Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

NVH40 - Nhận diện một số luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đây là một trong những nội dung chính của hoạt động “diễn biến hòa bình”, của hoạt động tuyên truyền phá hoại của các thế lực thù địch những năm qua.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền nhằm kích động quần chúng loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, như phê phán Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo, hạn chế dân chủ. Chúng cho rằng: “Độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đạiĐảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Chúng thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối lẫn chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong quá khứ, đặc biệt là ở lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội để chứng minh cho sự chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Chúng khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo và thực hiện đường lối, chính sách của những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tha hóa, tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết trong Đảng và giữa Đảng với quần chúng nhân dân.

Các thế lực thù địch đánh giá: Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong giai đoạn hẫng hụt về lãnh đạo, nội bộ mất đoàn kết, bị phân hóa. Cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật kém, các chủ trương của Trung ương đã bị các địa phương triển khai sai lệch, dẫn đến gây rối loạn chính trị, trật tự xã hội. Chúng ráo riết tuyên truyền Đảng Cộng sản Việt Nam đang khủng hoảng lãnh tụ, không ai nói được ai. Chúng chủ trương vừa thúc đẩy các hoạt động chống phá ta về tổ chức, nhân sự, rồi tăng cường móc nối, xâm nhập vào nội bộ Đảng với ý đồ “gài bẫy” khống chế, chuyển hóa chế độ từ bên trong, bên trên; làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam bị đổi màu, biến chất, mất vai trò lãnh đạo,…

Theo quan điểm của các thế lực thù địch, muốn chiến thắng đối phương phải phá vỡ sự gắn bó trong tổ chức Đảng Cộng sản và giữa Đảng với nhân dân. Chúng khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để làm suy yếu, đi đến phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần đây, chúng tung ra một số luận điệu vu khống, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao ở các thời kỳ nhằm đề cao người này, hạ thấp người kia để chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của đảng viên, cán bộ và nhân dân. Chúng phủ định đường lối, chính sách của Đảng ta, với luận điệu: kinh tế thị trường sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa còn non trẻ, ốm yếu ở Việt Nam... sẽ tới một ngày Chính phủ Việt Nam chỉ còn là Cộng sản trên danh nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, nâng cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng để tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch một cách có hiệu quả.

 

NVE40-KIÊN ĐỊNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG BỐN KHÔNG VÀ GIỮ GÌN MỐI QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM-TRUNG QUỐC

 

Lịch sử quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc đã chứng kiến sự nỗ lực của hai Đảng, hai Nhà nước cùng nhân dân để phát triển, làm sâu sắc thêm quan hệ láng giềng, hữu nghị giữa hai bên. Song, vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan, quan hệ hai nước vẫn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, chưa được giải quyết tốt.

Đặc biệt, vấn đề chủ quyền và lợi ích trên Biển Đông là thách thức lớn nhất trong quan hệ Việt - Trung hiện nay. Trong lịch sử quan hệ hai nước, mặc dù gắn bó, sẵn sàng tương trợ lẫn nhau những lúc khó khăn, song không tránh khỏi những bất đồng liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ. Thực tiễn cho thấy, vấn đề Biển Đông luôn là nhân tố chính, cản trở những nỗ lực vun đắp, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Đây được coi là vấn đề hết sức “nhạy cảm”, liên quan đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc nên khó tìm được sự “nhượng bộ” cần thiết trong thương lượng, giải quyết. Những “ý đồ chiến lược” của Trung Quốc đối với khu vực và thế giới gây bất lợi cho nhiều quốc gia và Việt Nam. Sự chống phá của các thế lực, đặc biệt là Mỹ trong chiến lược “kiềm tỏa” Trung Quốc đang ngày càng khoét sâu mâu thuẫn giữa các nước trong khu vực Biển Đông với Trung Quốc. Qua đó đặt ra những thách thức khó giải quyết cho Việt Nam trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông với thúc đẩy, phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam. Chúng ta không đứng về bên nào, chúng ta bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đồng thời, Việt Nam không chấp nhận để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, hoặc là sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba. Lịch sử hiện đại cho chúng ta thấy rõ, nếu có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình, dễ biến Tổ quốc ta thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, ít nhất thì cũng khiến đất nước ta khó tránh khỏi bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh giữa các nước.

Sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ, hòa bình, chính nghĩa, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc mới là điều mà các quốc gia, dân tộc tiến bộ đều đang hướng tới. Việt Nam kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và luật pháp quốc tế; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, không phải là Việt Nam tự “trói tay” mình, trái lại, nó có tác dụng “cởi trói” cho chúng ta, cả trong tư duy và hành động để ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức là không bị người khác trói buộc mình.

Chúng ta mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, không hề mâu thuẫn với việc chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy rõ: Tuy có quan hệ thân thiết với nhau, thậm chí liên minh quân sự với nhau, nhưng khi gặp vấn đề liên quan tới lợi ích quốc gia, dân tộc của nước lớn, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo triết lý ưu tiên lợi ích của họ là trước hết, là trên hết.

Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài hoặc tham gia liên minh quân sự với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong mối quan hệ Việt - Trung hiện nay cần thống nhất về nhận thức, xác định rõ tầm quan trọng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cần xác định, đây là mối quan hệ “đặc biệt” cần ưu tiên giải quyết trong các trường hợp xảy ra mâu thuẫn, bất đồng, thậm chí xung đột. Với sự gắn bó chặt chẽ trong lịch sử và trong hiện tại giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân, có thể khẳng định đây là mối quan hệ không thể tách rời.

Mỗi chúng ta cần tránh những tư tưởng lệch lạc, dao động, thiếu nhạy bén, bị các lực lượng thù địch lôi kéo, tác động, ảnh hưởng đến nhận thức chung. Thống nhất hành động từ trung ương đến địa phương, các bộ, ngành cần đoàn kết, đặt lợi ích dân tộc lên trước hết, trên hết trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Giữ vững độc lập, tự chủ, kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích giữa đôi bên. Sự “trỗi dậy” của Trung Quốc về kinh tế, chính trị, quân sự… trong những năm gần đây cho thấy, quan hệ Việt - Trung không dừng lại ở mối quan hệ láng giềng, đồng chí, anh em, đối tác mà còn là mối quan hệ với nước lớn, khu vực kinh tế lớn và cường quốc quân sự. Do đó, cần phát huy sự khéo léo, linh hoạt, tích cực, chủ động tranh thủ đàm phán, giải quyết mọi bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, chống lại mọi sự can thiệp, thao túng từ các thế lực bên ngoài.

Tiếp tục chính sách “cân bằng linh hoạt” trong quan hệ với các nước lớn, mang lại lợi ích tối đa cho dân tộc. Đề phòng mọi sự hợp tác của bên ngoài, gây tổn hại đến chế độ và lợi ích của dân tộc. Cần tỉnh táo, nâng cao sức đề kháng trong việc thu hút đầu tư, vay vốn để phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Xây dựng “niềm tin chiến lược”, thúc đẩy việc ký kết Hiệp ước Láng giềng Hữu nghị với Trung Quốc. Xây dựng “niềm tin chiến lược” là nói đến sự tin cậy, thấu hiểu lẫn nhau, sự chuyển hóa từ những tuyên bố thành những hành động cụ thể, thiết thực, hiệu quả giữa hai bên.

Về phía Trung Quốc, cần có sự tôn trọng lợi ích trong hợp tác kinh tế, chính trị, quân sự đối với Việt Nam. Đảm bảo thống nhất thực hiện những cam kết quốc tế, tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ nguyên tắc đã tuyên bố giữa các bên. Về phía Việt Nam, thống nhất và kiên quyết trong hành động quốc tế. Giữ vững an ninh - quốc phòng, ổn định tư tưởng trong cán bộ và nhân dân, đầu tư hơn nữa cho quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực. Kiên trì, chủ động trong việc đàm phán, giải quyết bất đồng liên quan đến chủ quyền và lợi ích quốc gia. Tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trong xử lý các quan hệ quốc tế./.

 

NVE40- LẠI NHỮNG LUẬN ĐIỆU VU CÁO NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Trong một thông cáo phát đi ngày 8/6/2023 (một ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền Liên hiệp châu Âu - Việt Nam tại Hà Nội), tổ chức HRW đã vu cáo rồi lấy cớ kêu gọi châu Âu gây áp lực để buộc Việt Nam chấm dứt các hành động “vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống”. Trước đó, ngày 26/5/2023, tổ chức này đã gửi đến Liên hiệp châu Âu một “tờ trình” (submission) về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, yêu cầu EU gây sức ép để chính quyền Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho những người đang bị giam giữ vì lý do chính trị. Tổ chức này còn lên tiếng đòi sửa đổi hoặc hủy bỏ một số điều khoản trong Bộ luật Hình sự mà họ cho rằng “thường được viện dẫn để đàn áp các quyền dân sự và chính trị, hạn chế quyền tự do đi lại đối với các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ”!

Tổ chức HRW (Human Rights Watch) được thành lập năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích giám sát Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền nhưng nhìn vào những hoạt động của HRW cho thấy, lời nói không đi đôi với việc làm, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích. Thực tế đó cho thấy, mặc dù mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW đều thể hiện ý đồ, động cơ chính trị. Nhìn vào các hoạt động của tổ chức này cho thấy sự bất hợp lý và ý đồ bôi nhọ, hạ uy tín, hình ảnh của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Một tổ chức không hiện diện ở Việt Nam, không nắm được tình hình thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam song lại tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền. Riêng điểm này đã thấy sự suy diễn, áp đặt từ các thông tin mà tổ chức này công bố và nguồn thông tin HRW có được thực chất là do các tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam cung cấp nhằm tạo cớ bôi nhọ, chống phá.

Thực tế cho thấy ngay sau khi Việt Nam là thành viên của LHQ (năm 1977), vào những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của LHQ. Vào những năm 1981, 1982 và 1983, Việt Nam đã gia nhập 7 công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm: Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng; Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội ác A-pac-thai; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống lại nhân loại; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW).

Tính đến hết năm 2022, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của ILO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Ngay cả Mỹ hiện nay vẫn là nước duy nhất trên thế giới chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về trẻ em năm 1989. Quốc gia này cũng chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, chúng ta đều cam kết thực hiện và coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Điều này là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết.

Cùng với việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành trọn vẹn 36 điều trong tổng số 120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; cùng với các luật, bộ luật được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Điều này không chỉ xác lập cơ sở pháp lý về các quyền của chủ thể hưởng quyền (cá nhân, công dân, các nhóm yếu thế trong xã hội) mà còn đặt nghĩa vụ, trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và các tổ chức phi nhà nước phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người đã được Hiến pháp quy định là Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3 và khoản 1, Điều 14, Hiến pháp năm 2013).

Một trong những thành tựu nổi bật về nhân quyền là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.

Ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ, lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016. Lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ là một trong những minh chứng rõ ràng nhất và là sự khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam đối với quốc tế trong đảm bảo quyền con người. Sự ghi nhận của quốc tế không chỉ những đóng góp của chúng ta trong thúc đẩy quyền con người trên toàn cầu mà trước hết là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm các quyền cơ bản của con người ở ngay trong nước.

Theo đánh giá của Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) về Phát triển con người toàn cầu 2021-2022, ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn thực hiện tốt việc đảm bảo quyền con người. Chỉ số phát triển con người tăng 2 bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, lên thứ 115 năm 2021. Về chỉ số phát triển giới, Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia, nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới. Đặc biệt, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất toàn cầu. Với những thành tựu và kinh nghiệm thực tế có được sẽ là cơ sở để Việt Nam tiếp tục thể hiện trách nhiệm, góp phần thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở khu vực và quốc tế.

Vì vậy, dù tổ chức HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, vu cáo đàn áp mạng xã hội, đàn áp tôn giáo, không lo cho dân, bỏ mặc dân… thì chính những thành tựu về nhân quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm được là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc./.

 

NVE40-CẢNH GIÁC ÂM MƯU CỦA TỔ CHỨC FULRO VÀ VẤN ĐỀ ĐAK LAK

 

            Không nghi ngờ gì nữa, vụ khủng bố đẫm máu vào trụ sở Công an 2 xã ở huyện Cư Kuin (tỉnh Đak Lak) và giết người vô cớ mà nhóm đối tượng thực hiện rạng sáng 11-6-2023 do bọn phản động giật dây, không phải bức xúc cá nhân. Hành vi manh động tàn ác là cách làm quen thuộc của tổ chức FULRO gần 60 năm trước đến nay. Đã có không ít dân lành Tây Nguyên chết oan uổng bởi sự tàn ác của bọn phản động này, nhất là những năm 1975 đến 1992 khi FULRO được thế lực chống phá Việt Nam dung dưỡng trong những cánh rừng ở tỉnh Mondulkiri, Campuchia.

            Cần nói qua về tổ chức này. Ngày 20-9-1964, dưới sự chủ tọa của Quốc vương Campuchia Sihanouk, “Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức” đã thành lập (gọi tắt là FULRO). Được một số thế lực chống phá Việt Nam tiếp sức, nhóm này ẩn náu ở tỉnh Mondulkiri, giáp biên giới với Đak Lak để dễ cơ động phá hoại nước ta.

            Sau khi miền Nam giải phóng (30-4-1975), chúng liên tục quấy nhiễu Tây Nguyên. Sự đấu tranh không khoan nhượng của đồng bào và chính quyền các cấp, cộng với những lời hứa của các ông chủ nước ngoài không thành hiện thực nên tổ chức này dần tan rã. Năm 1992, số tàn binh FULRO hơn 400 người được bảo trợ, đưa ra nước ngoài, hòng tính kế lâu dài chống phá Việt Nam.

            Sang phương Tây, kết hợp với một số tổ chức phản động sẵn có hà hơi tiếp sức, chúng sử dụng thông tin liên lạc lôi kéo, dụ dỗ người dân tham gia một số tổ chức nhân danh tôn giáo. Đấy là “Tin lành Đê ga”, tà đạo “Hà Mòn”, “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”… Chúng cho rằng tôn giáo chính thống được cả thế giới công nhận, do Nhà nước ta cho phép hoạt động là “tôn giáo quốc doanh” không đáng tin cậy, phải là “hệ phái” do các phần tử này đẻ ra mới đáng tin tưởng. Nhưng thử xem “đấng cứu thế” lập ra tổ chức này là ai? Tà đạo “Hà Mòn” do Y Gyin (ở làng Kơ Tu, xã Hà Mòn, huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum) “độ chế” cuối năm 1999. Y Gyin là con chiên của Thiên chúa giáo nhưng hành nghề thầy mo thầy cúng ở làng Kơ Tu (danh phận thường do nam giới đảm nhận).

            Năm 1999, khi hồ thủy điện Plei Krông ngập nước, làng Kơ Tu di chuyển đi nơi khác tái định cư, đời sống dân làng thay đổi, biết nghề thầy cúng hết đất sống, Y Gyin nói với người bổn đạo rằng mình được Đức mẹ hiện hình trao sứ mệnh truyền giáo, đạo riêng của Y Gyin. Lôi kéo giáo dân từ bỏ sinh hoạt đạo Công giáo cùng các phong tục tập quán truyền thống để theo tà đạo “Hà Mòn”, vốn đã bị FULRO thao túng. Tổ chức này nhân danh tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lúc đầu một số người nhẹ dạ tin theo, dần dần thấy rõ chân tướng nên đến nay cơ bản đã tan rã.

            Một đối tượng cốt cán phản động khác là A Ga, tự phong là mục sư điều hành “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”, tháng 4-2023 đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đak Lak khởi tố về hành vi “Phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc”. A Ga vốn là đối tượng theo “Tin lành Đê ga”, sau khi vượt biên sang Thái Lan, được bảo lãnh sang Mỹ năm 2018. Năm 2019, nội bộ mâu thuẫn, A Ga đổi tên Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam lập năm 2017 thành “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên”, mục đích là dễ lôi kéo các dân tộc Tây Nguyên chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, cách mà FULRO vẫn làm xưa nay.

            Hành vi manh động, tàn sát cán bộ, chiến sĩ Công an, giết thường dân, đập phá tài sản ở huyện Cư Kuin (tỉnh Đak Lak) ngày 11-6, người có lương tri ở thế giới văn minh không ai chấp nhận. Vậy mà một tờ báo lớn nước ngoài dẫn ý kiến một vị có chức sắc của tổ chức gọi là nhân quyền rằng: “Các nỗ lực có chủ đích của Việt Nam nhằm cô lập và tách các khu vực cao nguyên này cùng với người dân sinh sống ở đó khỏi sự tiếp xúc với cộng đồng quốc tế là một phần nguyên nhân dẫn đến sự cố như thế này. Đằng sau tấm màn bí mật mà Việt Nam phủ lên vùng cao nguyên, Chính phủ vi phạm nghiêm trọng các quyền, khước từ tự do tôn giáo và tín ngưỡng, chiếm đoạt đất đai các dân tộc bản địa và cố gắng cưỡng ép đồng hóa vào văn hóa, ngôn ngữ và xã hội dân tộc Kinh vốn ở thế áp đảo. Dù tổ chức theo dõi nhân quyền không bao giờ tán thành bạo lực, nhưng dễ hiểu tại sao người dân địa phương tức giận với Chính phủ Việt Nam và các chính sách đàn áp mà chính phủ này áp dụng”.

            Dân gian Việt Nam có câu “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Đọc những lời bình phẩm kiểu “nghe hóng nói hớt” này, những người sống ở Tây Nguyên, đã từng đến Tây Nguyên, nghĩ ông ấy “ếch ngồi đáy giếng”. Nếu khước từ tự do tôn giáo và tín ngưỡng thì làm sao Tây Nguyên có hàng triệu người theo các tôn giáo khác nhau; nhà thờ, nhà nguyện, chùa chiền mọc khắp nơi như thế? Chỉ riêng Gia Lai có 422.000 đồng bào theo tôn giáo, chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh (gồm 5 tôn giáo: Phật giáo 101.200 phật tử, trong đó, người dân tộc thiểu số hơn 2.000 phật tử; Công giáo 163.100 giáo dân, trong đó, người dân tộc thiểu số 90.000 giáo dân; Tin lành 154.951 tín đồ, trong đó, người dân tộc thiểu số 153.380 tín đồ…). Cơ sở thờ tự các tôn giáo toàn tỉnh Gia Lai gần 250 địa điểm. Còn cho rằng cô lập và tách Tây Nguyên khỏi cộng đồng quốc tế hẳn vị này không hiểu biết về công nghệ thông tin, không có kiến thức thực tế Tây Nguyên ngày nay!

            Xóa đói giảm nghèo cho người dân các dân tộc ở Tây Nguyên nói riêng, cả nước nói chung được Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, trở thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong xã hội ngày càng giảm. Nếu sau năm 1975, Gia Lai có trên 90% hộ dân nghèo đói thì nay cơ bản đã không còn hộ đói. Số hộ nghèo theo chuẩn đa chiều toàn tỉnh còn 38.550 hộ (chiếm 10,06%), giảm 7.188 hộ so với năm 2021. Đưa ra những con số này để thấy rằng chính quyền các cấp luôn quan tâm, chăm lo đời sống cho người dân, sự thay đổi chuyển biến từng ngày, hạ tầng nông thôn, bộ mặt các buôn làng khác xa những luận điệu mà các đối tượng phản động rêu rao.

            Xin miễn bàn đến các ý kiến lạc lõng trên vài tài khoản Facebook, blog cá nhân của một số đối tượng bất mãn thời cuộc, mưu đồ hoang tưởng về giấc mơ úa tàn theo bọn phản động. Hầu hết người dân Tây Nguyên đoàn kết, gắn bó nhau, tương thân, tương ái cùng phát triển. Trình độ dân trí, đời sống văn minh của người dân là thực tế không thể chối bỏ. Dù ở bất kỳ đâu hay trên quê hương, bất kỳ chế độ xã hội nào, phải lao động mới thụ hưởng thành quả. Chỉ những thanh niên lười nhác, ham chơi mới dễ tin có người trả tiền sau những hành động giết người, hủy hoại tài sản, không làm mà sẽ có trăm triệu đồng, có nhà cửa do người khác làm ra.

            FULRO là tổ chức phản động, ngay từ khi ra đời đã sử dụng thủ đoạn dụ dỗ, lừa phỉnh, khủng bố đẫm máu để tồn tại. Những hành vi đi ngược lại thế giới văn minh loài người ấy chỉ lường gạt được một số kẻ nhẹ dạ, cả tin nhưng sớm muộn gì cũng bị vạch trần. Cùng với việc nhân danh tôn giáo để làm chính trị, các đối tượng phản động thường lợi dụng việc tranh chấp đất đai, khuếch đại những mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền địa phương hoặc giữa đồng bào Kinh với đồng bào dân tộc thiểu số. Thổi phồng, bóp méo sự thật rồi chụp mũ, quy kết thành vấn đề lớn, lấy cái cá biệt làm thành cái phổ biến.

            Việc thông tin sai lệch và xuyên tạc như thế khiến cho một số đối tượng bên ngoài, chưa từng đến Tây Nguyên nhầm tưởng đa số người dân ở đây kham khổ, bị bức hại, thiếu tự do tôn giáo. Kỳ thực, nếu so sánh giữa một nhóm vài chục đến trăm đối tượng tham gia các tổ chức này với tổng số vài triệu bà con các dân tộc Tây Nguyên đang ngày càng ấm no, hạnh phúc mới thấy sự lạc lõng của các nhóm chống phá, mới rõ luận điệu phản động của các tổ chức này./.

 

NVD40 - Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam đàn áp “tự do báo chí”

 

Như đã trở thành quy luật, chúng ta có thể nhận biết vào các dịp ngày Tự do báo chí thế giới (3/5) hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), một số cá nhân, tổ chức, đài báo tiếng Việt ở nước ngoài có quan điểm, tư tưởng chống phá Việt Nam như Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ngôi nhà tự do (Freedom House), Đài Á châu tự do (RFA)... lại đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”.

Trong các bản tường trình hay báo cáo và các bài viết vu cáo Việt Nam đàn áp tự do báo chí, bắt, giam giữ các nhà báo được một số cá nhân, tổ chức không có thiện chí đăng tải trong thời gian qua, những cái tên trong “Hội nhà báo độc lập” như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn hay các đối tượng trong nhóm “Báo sạch” như Trương Châu Hữu Danh được nhắc đến rất nhiều.

Dưới vỏ bọc của tổ chức “Hội Nhà báo độc lập”, các đối tượng trên đã đăng tải nhiều bài viết có nội dung tuyên truyền, phỉ bảng chính quyền nhân dân, bôi nhọ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bản án 15 năm tù giam, 3 năm quản chế tại địa phương đối với Phạm Chí Dũng; 11 năm tù giam, 3 năm quản chế tại địa phương đối với Nguyễn Tường Thụy; 11 năm tù giam, 3 năm quản chế đối với Lê Hữu Minh Tuấn cùng về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” được TAND thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 5-1-2021 là thích đáng cho những người coi thường pháp luật, chống phá đất nước. 

Đất nước Việt Nam chúng ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí của mọi công dân. Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do báo chí. Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do báo chí, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định “người dân có quyền tự do báo chí và được pháp luật bảo đảm thực hiện”. Các bản Hiến pháp sau này đều kế thừa và phát triển nội dung của Hiến pháp năm 1946 về quyền tự do báo chí.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” và khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định này cũng được thể chế trong nhiều văn bản pháp luật Việt Nam, như Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017; Luật Báo chí năm 2016...

Ở Việt Nam, báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa “ý Đảng, lòng dân”, tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Chúng ta khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Và lẽ tất nhiên, chúng ta không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do báo chí, tự do Internet, tự do ngôn luận để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân.

 

NVD40 - Đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân

 

 

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của bọn phản động Fulro ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp và thủ đoạn để chống phá trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Bằng nhiều phương thức, các lực lượng phản động tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của Đảng, Nhà nước ta dành cho khu vực Tây Nguyên. Chúng lợi dụng những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số để xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước, hòng gây sự hoài nghi, chia rẽ trong đồng bào. Chúng tìm mọi cách vừa tuyên truyền xuyên tạc, vừa khoét sâu mâu thuẫn giữa người Kinh với người Thượng, lợi dụng một số cán bộ địa phương có sai lầm, khuyết điểm để kích động đồng bào tụ tập đấu tranh, gây rối, biểu tình. Chúng triệt để lợi dụng và xoáy sâu vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, đất đai, xem đây là những “ngòi nổ” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, “bài Kinh”.

Cuộc đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên là một quá trình lâu dài, phức tạp, không chỉ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt mà còn có tính chiến lược trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, ngăn chặn hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường truyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho nhân dân, trước hết là đồng bào dân tộc thiểu số thấy được tính đúng đắn, ưu việt trong các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai, tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách dân tộc còn hiệu lực nhưng có bất cập, đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ ban hành các chính sách đặc thù để tập trung hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững.

Thứ ba, tập trung đấu tranh giải quyết vấn đề Fulro, tăng cường chỉ đạo đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, những thông tin sai trái với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; thành lập bộ phận nghiên cứu phản tuyên truyền, đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại và đấu tranh ngoại giao để vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Với khu vực Tây Nguyên, âm mưu, ý đồ chống phá nhiều mặt, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đất đai để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của bọn phản động Fulro là không thay đổi. Song âm mưu của chúng sẽ thất bại nếu chúng ta duy trì và củng cố sự bền vững của khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên.

NVC40 - PHÁT HUY SỨC MẠNH NỘI LỰC, ĐOÀN KẾT, ĐỒNG LÒNG THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CHO NGƯỜI DÂN

 

Qua một thời gian tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, bóc gỡ, đấu tranh với các đối tượng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai được giữ vững ổn định. Trong những năm qua, đảng bộ, chính quyền trong tỉnh đã phát huy sức mạnh nội lực, đoàn kết, đồng lòng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Các cấp, các ngành đã tập trung thực hiện các chương trình, dự án, chính sách đầu tư, hỗ trợ góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đưa vùng khó tiến gần vùng thuận lợi. Các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm nắm tình hình, triển khai giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh xã hội, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tăng cường đối thoại với dân và tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo được quan tâm theo hướng: Thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc, trọng dân, gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương trong hệ thống chính trị tích cực tham gia giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh xã hội, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tăng cường đối thoại với dân và tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững” với 10 nội dung thay đổi nếp nghĩ và 10 nội dung thay đổi cách làm, góp phần thực hiện hiệu quả công tác vận động quần chúng, công tác giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, nhận diện, đấu tranh phản bác đối với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, trong đó có nhiều thông tin làm rõ các thành tựu trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo được các cấp, các ngành chú ý triển khai. Các phương tiện thông tin đại chúng, báo, đài địa phương đã đa dạng hóa hình thức, nâng cao chất lượng thông tin, tăng cường các thông tin được trình bày bằng ngôn ngữ, chữ viết đồng bào, loại hình báo ảnh, phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc. Một số ấn phẩm tuyên truyền phòng, chống phục hồi hoạt động FULRO, Tin lành Đê Ga, các tà đạo, đạo lạ... được biên soạn, dịch 3 ngôn ngữ (Kinh - Jrai - Bahnar) đã giúp nhận diện rõ phương thức, âm mưu, thủ đoạn, các luận điệu lừa phỉnh, lợi dụng vấn đề dân tộc, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo để lôi kéo quần chúng tham gia hoạt động chống phá, đồng thời cung cấp thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về chính sách dân tộc, tự do tôn giáo; vận động đồng bào tại các thôn, làng tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi sinh sống. Ngành Tuyên giáo, Dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học về thực trạng công tác thông tin tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đề xuất cho cấp ủy, chính quyền xây dựng hệ thống giải pháp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh một cách hiệu quả.

Khai thác và tận dụng các thế mạnh của internet, mạng xã hội, các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa bàn tỉnh cũng đã chú trọng sử dụng các công cụ, phương tiện của mạng xã hội để đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền theo hướng phủ xanh thông tin tích cực, chủ động dẫn dắt, định hướng luồng thông tin trên không gian mạng liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Hiện nay, toàn tỉnh đã xây dựng hơn 800 trang, cổng thông tin điện tử, trang mạng xã hội thực hiện công tác tuyên truyền, đấu tranh, phản bác. Hình thức thể hiện thông tin trên mạng cũng được triển khai theo hướng dễ nhận biết, dễ tiếp thu, tập trung vào thanh niên, học sinh thông qua các video clip, video ngắn (Stories), Infographic hoặc bài viết ngắn có dịch sang tiếng dân tộc thiểu số, từ đó cung cấp các thông tin chính thống một cách nhanh, phù hợp với tâm lý, thói quen của một bộ phận người dân. Đây cũng là kênh hữu hiệu để nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận, những vấn đề nổi lên mà nhân dân đang quan tâm, chú ý, từ đó giúp các cấp, các ngành nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo, định hướng xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở.

Qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đạo trong những năm qua được giữ vững ổn định. Đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo yên tâm sinh sống, lao động sản xuất trên mảnh đất quê hương, thực hiện tốt phương châm sống tốt đời, đẹp đạo.

 

NVC40 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VIỆC LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

 

Là một tỉnh Bắc Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, có lịch sử lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc, Gia Lai cũng là nơi hội tụ đa dạng tín ngưỡng, tôn giáo. Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có trên 417.000 tín đồ của 05 tôn giáo chính (Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Baha’i); riêng Tin lành có 24 hệ phái; có 300 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 150 điểm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; 1 cơ sở đào tạo tôn giáo; 633 chức sắc, 1.968 chức việc và 272 nhà tu hành. Với đặc điểm trên, có thể xem Gia Lai là địa phương điển hình cho sự đa dạng về sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của đất nước. Sự đa dạng này một mặt tạo ra những nét phong phú, đa dạng, đặc sắc về văn hóa, con người, vùng đất của địa phương, là “sức mạnh mềm” đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, với đặc điểm nêu trên, Gia Lai cũng là một vùng trọng điểm bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên chống phá quyết liệt với âm mưu cơ bản, lâu dài là kích động ly khai, tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội; chia rẽ các dân tộc thiểu số với người Kinh; chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; thực hiện “Diễn biến hoà bình”, làm suy yếu, chuyển hóa từ bên trong; cao nhất là thành lập “Nhà nước ly khai, tự trị” nhằm chống cách mạng và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Để thực hiện âm mưu trên, chúng đã tập trung đẩy mạnh lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đặc biệt là trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số để hoạt động chống phá. Núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền; vừa bí mật, vừa “công khai hóa, quốc tế hóa”; kết hợp tổ chức lực lượng bên ngoài với việc tìm cách thâm nhập tạo dựng ngọn cờ, lực lượng và ảnh hưởng bên trong bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới. Các thủ đoạn chính vẫn là kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số; vu cáo, tuyên truyền người Kinh lên chiếm đất đai, tài nguyên, thực hiện chính sách đồng hóa người dân tộc; phân biệt đối xử với người dân tộc, với người theo đạo; tuyên truyền người cầm đầu và tổ chức FULRO lưu vong được quốc tế công nhận, ủng hộ là người lãnh đạo các dân tộc thiểu số Tây Nguyên để thành lập “Nhà nước Đê Ga độc lập”, “Nhà nước riêng của người dân tộc”; xuyên tạc các quy định của luật pháp quốc tế về nhân quyền, quyền tự quyết dân tộc, tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa của Liên Hợp quốc... và cho rằng lãnh thổ Tây Nguyên là của người dân tộc thiểu số; gây dựng, phát triển hệ thống tổ chức, cơ sở ngầm FULRO bên trong.

Qua thực tiễn ở địa bàn tỉnh cho thấy, hai yếu tố dân tộc và tôn giáo luôn bị các đối tượng phản động, thù địch triệt để lợi dụng. Các tôn giáo chưa được công nhận, các tà đạo, đạo lạ có xu hướng tập trung lôi kéo, tuyên truyền, mở rộng phạm vi, ảnh hưởng trong các vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, sử dụng yếu tố dân tộc để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số phải đấu tranh để có “Nhà nước riêng - Tôn giáo riêng”. Các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng “tôn giáo” như “ngọn cờ” tinh thần để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị dân tộc, tập hợp lực lượng, lôi kéo quần chúng vào hoạt động chống cấp ủy, chính quyền.

Nguyên nhân của các hiện tượng trên xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Gia Lai là tỉnh có địa bàn rộng, dân cư phân bổ không đồng đều, đời sống kinh tế - xã hội, mặt bằng dân trí so với nhiều địa phương còn thấp. Thời gian trước đây, do nguồn lực còn hạn chế nên việc đầu cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa được như kỳ vọng, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồng bào dân tộc thiểu số vừa thiếu “cái chữ trong đầu”, vừa thiếu cả “hạt cơm trong bụng”, bên cạnh đó, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu vẫn in sâu trong tâm thức, đời sống hằng ngày của phần đông đồng bào. Trước thực tế đó, FULRO và các lực lượng thù địch đã lợi dụng ngay cơ hội này đã tổ chức tuyên truyền, dụ dỗ đồng bào với luận điệu “không phải làm việc vất vả mà vẫn có cái ăn, cái mặc, cuộc sống sung túc”; những ai tham gia tích cực sẽ được phong chức tước khi có “nhà nước Đề Ga” tự trị… Có những thời điểm, hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của tỉnh còn xem nhẹ công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; vướng phải sai lầm, khuyết điểm trong công tác quản lý điều hành, dẫn đến quần chúng không nắm rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bị FULRO và các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc.

NVC40 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VIỆC LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

 

Là một tỉnh Bắc Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, có lịch sử lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc, Gia Lai cũng là nơi hội tụ đa dạng tín ngưỡng, tôn giáo. Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có trên 417.000 tín đồ của 05 tôn giáo chính (Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Baha’i); riêng Tin lành có 24 hệ phái; có 300 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 150 điểm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; 1 cơ sở đào tạo tôn giáo; 633 chức sắc, 1.968 chức việc và 272 nhà tu hành. Với đặc điểm trên, có thể xem Gia Lai là địa phương điển hình cho sự đa dạng về sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của đất nước. Sự đa dạng này một mặt tạo ra những nét phong phú, đa dạng, đặc sắc về văn hóa, con người, vùng đất của địa phương, là “sức mạnh mềm” đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, với đặc điểm nêu trên, Gia Lai cũng là một vùng trọng điểm bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên chống phá quyết liệt với âm mưu cơ bản, lâu dài là kích động ly khai, tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội; chia rẽ các dân tộc thiểu số với người Kinh; chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; thực hiện “Diễn biến hoà bình”, làm suy yếu, chuyển hóa từ bên trong; cao nhất là thành lập “Nhà nước ly khai, tự trị” nhằm chống cách mạng và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Để thực hiện âm mưu trên, chúng đã tập trung đẩy mạnh lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, đặc biệt là trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số để hoạt động chống phá. Núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền; vừa bí mật, vừa “công khai hóa, quốc tế hóa”; kết hợp tổ chức lực lượng bên ngoài với việc tìm cách thâm nhập tạo dựng ngọn cờ, lực lượng và ảnh hưởng bên trong bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới. Các thủ đoạn chính vẫn là kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số; vu cáo, tuyên truyền người Kinh lên chiếm đất đai, tài nguyên, thực hiện chính sách đồng hóa người dân tộc; phân biệt đối xử với người dân tộc, với người theo đạo; tuyên truyền người cầm đầu và tổ chức FULRO lưu vong được quốc tế công nhận, ủng hộ là người lãnh đạo các dân tộc thiểu số Tây Nguyên để thành lập “Nhà nước Đê Ga độc lập”, “Nhà nước riêng của người dân tộc”; xuyên tạc các quy định của luật pháp quốc tế về nhân quyền, quyền tự quyết dân tộc, tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa của Liên Hợp quốc... và cho rằng lãnh thổ Tây Nguyên là của người dân tộc thiểu số; gây dựng, phát triển hệ thống tổ chức, cơ sở ngầm FULRO bên trong.

Qua thực tiễn ở địa bàn tỉnh cho thấy, hai yếu tố dân tộc và tôn giáo luôn bị các đối tượng phản động, thù địch triệt để lợi dụng. Các tôn giáo chưa được công nhận, các tà đạo, đạo lạ có xu hướng tập trung lôi kéo, tuyên truyền, mở rộng phạm vi, ảnh hưởng trong các vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, sử dụng yếu tố dân tộc để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số phải đấu tranh để có “Nhà nước riêng - Tôn giáo riêng”. Các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng “tôn giáo” như “ngọn cờ” tinh thần để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai, tự trị dân tộc, tập hợp lực lượng, lôi kéo quần chúng vào hoạt động chống cấp ủy, chính quyền.

Nguyên nhân của các hiện tượng trên xuất phát từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Gia Lai là tỉnh có địa bàn rộng, dân cư phân bổ không đồng đều, đời sống kinh tế - xã hội, mặt bằng dân trí so với nhiều địa phương còn thấp. Thời gian trước đây, do nguồn lực còn hạn chế nên việc đầu cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa được như kỳ vọng, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồng bào dân tộc thiểu số vừa thiếu “cái chữ trong đầu”, vừa thiếu cả “hạt cơm trong bụng”, bên cạnh đó, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu vẫn in sâu trong tâm thức, đời sống hằng ngày của phần đông đồng bào. Trước thực tế đó, FULRO và các lực lượng thù địch đã lợi dụng ngay cơ hội này đã tổ chức tuyên truyền, dụ dỗ đồng bào với luận điệu “không phải làm việc vất vả mà vẫn có cái ăn, cái mặc, cuộc sống sung túc”; những ai tham gia tích cực sẽ được phong chức tước khi có “nhà nước Đề Ga” tự trị… Có những thời điểm, hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ của tỉnh còn xem nhẹ công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; vướng phải sai lầm, khuyết điểm trong công tác quản lý điều hành, dẫn đến quần chúng không nắm rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bị FULRO và các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc.

PHÁT HUY SỨC MẠNH NỘI LỰC, ĐOÀN KẾT, ĐỒNG LÒNG THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CHO NGƯỜI DÂN

Qua một thời gian tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, bóc gỡ, đấu tranh với các đối tượng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai được giữ vững ổn định. Trong những năm qua, đảng bộ, chính quyền trong tỉnh đã phát huy sức mạnh nội lực, đoàn kết, đồng lòng thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Các cấp, các ngành đã tập trung thực hiện các chương trình, dự án, chính sách đầu tư, hỗ trợ góp phần làm cho tình hình kinh tế - xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đưa vùng khó tiến gần vùng thuận lợi. Các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm nắm tình hình, triển khai giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh xã hội, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tăng cường đối thoại với dân và tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo được quan tâm theo hướng: Thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc, trọng dân, gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương trong hệ thống chính trị tích cực tham gia giải quyết các vụ việc liên quan đến an ninh xã hội, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tăng cường đối thoại với dân và tập trung giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững” với 10 nội dung thay đổi nếp nghĩ và 10 nội dung thay đổi cách làm, góp phần thực hiện hiệu quả công tác vận động quần chúng, công tác giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, nhận diện, đấu tranh phản bác đối với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, trong đó có nhiều thông tin làm rõ các thành tựu trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo được các cấp, các ngành chú ý triển khai. Các phương tiện thông tin đại chúng, báo, đài địa phương đã đa dạng hóa hình thức, nâng cao chất lượng thông tin, tăng cường các thông tin được trình bày bằng ngôn ngữ, chữ viết đồng bào, loại hình báo ảnh, phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc. Một số ấn phẩm tuyên truyền phòng, chống phục hồi hoạt động FULRO, Tin lành Đê Ga, các tà đạo, đạo lạ... được biên soạn, dịch 3 ngôn ngữ (Kinh - Jrai - Bahnar) đã giúp nhận diện rõ phương thức, âm mưu, thủ đoạn, các luận điệu lừa phỉnh, lợi dụng vấn đề dân tộc, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo để lôi kéo quần chúng tham gia hoạt động chống phá, đồng thời cung cấp thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về chính sách dân tộc, tự do tôn giáo; vận động đồng bào tại các thôn, làng tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi sinh sống. Ngành Tuyên giáo, Dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học về thực trạng công tác thông tin tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đề xuất cho cấp ủy, chính quyền xây dựng hệ thống giải pháp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh một cách hiệu quả.

Khai thác và tận dụng các thế mạnh của internet, mạng xã hội, các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa bàn tỉnh cũng đã chú trọng sử dụng các công cụ, phương tiện của mạng xã hội để đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền theo hướng phủ xanh thông tin tích cực, chủ động dẫn dắt, định hướng luồng thông tin trên không gian mạng liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Hiện nay, toàn tỉnh đã xây dựng hơn 800 trang, cổng thông tin điện tử, trang mạng xã hội thực hiện công tác tuyên truyền, đấu tranh, phản bác. Hình thức thể hiện thông tin trên mạng cũng được triển khai theo hướng dễ nhận biết, dễ tiếp thu, tập trung vào thanh niên, học sinh thông qua các video clip, video ngắn (Stories), Infographic hoặc bài viết ngắn có dịch sang tiếng dân tộc thiểu số, từ đó cung cấp các thông tin chính thống một cách nhanh, phù hợp với tâm lý, thói quen của một bộ phận người dân. Đây cũng là kênh hữu hiệu để nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận, những vấn đề nổi lên mà nhân dân đang quan tâm, chú ý, từ đó giúp các cấp, các ngành nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo, định hướng xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở.

Qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đạo trong những năm qua được giữ vững ổn định. Đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo yên tâm sinh sống, lao động sản xuất trên mảnh đất quê hương, thực hiện tốt phương châm sống tốt đời, đẹp đạo.

 

NVB40 - Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề tôn giáo

 

Một là, kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo, lôi kéo quần chúng có đạo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: Đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông độc lập”, “Nhà nước Đề Ga” (gắn với đạo Lin lành), “Quốc gia Khơmer Crôm” (gắn với Phật giáo Nam tông Khmer)… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Hai là, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Có một số phần tử đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Đáng quan ngại, đó là lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo.

Ba là, lợi dụng giáo lý, giáo luật, những kẻ đứng đầu cực đoan trong một số tôn giáo và hoạt động sinh hoạt tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng. Theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa trời giảng Kinh thánh trong các ngày hành lễ; các hoà thượng, trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp…

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam,

Hiện nay, xuất hiện những kẻ chống đối quá khích, cực đoan thường xuyên kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo…

Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá.

Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin lành để hoạt động chống đối chính quyền.

Bốn là, lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, các tổ chức phi chính phủ (NGO)... để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số có đạo chống phá chính quyền Việt Nam

Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá

Tóm lại, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng.

Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta./.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...