarantidis vẫn được người Việt Nam tôn trọng hết mực khiến Ngoại trưởng Hy Lạp phải ngạc nhiên…

Chúng ta còn có Isa Bisenov, một cựu chiến binh người Kazakhstan từng tham chiến ở Việt Nam. Vừa là một người lính tên lửa, vừa có nghiệp vụ quân y, Isa Bisenov đã góp phần bắn hạ nhiều máy bay địch bảo vệ vùng trời Việt Nam, cũng cứu giúp rất nhiều thương binh và dân thường… Isa Bisenov đến Việt Nam rất bí mật và khi ra đi cũng rất lặng lẽ. Cuộc đời của ông cứ thế lặng lẽ trôi cho đến một ngày, Chính phủ Việt Nam đã cử đại sứ đến ngôi làng Kyzylorda nơi mà ông Isa Bisenov sống, gửi đề nghị mong ông trở thành “Công dân danh dự Việt Nam”... Isa Bisenov rưng rưng nước mắt tiếp nhận đề nghị, một ngày ở Việt Nam thì mãi mãi là người Việt Nam…

Chúng ta ghi danh những Ishii Takuo, Mukayama, Ikawa Sei… Họ đều đã từng chiến đấu, hy sinh, nằm lại tại Việt Nam. Họ không sinh ra ở Việt Nam, nhưng dành một phần lý tưởng cuộc đời cho Việt Nam. Tên khai sinh của họ đậm chất nơi họ sinh ra, nhưng khi chết đi, họ đều được khắc lên bia mộ một cái tên Việt Nam….

Lịch sử phản ánh sự hình thành và phát triển của một dân tộc, một quốc gia. Nhìn vào lịch sử, người ta có thể biết được rằng dân tộc ấy, quốc gia như thế nào, có đáng nhận được sự tôn trọng hay ủng hộ hay không… Dân tộc ấy, quốc gia ấy đã trải qua những năm tháng như thế nào? Đối đãi với lịch sử như thế nào cũng chính là câu trả lời cho tương lai.

Chúng ta sẽ dạy con cháu như thế nào về lịch sử? Về sự vinh danh, về sự cảm ơn, về sự biết ơn và ghi nhớ? Hay là hành động tạt nước, giật đổ tượng đài, chửi mắng các vị anh hùng như những tên tội phạm, đồ tể?

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những sự lựa chọn riêng. Mỗi sự lựa chọn phản ánh khát vọng, tinh thần, văn hóa, kế thừa…

Dù lựa chọn như thế nào, dù góc nhìn ra sao, hãy để thế hệ con cháu chúng ta biết được rằng chúng ta có đã những con người hào hùng và chiến đấu trong những năm tháng vĩ đại… Đừng để con cháu chúng ta trở thành những kẻ vô ơn, những kẻ chẳng có quá khứ và cũng chẳng còn tương lai….

 

NVG40 - HẬU QUẢ CỦA THÓI VỌNG NGOẠI, ẢO TƯỞNG!

 

Hơn một tháng nay, các trang mạng chống cộng, như VOA tiếng Việt, RFA, BBC, Saigonnho, Littlesaigontv, Vietbao… đồng loạt đưa tin “nhà văn” Dương Thu Hương (ảnh dưới) được trao Giải toàn cầu 2023 (Cino-Del-Duca 2023) trong khuôn khổ Lễ hội Sách Paris. Đáng nói, tôn chỉ, mục đích của giải thưởng Cino del Duca do Simone Del Duca là “tôn vinh sự nghiệp của tác giả người Pháp hoặc người ngoại quốc có tác phẩm khoa học hoặc văn học mang thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”, nhưng lại được trao cho Dương Thu Hương. Vậy Dương Thu Hương là ai mà được nhận “vinh dự” này?

KẺ VONG QUỐC NGAY TỪ KHI CHƯA RA KHỎI ĐẤT NƯỚC

Vào thời điểm “đêm trước đổi mới” của đất nước, khi những cái cũ kỹ, lạc hậu cần đổi thay, nhưng vẫn bám víu trong thói quen của một số vị lãnh đạo và cái mới, tiến bộ chưa định hình rõ ràng, trong khi các văn sĩ khác vẫn chắt lọc, khơi nguồn cái hay, cái đẹp trong cuộc sống để cho ra những tác phẩm ngợi ca cái đẹp, xây dựng xã hội tiến bộ thì Dương Thu Hương lại tưng bừng ra mắt cuốn sách “Bên kia bờ ảo vọng”. Cuốn sách đã gây sóng gió trên văn đàn trong nước bởi những quan điểm, góc nhìn phiến diện, không biết cảm thông với những khó khăn của đất nước thời kỳ bị Mỹ và phương Tây bao vây, cấm vận. Bằng sự định kiến cố hữu về chế độ xã hội chủ nghĩa, Dương Thu Hương chỉ nhăm nhăm mổ xẻ, khoét sâu những cái lạc hậu của đất nước thời kỳ ấy và hết lời ngợi ca các giá trị phương Tây. Giọng điệu ngang ngược và thái độ bất cần của Dương Thu Hương lập tức được các thế lực thù địch với Việt Nam tung hô, gọi bà ta là “cấp tiến”, là “dám đấu tranh cho công bằng, tiến bộ”... Và rồi sau chuyến giao lưu với các văn sĩ Pháp, Dương Thu Hương đã không trở về nước.

Ngay lập tức, bà ta quay lại chửi rủa chế độ, mạt sát nhân dân, nói xấu đất nước mình. Ngoài thường xuyên trả lời phỏng vấn các trang mạng có tư tưởng thù địch với Việt Nam, những ngày lưu vong tại Pháp, Dương Thu Hương liên tiếp xuất bản các cuốn sách mang nội dung xuyên tạc như: Thiên đường mù, Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen, Vô đề… Tất thảy đều có nội dung bóp méo sự thật về đất nước, chửi rủa nhân dân Việt Nam là “mọi rợ”, nhưng lại dùng nhiều lời hoa mỹ ca ngợi phương Tây - nơi đã tài trợ tiền bạc cùng những danh hiệu ồn ào như “chiến sĩ dân chủ”, “nhà văn đấu tranh vì tự do” cho bà ta.

Trong “Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen”, Dương Thu Hương đã hùa theo giọng điệu của những kẻ chống phá Việt Nam, rằng “Cộng sản Bắc Việt đã gây ra cuộc chiến tranh làm hàng triệu người thảm tử”. Bà ta còn nhai lại giọng điệu của thực dân Pháp, gọi tên nước ta là An Nam một cách miệt thị và cho rằng, lịch sử mấy ngàn năm kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta là “lịch sử bất hạnh của một dân tộc hèn mọn”. Đặc biệt, trong “Đỉnh cao chói lọi”, Dương Thu Hương đã dùng nhiều từ ngữ cay độc để xuyên tạc, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh - điều không một người Việt Nam chân chính nào có thể tha thứ. Đối với mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh thiêng liêng, được khắc sâu trong tâm khảm. Mỗi người Việt Nam đều tự hào bởi chính Người đã làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt Nam. Niềm tự hào về Bác không chỉ người Việt Nam nói với nhau mà thế giới cũng đã công nhận Bác Hồ là anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc và kiên trung, danh nhân văn hóa thế giới. Chính vì vậy mà Bác được người dân Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới yêu mến. Và cũng chính vì điều đó mà các thế lực thù địch với Việt Nam luôn nuôi dã tâm bôi nhọ, xúc phạm, hạ bệ hình ảnh của Người. Và khi “cường độ” chống phá đất nước đã lên cao độ, khi thấy không còn đường về, Dương Thu Hương ngày càng trơ tráo hơn.

CÓ GÌ ĐÁNG TỰ HÀO MÀ ẦM Ĩ

Thường những người có tính tự cao tự đại, luôn nghĩ mình minh triết hơn người sẽ dễ dàng mắc vào cạm bẫy của các thế lực thù địch. Không chỉ Dương Thu Hương mà thời gian qua, không ít văn sĩ, trí thức cũng coi mình là “số 1” và thường chê bai những thứ quanh mình. Họ không chú tâm hoạt động văn hóa nghệ thuật mà lại quan tâm thái quá đến chính trị và muốn nổi tiếng bằng con đường chính trị, như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, nhà báo Nguyễn Thông hay nhạc sĩ Tuấn Khanh… Đầu tiên chỉ là những ý kiến trái chiều được thể hiện một cách gay gắt. Những người này thường chỉ nói theo cảm tính, thể hiện quan điểm cá nhân mà không đặt vấn đề trong một bình diện rộng lớn với lợi ích của quốc gia, dân tộc trên hết để tranh luận một cách khách quan, bình đẳng. Tiếp theo sẽ là cái bắt tay với các nhà “dân chủ” rồi trở thành những kẻ chống phá. Thế nên những người hay chỉ trích, chê bai Đảng, chính quyền, chê bai chế độ thường được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị săn đón.

Đầu tiên chỉ là chê những người xung quanh quê mùa, bần tiện, kém văn minh. Tiếp theo là chê bai, chỉ trích cả xã hội. Ra đường gặp một vụ tai nạn, họ chỉ trích công an, chính quyền không làm tốt trách nhiệm. Không may đâu đó xảy ra hỏa hoạn, tai nạn lao động hoặc thảm họa môi trường, họ sẽ tìm một đối tượng nào đó trực tiếp hoặc gián tiếp (chứ nhất định không phải là họ) gây ra. Thậm chí thiên tai gây lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh ảnh hưởng đến đời sống của người dân cũng sẽ là “tội của mấy ông chính quyền” gây ra… Họ luôn miệng chỉ trích Đảng, Nhà nước, Chính phủ không biết lo cho dân. Rồi chê đất nước mình nghèo, hèn, mông muội như Dương Thu Hương từng viết trong “Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen”. Họ so đất nước mình với nước này nước kia trên thế giới. Rồi họ ca tụng “người ta” văn minh, “người ta” dân chủ, “người ta” chăm lo an sinh tốt chứ không như ở nước mình… mà không ngờ rằng, bản thân đã tự diễn biến, tự chuyển hóa và nằm gọn trong mưu đồ của kẻ xấu. Bởi vì, những người có tầm ảnh hưởng đối với công chúng như các chính trị gia, văn nghệ sĩ, nhà khoa học thì những lời chê bai, chỉ trích của họ sẽ là miếng mồi vô cùng ngon lành đối với những kẻ chống phá đất nước.

Trở lại chuyện Dương Thu Hương được trao giải Cino del Duca do Simone Del Duca, các trang mạng chống cộng ầm ĩ đưa tin và còn thắc mắc rằng báo chí trong nước không nhắc gì đến “sự kiện” này. Thử hỏi, một kẻ vong quốc, phản trắc và chống phá đất nước điên cuồng, đến độ không còn đường về như Dương Thu Hương thì cho dù bà ta có nhận giải thưởng gì, do ai trao tặng, cũng có gì đáng tự hào mà ầm ĩ!

 

NVG40 - HIỆN ĐẠI HÓA QUÂN ĐỘI LÀ CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Hiện đại hóa Quân đội là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược và phương châm xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng trước tình hình mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng yêu cầu: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là chủ trương lãnh đạo nhất quán, đúng đắn của Đảng trong xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội,… các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, cho rằng hiện đại hóa Quân đội là chạy đua vũ trang, hiện đại hóa Quân đội để đàn áp tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, mua sắm vũ khí, khí tài mới là tốn kém, gây lãng phí tiền của đất nước.

Cần khẳng định những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, nằm trong âm mưu của các thế lực thù địch chống phá Quân đội ta, phá hoại sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta đang nỗ lực phấn đấu.

Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực hiện nay có nhiều diễn biến phức tạp, đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại,…việc hiện đại hóa Quân đội là đòi hỏi tất yếu nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, không bị động, bất ngờ. Đây không chỉ là đòi hỏi tất yếu đối với mọi quốc gia mà còn đối với bất cứ lực lượng vũ trang, quân đội của nước nào.

Mỗi quốc gia, căn cứ vào đặc điểm, tình hình cụ thể, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể; tính chất, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang đất nước mình mà thực hiện chính sách hiện đại hoá trang bị vũ khí phương tiện kỹ thuật cho phù hợp.

Là quốc gia trải qua nhiều cuộc chiến tranh, hậu quả để lại nặng nề, vì vậy nhân dân Việt Nam luôn mong muốn có Quân đội nhân dân thật sự hùng mạnh, đủ sức bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương hiện đại hóa vũ khí trang bị cho Quân đội và đã xác định đúng đắn rằng, bên cạnh việc phát huy, nâng cao hiệu quả vũ khí trang bị hiện có, cần phải có trang bị kỹ thuật mới. Sự hiện đại về vũ khí trang bị là nhằm đáp ứng mọi yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh và phù hợp với đặc điểm Việt Nam, điều kiện kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay.

 

 

NVG40 - “TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI”

 

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch và bọn phản động luôn tìm mọi cách để tiến hành “phi chính trị hoá” quân đội, với mưu đồ tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Ðảng. Ðể thực hiện được âm mưu đó, chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao, xuyên tạc rằng, quân đội chỉ phục vụ Nhà nước, không nên phục vụ Ðảng, từ đó làm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội từng bước phai nhạt lý tưởng chiến đấu, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng đối với quân đội.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của các trang mạng xã hội ở nước ta như: Facebook, Zalo, Youtube,..., coi đó là công cụ hàng đầu để chúng lợi dụng chống phá, chuyển hoá chính trị...Vì vậy, tăng cường đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Ðảng trong quân đội là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên hiện nay nhằm phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Ðảng, Nhà nước và Nhân dân với quân đội của các thế lực thù địch và bọn phản động. Làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch, âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, góp phần bảo vệ những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ðể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, cần đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Tăng cường nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, định hướng tư tưởng, hướng dẫn hành động, đấu tranh, phản bác hiệu quả với các quan điểm sai trái, xuyên tạc, thường xuyên bám sát các sự kiện, nắm bắt thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để có biện pháp đấu tranh phù hợp, chính xác, góp phần định hướng dư luận. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây làm chính nhằm tạo sức đề kháng tốt trước những thông tin, luận điệu xuyên tạc, sai trái. Bên cạnh đó, luôn tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhân rộng gương điển hình tiên tiến về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch lành mạnh cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

 

 

 

 

 

NVE40-CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM

 

            Đạo công giáo ở Việt Nam luôn đồng hành, phát triển cùng dân tộc, ngày càng khẳng định được vị trí vai trò cùng toàn dân xây dựng đất nước, những đóng góp của công giáo trong xây dựng đất nước không hề nhỏ trên lĩnh vực y tế, nhân đạo, giáo dục… mối đoàn kết giữa Đảng, nhà nước và công giáo ngày càng khăng khít. Nhưng các  thế lực thù địch lại có âm mưu xuyên tạc chia rẽ Đảng, nhà nước với đạo Công giáo ở Việt Nam.

            Chúng xuyên tạc đạo Công giáo trong lịch sử chúng cho rằng: “Giáo dân Công giáo đã đóng góp quan trọng vào các phong trào đấu tranh chống lại chính quyền cộng sản, đặc biệt là vào thập niên 1950 và 1960 tại miền Bắc”. Chúng giải thích: “Giáo dân chống lại chính quyền cộng sản tại Việt Nam chủ yếu là do họ không đồng ý với chính sách cộng sản về tôn giáo và quyền con người... thường áp đặt các quy định để kiểm soát tôn giáo”. Đây là sự xuyên tạc, đi ngược lại lịch sử nói chung, về tôn giáo, đạo Công giáo nói riêng. Như chúng ta đã biết trong thập niên 1950 - 1960, chẳng có “phong trào đấu tranh chống lại chính quyền cộng sản” nào cả, chỉ có các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược - những kẻ đã dựng lên chính quyền tay sai để đàn áp cách mạng, giết hại đồng bào (trong đó có tín đồ Công giáo). Chúng còn tuyên truyền: “Cộng sản là vô thần sẽ tiêu diệt tôn giáo”, “thà mất nước còn hơn mất Chúa”…

            Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc.  Nhưng trước sự kích động, lôi kéo của ngoại bang và tay sai, một bộ phận giáo dân đã mắc mưu, ngộ nhận tin theo luận điệu thâm độc đó, làm tay sai, công cụ chống phá cách mạng, cản trở cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước. Số người này không đại diện cho đại đa số tín đồ Công giáo ở Việt lúc bấy giờ, họ chỉ là những người bị lợi dụng để chống phá cách mạng. Bởi vì, đa số tín đồ tôn giáo nói chung, tín đồ Công giáo nói riêng đều nhận thức được quan điểm xuyên suốt của Đảng, Bác Hồ là “tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, “lương giáo đoàn kết”. Đảng, Chính phủ, chính quyền các cấp luôn quan tâm sâu sắc đến lợi ích thiết thực của giáo dân cả phần đời và phần đạo, đặc biệt về sản xuất, ăn ở, học hành, gửi thư thăm hỏi, động viên, tặng quà... Với những người lầm đường lạc lối, chúng ta luôn kiên trì thuyết phục, cảm hoá với thái độ khoan dung độ lượng, lời lẽ chân tình, bởi họ đều là “ruột thịt”, “con Lạc, cháu Hồng”, đều có lòng yêu nước nhưng do mắc mưu kẻ địch nên chưa nhận ra lẽ phải và luôn “mong những đồng bào đó mau mau giác ngộ và quay về với kháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc”. Thực tế đã chứng minh, do có quan điểm và ứng xử với tôn giáo phù hợp, Đảng, Bác Hồ đã cảm hoá được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo theo Đảng làm cách mạng.

            Cùng với những luận điệu đó chúng xuyên tạc đạo Công giáo hiện nay. Họ cho rằng, hiện nay tín đồ Công giáo đang cùng các tín đồ “tôn giáo bạn”, “các nhà hoạt động bênh vực nhân quyền” thực hiện các hoạt động nhằm “không ngừng đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam và toàn thế giới”. Chúng cũng chỉ ra những người tiêu biểu, là “các tu sĩ và giáo dân đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền, môi trường”: Lê Ngọc Thanh, Đặng Hữu Nam, Lê Đình Lượng, Nguyễn Đình Thục…. Thực chất đây là luận điệu xuyên tạc, đánh tráo khái niệm giữa những tín đồ Công giáo “Kính Chúa, yêu nước” với những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng.

            Có thể khẳng định rằng ở Việt Nam, các tôn giáo luôn chung sống hòa hợp, đồng hành cùng dân tộc, có những đóng góp không nhỏ, gắn liền với sự hưng vong của dân tộc, với tinh thần “Bàn thờ tôn giáo thì có nhiều nhưng bàn thờ Tổ quốc chỉ có một”, thể hiện qua đường hướng, phương châm hành đạo: Phật giáo: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; Công giáo: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Đạo Tin Lành:“Phụng sự Thiên Chúa, Tổ quốc và Dân tộc”…. Đại đa số tín đồ tôn giáo đều thừa nhận và thực hiện theo những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp đó. Còn những âm mưu xuyên tạc, có những hoạt động trái ngược, thì chúng thực sự là “Việt gian đồng thời cũng là giáo gian”, “Phản Chúa, phá đạo”. Đây cũng là những kẻ mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao đại diện cho những “tổ chức tôn giáo độc lập”, vu khống Đảng, Nhà nước ta phân biệt, đối xử và “đàn áp”.

            Vấn đề lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam dù không mới, nhưng vẫn luôn là thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội nói chung, sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo nói riêng. Âm mưu, thủ đoạn của chúng đã bị vạch trần, pháp luật xử lý nghiêm minh, đồng thời bị chính các tổ chức tôn giáo, tín đồ lên án, tẩy chay, kỷ luật. Thông qua đó, giúp cho mọi người phân biệt rõ đâu là sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy, đúng đắn, đâu là những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, phản nước, hại dân. Đồng thời, làm cho dư luận thế giới có cái nhìn khách quan, chính xác về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Vì vậy trách nhiệm của mỗi chúng ta cần tiếp tục nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đấu tranh không khoan nhượng, xây dựng đất nước đoàn kết không phân biết theo hoặc không theo tôn giáo./.

 

NVE40-LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

            Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tập trung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các luận điệu xuyên tạc cho rằng: “mô hình kinh tế nầy là giả tạo, nhất là việc Đảng có thể dùng chủ nghĩa xã hội để định hướng kinh tế thị trường... như thế là trái với quy luật khách quan, rất cần phải được loại bỏ khỏi hiến pháp”. Thực chất đây là một luận điểm chống phá với mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận bản chất tốt đẹp, tính tất yếu khách quan trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bởi vì:

            Như chúng ta biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường đã hình thành từ xã hội nô lệ, trong xã hội phong kiến có sự phát triển nhất định, đến xã hội tư bản chủ nghĩa kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, đem lại sự giàu có cho các nền kinh tế thị trường hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra, loài người nhất thiết phải trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu lịch sử, song hiện nay kinh tế thị trường đang có những bước phát triển thích nghi với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, đòi hỏi các nền kinh tế phải trải qua kinh tế thị trường. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mỗi nước để vận dụng và phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở quy luật vận động chung của kinh tế thị trường, theo định hướng riêng của mỗi nước.

            Ở Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách chống phá. Theo đó, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp chỉ đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Do đó, để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phải trải qua thời kỳ quá độ với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở đổi mới tư duy, nắm bắt đúng quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại, vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện cụ thể Việt Nam; Đảng ta đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp. Đại hội VII, VIII của Đảng đều xác định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; và từ Đại hội IX của Đảng đến nay, cũng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đều xác định: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Nền kinh tế Việt Nam là nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

            Có thể khẳng định lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện; đó là nền kinh tế thị trường hiện đại; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; với tính ưu việt được thể hiện cả trong sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối; gắn phát triển kinh tế với xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; đó là mục tiêu tốt đẹp mà xã hội loài người đang hướng tới và phấn đấu đạt được.

Chúng tã đã thấy thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 36 năm qua đã chứng minh, từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện về mọi mặt; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao. Tổng kết 35 năm đổi mới (1986 - 2020), Việt Nam từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, có thu nhập thấp, đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; kinh tế Việt Nam phát triển liên tục từ 1986 đến 2020 với tốc độ trung bình khoảng 7% mỗi năm; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần. Năm 2021, do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, trong khi nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng thấp, song Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng 2,56%. Năm 2022, Việt Nam lấy lại đà tăng trưởng 8,02%. Đời sống nhân dân được nâng lên, các chính sách an sinh xã hội bảo đảm tốt; chính trị - xã hội đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững.v.v.

            Tóm lại hhững thành tựu đó đã chứng minh đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cho nên, những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch đưa ra là hoàn toàn xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy mỗi chúng ta cần tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang đi, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, phủ nhận phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 

NVE40-ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA VIỆT NAM

 

Biển Đông ngày càng được định vị quan trọng hơn trong các chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm điểm tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt là các nước lớn. Hơn hai thập kỷ trôi qua, vùng biển này luôn là “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Trước hết, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông. Thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Điển hình là các sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; sự kiện Bãi Tư Chính (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019). Và từ đầu tháng 5/2023 đến nay tình hình Biển Đông lại “nóng lên” khi Trung Quốc tiếp tục điều tàu khảo sát, tàu hải cảnh, tàu dân binh vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam.

Các đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện đó để xuyên tạc chủ trương, chính sách và các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ, bất ổn trong nước. Chúng viết bài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Chính phủ Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “Chính phủ Việt Nam bán Biển Đông”, “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài; chính quyền “không nói rõ về tình hình tại khu vực bãi Tư Chính”, “không có giải pháp mạnh với Trung Quốc”. Chính phủ Việt Nam “bịt miệng báo chí”, “Nhà nước Việt Nam đã đồng ý giao bãi Tư Chính cho Trung Quốc” để nhân đó kêu gọi lật đổ chế độ. Có kênh Youtube tung ra nhiều tin giả như “vụ Tư Chính là bước đầu để hợp thức hóa Mật ước Thành Đô” để kích động nhân dân bức xúc, xúi giục biểu tình, tẩy chay Trung Quốc.

Bên cạnh đó, lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc, trên mạng xã hội các tổ chức khủng bố, phản động lại tăng cường tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng, Nhà nước ta; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...

Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo để chống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập. Đó là những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi nên cần phải có những cách thức để đấu tranh phản bác có hiệu quả.

Trong bối cảnh tình hình biển Đông đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam theo luật pháp quốc tế ở Biển Đông ngày càng khó khăn, quyết liệt hơn bao giờ hết. Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển”.

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do vậy mỗi người dân Việt Nam cần hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền là nhất quán và đều vì lợi ích của dân tộc và nhân dân Việt Nam; đồng thời có thái độ ủng hộ, tin tưởng, tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; từ đó góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên khu vực Biển Đông, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

 

NVE40- PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO

 

Biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, phần máu thịt không thể tách rời và có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, kích động, chống phá chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Yêu cầu đặt ra là phản bác và đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam. Vùng biển, đảo nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ được phân bố theo chiều dài bờ biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ biển Đông… Với tiềm năng kinh tế biển hết sức to lớn, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo vị thế chiến lược quốc phòng - an ninh vững chắc của đất nước. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đầy cam go, quyết liệt của dân tộc đã chứng minh vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng của công cuộc phòng thủ quốc gia từ hướng biển. Đảng ta xác định, biển, đảo của Việt Nam có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4, khóa X nêu rõ: “… phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, cả nước đã hướng về biển đảo, chúng ta quán triệt phương châm: kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài đã lợi dụng các trang mạng xã hội: facebook, Youtube, Twitter, Zalo… xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo; lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông phát tán tài liệu, hình ảnh, video hòng bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động dư luận. Mục đích của chúng nhằm khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, vu khống trắng trợn rằng: Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; còn tung luận điệu xảo trá, vu cáo “chính quyền Việt Nam làm ngơ về biển Đông”... Chúng đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó đánh vào tâm lý hoài nghi của người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn… Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thời gian qua, đồng thời cũng là luận điệu nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Do đó, cần nhận diện, bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, xuyên tạc, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.Để xây dựng nước Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; đồng thời, tiếp tục nâng cao vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo đảm an ninh biển, đảo trong tình hình mới mỗi cán bộ Đảng viên quân nhân trong quân đội  cần thực hiện tốt một số nội dung sau: 

Tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức chính trị, hành động cách mạng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đặc biệt là bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu của các thế lực thù địch chống phá ta. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về chủ quyền biển, đảo nhằm góp phần nâng cao nhận thức đúng, tuân thủ pháp luật. Thường xuyên nắm bắt tình hình dư luận xã hội, thông tin liên quan đến các vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam, đặc biệt là tình hình biển Đông để kịp thời phản bác, bóc trần, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng, với những hành vi lợi dụng internet và các trang mạng xã hội nhằm xuyên tạc, kích động dư luận chống phá Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

 

NVD40 - Nhận thức đúng về tự do tín ngưỡng,tôn giáo ở Việt Nam

 

Vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền luôn là tâm điểm mà các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam được đề cập trong các Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và một số trang mạng xã hội, đồng thời, đưa ra những bằng chứng để phê phán, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, khẳng định những thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. 

Những nhận định trên hoàn toàn mang tính bịa đặt, bóp méo sự thật và xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và đã không ngừng nỗ lực bảo đảm quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế(2).

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Có thể nói, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số phẩn tử phản động trong tôn giáo đang cố tình phớt lờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam là nằm trong mưu đồ của các thế lực chính trị phản động, muốn lợi dụng các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo như những công cụ mềm để đưa Việt Nam vào quỹ đạo ảnh hưởng, phục vụ cho lợi ích của các nước lớn, gây sức ép, “mặc cả” Việt Nam đánh đổi các vấn đề về chính trị và lợi ích kinh tế trong quan hệ quốc tế và từng bước cải cách Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam hoặc có thể tạo cớ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Do đó, các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo sự ổn định để phát triển đất nước theo mục tiêu mà dân tộc ta đã lựa chọn.

 

NVD40 - Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được Đảng ta xác định là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đường lối, quan điểm, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự kế thừa và phát triển về tư duy, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính khái quát cao, là kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn dân tộc, vừa có tính tổng kết lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta về phát triển đất nước nhanh và bền vững. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó cũng như những thành tựu Việt Nam đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tuyên truyền những luận điểm sai trái, xuyên tạc bác bỏ kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam. Thực tế này đòi hỏi cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái về vấn đề này.

Hiện đang xuất hiện một số luận điểm tập trung chứng minh: khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế nghĩa là Việt Nam đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng TBCN, định hướng XHCN chỉ là mị dân, hình thức. Đây hoàn toàn là ý kiến xuyên tạc, bịa đặt. Có thể thấy, trong thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất, nhằm huy động tối đa sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội vào phát triển kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tốc độ tăng trưởng cao. Qua hơn 35 năm đổi mới “kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng từ 39-40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tỷ lệ đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm khoảng 34,1%,… góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội”. Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu: phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 đến 65%.

Tuy nhiên, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng không đồng nghĩa với việc chúng ta “tư nhân hóa” nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bản thân kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng được định hướng hoạt động và phát triển phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội chung của Đảng và Nhà nước chứ không phải phát triển một cách tự phát. Những luận điệu phê phán, phủ nhận, xuyên tạc bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay của các thế lực thù địch đều nhằm hướng đến một đích đến duy nhất là làm chệch hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường, từ đó làm chệch quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, cần hết sức tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai lầm, phi lý và vô căn cứ này; tiếp tục giữ vững niềm tin vào con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn./.

 

NVC40 - NHỮNG HÀNH ĐỘNG MỚI CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG GẦN ĐÂY

 

Việt Nam khẳng định việc Trung Quốc lắp đặt các phao đèn báo hiệu tại các thực thể ở quần đảo Trường Sa trên Biển Đông mà không được sự đồng ý của Việt Nam là "vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, vì vậy không có giá trị pháp lý".

5 lực lượng phối hợp trên Biển Đông

Hai hành động phi pháp trên của Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam nằm trong chuỗi hoạt động "vây lấn" mà nước này đang thực hiện từ đầu tháng 4 đến nay ở Biển Đông. Thế trận "vây lấn" lần này của Trung Quốc mang tính phức hợp, liên hoàn và được triển khai đồng loạt ở nhiều vị trí chiến lược.

Trung Quốc đã huy động đến năm lực lượng tham gia thế trận phức hợp lần này với những nhiệm vụ "vây", "lấn" và "tấn" cụ thể bao gồm: dân binh, hải cảnh, hải tuần, hải quân và cuối cùng là các tàu khảo sát hàng hải.

Trong đó, sự phân nhiệm giữa các lực lượng này nhằm thực hiện định hướng "bình thường hóa" các cuộc đối đầu trong phạm vi "đường 9 đoạn" (đường lưỡi bò) phi pháp được bộc lộ cụ thể như sau:

Thứ nhất là lực lượng dân binh của Trung Quốc với vai trò thường trực ở cả hai chức năng trong công tác "vây". Chức năng đầu tiên là phong tỏa các thực thể chưa có người ở khu vực trung tâm "đường 9 đoạn" phi pháp thông qua sự hiện diện tập trung quanh hai thực thể đá Ba Đầu (với hơn 100 tàu) và bãi Sabin (18 tàu) theo ghi nhận vào ngày 23-4.

Chức năng kế tiếp là bảo vệ vòng trong cùng khi hộ tống các tàu khảo sát hàng hải hoặc các khu vực do Trung Quốc kiểm soát trái phép trên Biển Đông.

Sự kiện tám tàu dân binh Trung Quốc được phát hiện di chuyển cắt ngang đội hình các tàu hải quân của ASEAN và Ấn Độ, trong khuôn khổ diễn tập AIME-23 vào ngày 9-5 vừa qua, là minh chứng điển hình cho chức năng này.

Thứ hai là lực lượng hải cảnh. Với chức năng chấp pháp, lực lượng này thực hiện công tác "lấn" một cách chủ động nhằm hỗ trợ lực lượng dân binh Trung Quốc ở trên đối trọng với các tàu chấp pháp của ASEAN.

Điển hình là sự túc trực thường xuyên của hai tàu hải cảnh Trung Quốc 4303 và 5305 hộ tống tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 ở khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam từ giữa tháng 5.

Thứ ba là lực lượng hải quân, tuy không can dự trực tiếp vào thế trận do dân binh - hải cảnh thực hiện mà chủ yếu hiện diện từ xa ở vòng ngoài cùng thông qua hai hoạt động được ghi nhận.

Một là tuyên bố tự tập trận ở một số khu vực trên Biển Đông theo thông báo vào ngày 27-4 và hai là tiến hành tập trận song phương Trung Quốc - Singapore, từ ngày 28-4 đến 1-5 tại vùng biển quốc tế sát mũi phía nam của Biển Đông, mà phía Trung Quốc tuyên truyền rằng "sẽ thúc đẩy sự cởi mở và hiểu biết lẫn nhau" ở vùng biển này.

Ngoài ra, cũng có ghi nhận về hiện diện không rõ chủ ý của tàu hải quân Trung Quốc, quanh khu vực đảo Thị Tứ (của Việt Nam nhưng phía Philippines chiếm đóng trái phép) vào ngày 23-4 trong động thái hỗ trợ công tác "tấn" của hải cảnh Trung Quốc.

Hai lực lượng còn lại là nhóm tàu khảo sát hàng hải và tàu hải tuần. Hai nhóm tàu này tuy xuất hiện đơn lẻ nhưng lại có sự phối hợp hoạt động rất tinh vi.

Cụ thể, mặc dù hiện chỉ có tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 hiện diện trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở bãi Tư Chính, nhưng vẫn còn hai tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 14 và Hướng Dương Hồng 31 được xác định vẫn đang hiện diện trong khu vực quanh cụm Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Cả hai khu vực này đều có trữ lượng dầu mỏ lớn cùng những ngư trường dồi dào trên Biển Đông, đặc biệt là bãi Tư Chính được phía Trung Quốc ước tính có đến 5 tỉ tấn dầu.

Những lần Trung Quốc xâm phạm vùng biển và chủ quyền của Việt Nam

- Tháng 5-2011: Tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Việt Nam bị tàu công vụ Trung Quốc cắt cáp khi đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

- Tháng 11-2012: Tàu Bình Minh 02 lại bị tàu Trung Quốc cắt cáp khi đang ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.

- Từ tháng 5 đến 7-2014: Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

- Tháng 7 và 8-2019: Tàu khảo sát Hải Dương 8 cùng các tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

- Tháng 3-2021: Trung Quốc đưa hàng trăm tàu xâm nhập phạm vi lãnh hải của đảo Sinh Tồn Đông, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

- Tháng 5-2023: Trung Quốc đưa tàu Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

 

NVC40 - PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO, TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán chính sách quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cũng như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tinh thần “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận về tôn giáo và quản lý đất nước trong lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết 24 (1990) của Bộ Chính trị khóa VI về công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết 25 (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới, đột phá, thừa nhận “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thể hiện đường lối, quan điểm một cách rõ ràng, minh bạch nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và CNXH ở nước ta.

Với quan điểm nhất quán đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng đã được minh định theo hướng “vừa giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo” và “công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. Cũng xuất phát từ quan điểm đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được luật hóa trong các bản Hiến pháp và các bộ luật liên quan trên các mặt công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật... Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24, Hiến pháp 2013).

Ngày nay, các tôn giáo đều xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc như: “Hộ quốc an dân” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của Tin Lành; hoặc “Nước vinh đạo sáng” của Cao Đài… Những đường hướng này phù hợp với giáo lý, với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đất nước và lợi ích của Giáo hội.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức phản động đội lốt tôn giáo chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, “đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo ở nước ta, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Họ sử dụng thông tin, do những tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo ở trong và ngoài nước, bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước làm căn cứ, cơ sở báo cáo đánh giá, nhận định thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; qua đó, khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ”, mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của tôn giáo và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, chúng kích động với luận điệu như: “Quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo” của người dân bị xâm phạm; “chính quyền can thiệp vào nội bộ của tổ chức tôn giáo”; “các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận pháp nhân là tổ chức tôn giáo quốc doanh”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”…

Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do không cần đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung theo quy định tại Điều 16, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không cần đăng ký để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo theo quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 20 của Luật        Tín ngưỡng, tôn giáo; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận”…Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ, mục đích xấu xa nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán, đánh giá của họ chỉ là sự lạc lõng, thiếu khách quan không được chức sắc tôn giáo tiến bộ trong và ngoài nước ủng hộ.

Song dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo. Những năm qua, tuyệt đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo trong nước luôn đồng hành gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Các thế lực thù địch, cơ hội cực đoan lợi dụng vấn đề dịch Covid-19 thời gian qua để xuyên tạc rằng, Việt Nam lợi dụng công tác phòng, chống dịch để thực hiện các vấn đề vi phạm dân chủ, nhân quyền. Vu cáo Đảng và Nhà nước ta không chăm lo cho đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo, không cho họ tổ chức lễ hội truyền thống...

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Chính các chức sắc tôn giáo phải vững vàng trước những luận điệu xấu độc để ra sức cùng Đảng và Nhà nước vận động đồng bào nhân dân nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch.

Cùng với đó, nâng cao đổi mới hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân trên các kênh thông tin đại chúng trong và ngoài nước. Lan tỏa những tấm gương “người tốt, việc tốt”, sống “tốt đời, đẹp đạo”; các hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào theo đạo nổi bật của các cấp ủy, chính quyền địa phương, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, góp phần hình thành tư tưởng tích cực trong cán bộ, đảng viên, định hướng dư luận củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với đời sống tôn giáo.

Tại các diễn đàn song phương, đa phương, các tổ chức tôn giáo Việt Nam cần thể hiện rõ tinh thần yêu chuộng hòa bình và lòng tự hào dân tộc, tích cực ủng hộ và đóng góp sáng kiến vào các tuyên bố chung, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, giảm xung đột, bạo lực và chiến tranh vì lý do tôn giáo, sắc tộc. Vận động các tôn giáo đồng đạo trên thế giới ủng hộ Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào tôn giáo luôn được vun bồi, phát huy và tỏa sáng trong lòng dân tộc Việt Nam.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...