Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2023

NVG40 - LÊNIN NÓI VỀ KẺ CƠ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA CƠ HỘI !!!!!

 

“Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách thỏa thuận với cả quan điểm này và quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại”.

Sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân – theo Lenin – là khó tránh khỏi. Điều đó, trước hết bắt nguồn từ ảnh hưởng của khuynh hướng tư tưởng tiểu tư sản trong phong trào quần chúng công nhân. Giai cấp công nhân sống “sát nách” với giai cấp tiểu tư sản, nên dễ bị tác động gây ra sự phân hóa và một bộ phận trong số đó nhập vào giai cấp vô sản. Họ mang theo vào phong trào vô sản mọi thứ quan niệm “mê tín, thiển cận, hẹp hòi, lệch lạc có tính chất tiểu tư sản”. Do đó, “nếu phong trào quần chúng của công nhân có sinh ra một cánh tiểu tư sản và cơ hội chủ nghĩa trong phong trào thì đấy không phải là điều ngẫu nhiên, mà là một hiện tượng tất nhiên”.

Thêm nữa, sự phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân, tình trạng “tư sản hóa giai cấp công nhân”, sự xuất hiện “tầng lớp công nhân quý tộc” cũng là nguồn gốc của chủ nghĩa cơ hội. Chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân ở các nước tư bản tiên tiến thường bắt nguồn từ nguyên nhân này. Sự phân hóa đó, như Lenin phân tích, do giai cấp tư sản sử dụng một phần nhỏ trong số siêu lợi nhuận thu được để mua chuộc một số người thuộc tầng lớp trên của giai cấp vô sản, đảm bảo cho những người này trong thời bình có được một cuộc sống khá giả và từ đó khống chế những thủ lĩnh của tầng lớp đó phục vụ cho chúng. Về điều này, ngay từ thời Marx và Engels, các ông cũng đã nói đến tình trạng “một giai cấp vô sản tư sản hóa”, một “tầng lớp quý tộc trong giai cấp công nhân”, hay một “thiểu số công nhân có đặc quyền”; đồng thời, các ông lên tiếng chỉ trích hiện tượng “các thủ lĩnh công nhân đã bán mình”, “các tổ chức công nhân bỉ ổi đã cam chịu sự lãnh đạo của những con người mà giai cấp tư sản đã mua chuộc được”…

Ngoài ra, V.I.Lenin còn chỉ ra những nguyên nhân khác dẫn đến sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội như: một bộ phận trong giai cấp công nhân đã hiểu chủ nghĩa Marx một cách không có hệ thống, chưa thấm nhuần thế giới quan marxit, chưa đoạn tuyệt một cách dứt khoát với tất cả thế giới quan tư sản nói chung và thế giới quan dân chủ – tư sản nói riêng. Và do vậy, họ luôn “nhảy từ một cực đoan bất lực này sang một cực đoan bất lực khác”.

Về thời điểm lịch sử, chủ nghĩa cơ hội thường phát triển mạnh nhất trong thời kỳ tương đối “bình yên”, khi không có những cuộc khủng hoảng cách mạng, khi cơ chế dân chủ tạo điều kiện cho tư sản hoạt động bình thường.

Và đó đang là thời điểm hiện nay ở ta! Đòi hỏi phải có sự tỉnh táo, cảnh giác để thắt chặt kỷ cương, tăng cường xây dựng Đảng, đặc biệt là trong công tác lý luận, công tác tổ chức cán bộ và công tác tư tưởng.

 

NVE40- GIỮ VỮNG TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM-CAMPUCHIA

 

            Tình hữu nghị Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng gần gũi và có mối quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời. Mối quan hệ này được nhân dân hai nước dày công vun đắp và trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Chặng đường hơn nửa thế kỷ qua là minh chứng sống động cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia.

            Tình hữu nghị đó được thể hiện ngay từ cuối năm 1945 khi đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, nhiều đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã sang giúp những người yêu nước, cách mạng Campuchia xây dựng đội ngũ tiền thân của Quân đội cách mạng Campuchia và phối hợp với quân, dân Campuchia kháng chiến chống thực dân giành độc lập dân tộc.Thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân Việt Nam đã góp phần tạo thời cơ, tăng cường thế và lực để Quân giải phóng Campuchia tiến lên, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 17/4/1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân và chính quyền tay sai.

            Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Campuchia ngày càng khăng khít, bền chặt hơn. Quan hệ hai nước hiện đang phát triển theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đều nhấn mạnh quyết tâm cùng nhau vun đắp quan hệ đoàn kết, hữu nghị trên nền tảng lịch sử giữa hai nước, đồng thời khẳng định, quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước phát triển ngày càng sâu rộng, thiết thực và hiệu quả trên các lĩnh vực, trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển lâu dài. Trong những năm qua, dù tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, song với nỗ lực của hai bên, quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia tiếp tục có những bước phát triển quan trọng cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành một nhân tố quan trọng góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định lâu dài để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao vị thế của mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

            Trong những mối quan hệ đó phải kể đến quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Campuchia được tăng cường, giữ vai trò nòng cốt, định hướng tổng thể quan hệ hai nước. Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện làm cơ sở cho việc phát triển hợp tác toàn diện. Hai bên thường xuyên tiến hành các chuyến thăm, gặp gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp thông qua các hình thức linh hoạt. Các cơ chế hợp tác song phương, nhất là các cơ chế quan trọng như Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Campuchia về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam-Campuchia… tiếp tục phát huy hiệu quả tích cực. Đồng thời trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, các lĩnh vực hợp tác song phương Việt Nam-Campuchia những năm gần đây được đẩy mạnh. Hợp tác quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu, là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên phối hợp triển khai thực hiện các thỏa thuận hợp tác về quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, phối hợp bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, xã hội ở mỗi nước, an ninh, an toàn biên giới trên bộ và trên biển…

            Có thể khẳng định trải qua quá trình lịch sử lâu dài, trải qua nhiều thử thách, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn không ngừng được xây dựng, vun đắp, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hữu nghị tại khu vực. Đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam luôn coi trọng, ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ với Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tạo điều kiện cùng phát triển, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để giữ gìn và phát huy những thành quả của quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai bên quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa sống còn của quan hệ Việt Nam-Campuchia đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc giữ gìn, củng cố và tăng cường quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam và Campuchia là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt.

            Trong thời gian tới hòa bình hợp tác vẫn là xu thế phát triển, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới nhưng tình cảm giữa hai nước Việt Nam-Campu chia tiếp tục phát triển cao hơn tạo tiền đề cùng nhau xây dựng đất nước. Vì vậy để giữ vững tình hữu nghị đó bản thân mỗi cấp, ngành và toàn dân cần phải có nhận thức đúng đắn tích cực vun đắp tình cảm đó, đồng thời đấu tranh với các luận điệu, âm mưu chia rẽ tình hữu nghị của hai nước Việt Nam-Campu chia./.

NVE40- CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 

Trong thời gian vừa qua, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong vụ đại án “chuyến bay giải cứu” xảy ra tại Bộ Ngoại giao, thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố, một số trang blog, diễn đàn, facebook… đã núp bóng tự do ngôn luận để đưa tin, đăng tải những bài viết, bài phỏng vấn với những kiểu rút tít kèm những lời bình đầy tính kích động... Trên Youtube, TikTok họ cắt ghép, ngụy tạo những tiểu phẩm, đoạn video, clip với nội dung hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Họ hồ đồ phán rằng, tham nhũng chính là “vấn đề của thể chế”. Thể chế càng tạo ra nhiều cơ chế “xin - cho” thì càng tạo cơ hội cho tham nhũng... Họ bày tỏ quan điểm phản đối, lên án, đổ lỗi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực cho Đảng, chính quyền, từ đó kích động, chia rẽ nhân dân với Đảng, tạo cớ bôi nhọ, hạ thấp uy tín Việt Nam. Chúng ta cần phải hiểu rằng, không chỉ ở Việt Nam mà “bóng ma” tham nhũng phủ khắp toàn cầu. Tham nhũng tồn tại tất yếu khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước. Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có sự xuất hiện của tham nhũng, tiêu cực...

Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 là mình chứng rõ ràng, thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ khẳng định tham nhũng là: “quốc nạn”, là “giặc nội xâm”… Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến hành cuộc đấu tranh này bằng nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ, đồng bộ và hết sức quyết liệt. Đảng ta xác định đấu tranh phòng, chống tham tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự nghiệp của toàn dân. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra chủ trương về phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình, các doanh nghiệp và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Với tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, không thỏa hiệp với tham nhũng, tiêu cực, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực một cách đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá. Những kết quả quan trọng của công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực, đó là: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai…”.

Những bài viết, bài bình luận, video, clip… trên một số blog, diễn đàn, facebook, Youtube, TikTok… như đã nêu không dựa theo các nguồn tin chính thống mà dựa vào những thông tin cóp nhặt, cắt ghép, ngụy tạo để suy diễn, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm mục đích chống phá Việt Nam. Những kẻ tung lên, phát tán các tin tức, bài viết, video, clip ấy, họ đâu phải vì đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc. Mục tiêu lớn nhất mà họ hướng đến là hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp, tiến xa hơn là lật đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước thực tế đó chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, yêu cầu cao nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung và cuộc đấu tranh phòng, chống “giặc nội xâm” nói riêng vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang. Đó chính là cội nguồn sức mạnh, nhân tố quyết định đối với sự trường tồn và phát triển của đất nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những tiện ích mà Internet đem lại cho nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam. Nhưng với các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị, phản động, thì Internet được chúng coi là phương tiện số một để thực hiện những âm mưu và hoạt động chống phá Việt Nam.

Để đập tan những âm mưu và hoạt động chống phá ấy, chúng ta phải tiến hành quyết liệt, đồng bộ nhiều việc. Đặc biệt là phải tạo sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh nói chung và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng chỉ có thể đạt được kết quả như mong muốn khi Đảng phải thực sự biết dựa vào dân. Nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng, nhất là trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, Đảng cần có chính sách bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. Phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được quán triệt và thực hiện hiệu quả… Chỉ khi Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; “ý Đảng hợp lòng Dân”, dân tin Đảng thì chúng ta mới đủ sức mạnh để tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thành công. Và chỉ có tinh thần cảnh giác cao độ, sự đồng lòng của toàn dân, cùng sự kiên quyết của các cấp chính quyền, nhà quản lý chúng ta mới tẩy chay, ngăn chặn được những thông tin xấu độc lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc, kích động, chia rẽ, chống phá Việt Nam./.

 

NVE40 - NHÌN NHẬN ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

        Nhân quyền (hay quyền con người) là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Ở Việt Nam, quyền con ngườiquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm. Thế mà thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động luôn triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền, để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; chúng ra các “thông cáo”, “nghị quyết”, “báo cáo”, “bản điều trần”, “thư ngỏ”… xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”; gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam. Chúng coi đây là một trong những đòn “đột phá khẩu” để tấn công hòng phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

        Thực tế chó thấy Ở Việt Nam, trên cơ sở các Công ước quốc tế về quyền con người và những yêu cầu thực tiễn Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Khoản 2, Điều 14 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng”

            Một đặc trưng quan trọng của nhân quyền đó là: Nhân quyền mang tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, quốc gia, dân tộc, tôn giáo… là bản chất của quyền con người. Nhân quyền còn mang tính không thể chuyển nhượng, vì nó thuộc sở hữu vốn có của con người; không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác…

Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn về nhân quyền, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Trong năm 2020 - 2021, khi đại dịch Covid-19 hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an ninh con người, an sinh xã hội được Chính phủ ban hành nhằm bảo đảm an ninh lương thực và ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Gói an sinh xã hội có quy mô 62.000 tỷ đồng (năm 2020), gói cứu trợ 26.000 tỷ đồng (năm 2021) là giải pháp cấp bách, kịp thời, không chỉ giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân, mà còn một lần nữa khẳng định mạnh mẽ quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam “đặt lợi ích của người dân lên trên” và “không để lại ai ở phía sau”.

Đồng thời, Việt Nam cũng chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng thế giới ghi nhận. Thí dụ thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao trong những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Từ những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là những đòn đả kích mạnh mẽ nhằm vào các đối tượng vu cáo Việt Nam về vi phạm nhân quyền.

Những thành tựu trong thúc đẩy, bảm đảm quyền con người ở Việt Nam gần đây đã được tổ chức quốc tế có trách nhiệm là Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố trong Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2023, với thông tin chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65. Đây là một báo cáo uy tín, được xây dựng dựa trên số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia về các tiêu chí: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.

            Vì vậy, luận điệu trên chỉ là sự ngụy biện, đánh tráo khái niệm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao nhằm đạt được mưu đồ, thủ đoạn chống phá của chúng. Chúng ta, những công dân chân chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần nhận thức rõ vấn đề này và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch để bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà chúng ta đang thụ hưởng trên cơ sở hiểu biết và thực thi theo đúng hiến pháp, pháp luật, đồng thời tíc cực chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái phản động./.

 

NVD40 - Giữ vững lập trường trước những lời “sỏ xiên” về mối quan hệ Việt Nam – Campuchia

 

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và những biến cố của thời đại, mối quan hệ hữu nghị, truyền thống của hai dân tộc láng giềng được thử thách, tôi luyện và ngày càng khăng khít, bền chặt dưới sự chung tay vun đắp của Chính phủ và nhân dân hai nước, đạt nhiều thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực. Đây là nền tảng vững chắc, tạo đà để thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Campuchia vì sự trường tồn và phát triển của mỗi dân tộc.

Mối quan hệ cùng chung một chiến hào, đánh bại chế độ thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc. Ngày 24/6/1967, quan hệ ngoại giao giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Vương quốc Campuchia chính thức được thiết lập, nhưng sự gắn bó, đoàn kết, hữu nghị giữa hai bên đã được hun đúc từ những năm tháng cùng chung sức, đồng lòng đánh đuổi thực dân Pháp. Chỉ thị kháng chiến kiến quốc vào ngày 25/11/1945 của Đảng Cộng sản Đông Dương đã đề ra chủ trương thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược. Tháng 3/1951, tại Hội nghị Liên minh nhân dân ba nước Đông Dương, khối liên minh nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia cũng được thành lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của mỗi nước. Sự ra đời của khối liên minh chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam - Lào - Campuchia mang ý nghĩa chính trị đặc biệt, không chỉ gắn kết, tập hợp ba nước Đông Dương vào chung một mặt trận thống nhất, mà còn là biểu tượng của sự thắng lợi trước chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp. Mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba nước nói chung, giữa Việt Nam và Campuchia nói riêng đã tạo ra những điều kiện căn bản, đồng thời là nhân tố bảo đảm và thúc đẩy cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc của mỗi nước đi đến thắng lợi.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh chung để bảo vệ hòa bình và độc lập dân tộc ở Đông Dương... Chúng ta thành tâm mong rằng quan hệ hữu nghị giữa nước ta và các nước láng giềng, trước hết là Campuchia và Lào, được xây dựng và phát triển tốt”. Điều này cho thấy, mong muốn của Việt Nam trong việc củng cố tình đoàn kết, hữu nghị vốn có với Campuchia, giành được sự ủng hộ của nhân dân và các lực lượng tiến bộ ở Campuchia đối với cuộc kháng chiến thống nhất đất nước. Về phía Campuchia, chính quyền Campuchia do Hoàng thân Norodom Sihanouk làm Quốc trưởng đã tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn vào năm 1963, công khai lên án hành động xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ và tổ chức Hội nghị Nhân dân các dân tộc Đông Dương tại Thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) vào năm 1965, thông qua “Nghị quyết về vấn đề Việt Nam” khẳng định tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Ngoài sự ủng hộ về chính trị, Campuchia còn tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Khi Campuchia rơi vào khó khăn sau cuộc đảo chính tháng 3/1970 của Lon Nol, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục sát cánh cùng nhân dân Campuchia, giúp Campuchia chuyển hướng đấu tranh từ mục tiêu hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, dân sinh sang đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị chống Chiến lược Khmer hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ. Với sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lượng kháng chiến Campuchia từng bước được xây dựng và trưởng thành, tích cực phối hợp với quân giải phóng miền Nam Việt Nam và quân đội Pathet Lào thực hiện liên minh đặc biệt chiến đấu đánh bại các kế hoạch chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở Đông Dương, làm nên chiến thắng lịch sử của nhân dân Việt Nam và Campuchia vào mùa Xuân năm 1975.

“Kề vai sát cánh” lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, tái sinh đất nước Campuchia. Khi cả hai đất nước hoàn toàn được giải phóng khỏi chế độ thực dân, đế quốc, Campuchia lại rơi vào thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nước này khi phải đối mặt với nguy cơ bị diệt chủng bởi chế độ Pol Pot Ieng Sary - Khieu Samphan. Sự tàn bạo của tập đoàn Pol Pot Ieng Sary - Khieu Samphan đối với nhân dân Campuchia cũng như những cuộc tấn công quy mô lớn, liên tục của lực lượng quân đội “Campuchia Dân chủ” vào các tỉnh biên giới của Việt Nam, giết hại nhiều người dân Việt Nam, một lần nữa đã khơi dậy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng của nhân dân hai nước cùng chống lại chế độ diệt chủng hết sức man rợ.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân Campuchia, từ năm 1979 đến năm 1989, hàng vạn quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã ở lại Campuchia  chung sức với cán bộ và nhân dân Campuchia nhằm ngăn chặn nạn đói đang hoành hành khắp nơi và trực tiếp cùng với Chính phủ, quân đội và nhân dân Campuchia khắc phục những hậu quả sau chế độ diệt chủng, từng bước thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc, xây dựng lại đất nước, tạo thế nương tựa, hỗ trợ lẫn nhau để đối phó với sự bao vây, cấm vận và tiến công quân sự, ngoại giao của các thế lực thù địch, phản động.

Tháng 9/1989, khi Campuchia đủ sức tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã lên đường về nước. Trong buổi gặp gỡ chuyên gia Việt Nam chuẩn bị về nước, ngày 7/1/1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia Heng Samrin (nay là Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia) đã khẳng định: “Tổ quốc và nhân dân Campuchia đã khắc sâu vào trái tim mình, lịch sử đất nước Campuchia sẽ mãi mãi khắc bằng chữ vàng công ơn to lớn của các đồng chí chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Campuchia”

Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, cùng phát triển. Kể từ khi chính thể Vương quốc Campuchia được thành lập (năm 1993), quan hệ Việt Nam - Campuchia bước vào giai đoạn mới. Hai bên tiếp tục giữ mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Nhà nước Campuchia đặc biệt coi trọng quan hệ với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi đó là sự tất yếu nhằm giữ vững ổn định và phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu bảo đảm hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, hợp tác hai bên cùng có lợi, củng cố quốc phòng - an ninh vì lợi ích của hai nước.

Với truyền thống đoàn kết, gắn bó vốn có qua nhiều thăng trầm lịch sử, quan hệ Việt Nam - Campuchia tiếp tục được giữ gìn, vun đắp và phát triển thông qua đường lối ngoại giao đúng đắn của mỗi nước. Các chuyến thăm ngoại giao cấp cao giữa hai Chính phủ thường xuyên được tổ chức. Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Campuchia tiếp tục duy trì mối quan hệ thường xuyên, gắn bó. Với tư cách thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam tích cực ủng hộ và thúc đẩy tiến trình kết nạp Campuchia vào Hiệp hội. Năm 2005, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Campuchia của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, lãnh đạo hai nước nhất trí quyết tâm phát triển quan hệ hai nước theo phương châm 16 chữ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, thúc đẩy nâng tầm từ “hợp tác nhiều mặt” lên “hợp tác toàn diện”. Trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước vừa phát triển theo chiều rộng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực từ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, văn hóa - xã hội, vừa từng bước đi vào chiều sâu, hướng tới các thỏa thuận mang tính chiến lược, lâu dài ở cấp quốc gia. Nhìn lại chặng đường 55 năm qua, có thể thấy, dù trải qua không ít thăng trầm theo dòng lịch sử nhưng mối quan hệ truyền thống hữu nghị tốt đẹp Việt Nam - Campuchia vẫn không ngừng được vun đắp và phát triển, trở thành “tài sản chung quý báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước”. Đó là thành quả từ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân hai nước, xuất phát từ thực tiễn lịch sử “vận mệnh của hai dân tộc là không thể tách rời nhau” đã được lãnh đạo hai bên nhiều lần khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia.

Hợp tác chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển sâu rộng, giữ vai trò nòng cốt, định hướng tổng thể cho quan hệ hai nước. Hai bên thường xuyên duy trì truyền thống trao đổi các đoàn cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giữa các bộ, ngành, địa phương và giao lưu nhân dân. Qua các chuyến thăm, lãnh đạo cấp cao hai nước đều khẳng định quyết tâm cùng nhau vun đắp mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước và coi đây là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước; đồng thời, nhiều văn kiện đã được ký kết, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, như: Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia; Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia (ngày 5/10/2019, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 22/12/2020); Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia (ngày 21/1/2013, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 9/10/2014)... Gần đây nhất, nhân dịp Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Campuchia  (tháng 12/2021), hai bên đã ký kết 7 văn kiện hợp tác.

Bên cạnh đó, hai bên tích cực phối hợp tổ chức nhiều hoạt động trang trọng, có ý nghĩa nhằm kỷ niệm các sự kiện, dấu mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ giữa hai nước, như Ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (ngày 7/1/1979), trùng tu các Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại các tỉnh, thành phố ở Campuchia...; tuyên truyền sâu rộng về tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Campuchia đến mọi tầng lớp nhân dân, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát và diễn biến hết sức phức tạp, hoạt động trao đổi đoàn cấp cao trực tiếp giữa hai nước không thể thực hiện được, song hai bên vẫn thường xuyên duy trì quan hệ chính trị thông qua các kênh tiếp xúc, như hội đàm, gửi thư thăm hỏi, tích cực chia sẻ, hỗ trợ nhau các trang thiết bị, vật tư y tế để phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Cùng với việc tăng cường quan hệ cấp cao, Việt Nam - Campuchia còn đặc biệt quan tâm thúc đẩy hoạt động ngoại giao nhân dân, xem đây là nền tảng vững chắc để gắn kết, làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị truyền thống vốn có giữa hai nước. Hội hữu nghị hai nước đã phối hợp tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ hữu nghị và giao lưu nhân dân, các hoạt động kỷ niệm, chào mừng các ngày lễ lớn của hai dân tộc. Phong trào kết nghĩa, giao lưu giữa các địa phương của hai nước cũng được đẩy mạnh, không chỉ giới hạn ở các tỉnh có chung đường biên giới mà còn ở các tỉnh cách xa nhau về mặt địa lý. Các cơ chế hợp tác, như Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, Hội nghị Hợp tác phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia, Hội nghị Xúc tiến đầu tư,... được hai nước thực hiện hiệu quả. Hiện hai bên đang tích cực chuẩn bị cho việc phối hợp tổ chức các hoạt động thiết thực, có ý nghĩa nhân dịp kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1967 - 2022), góp phần tăng cường tuyên truyền tới nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước cùng trân trọng và giữ gìn quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc.

Không chỉ hợp tác trong khuôn khổ song phương, hai nước cũng thường xuyên thực hiện tham vấn chính trị, chia sẻ thông tin kịp thời và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong các khuôn khổ hợp tác của ASEAN, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV), hợp tác bốn nước Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam (CLMV), Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawady - Chao Phraya - Mê Công (ACMECs), Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS),... góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác, phát triển ở khu vực và toàn cầu. Với sự cố gắng của cả hai đất nước, mối quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng khăng khít. Đối vơi Việt Nam, luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mọi quốc gia dân tộc, không riêng gì đối với đất nước Campuchia, do đó những sự kiện của đất nước bạn diễn ra Việt Nam luôn ủng hộ, dõi theo, nhưng không tham gia một khâu, hay bật kỳ một vấn đề nào. Do vậy, với những bài viết của những kẻ phản động, làm méo mó mối quan hệ giữa hai nước, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam cần phải đấu tranh loại bỏ, không để làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của thể hệ trẻ của hai nước.

NVD40 - Việt Nam – Campuchia, 56 năm cùng chung tay vun đắp và phát triển

 

 Ngày 24/6/1967, quan hệ ngoại giao giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Vương quốc Campuchia chính thức được thiết lập, nhưng sự gắn bó, đoàn kết, hữu nghị giữa hai bên đã được hun đúc từ những năm tháng cùng chung sức, đồng lòng đánh đuổi thực dân Pháp. Đó là mối quan hệ cùng chung một chiến hào, đánh bại chế độ thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, nhân dân hai nước đã đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập dân tộc.

Đặc biệt, tháng 12/1978 quân tình nguyện Việt Nam, “đội quân nhà Phật” lên đường sang giúp nhân dân Campuchia chiến đấu chống họa diệt chủng Ponpot. Sau hơn 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, tháng 9/1989, khi Campuchia đủ sức tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã lên đường về nước. Trong buổi gặp gỡ chuyên gia Việt Nam chuẩn bị về nước, ngày 7/1/1989, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia Heng Samrin (nay là Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia) đã khẳng định: “Tổ quốc và nhân dân Campuchia đã khắc sâu vào trái tim mình, lịch sử đất nước Campuchia sẽ mãi mãi khắc bằng chữ vàng công ơn to lớn của các đồng chí chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Campuchia”.

Kể từ khi chính thể Vương quốc Campuchia được thành lập (năm 1993), quan hệ Việt Nam - Campuchia bước vào giai đoạn mới. Cho đến nay, hai bên tiếp tục giữ mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Nhà nước Campuchia đặc biệt coi trọng quan hệ với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, coi đó là sự tất yếu nhằm giữ vững ổn định và phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu bảo đảm hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, hợp tác hai bên cùng có lợi, củng cố quốc phòng - an ninh vì lợi ích của hai nước.

Nhìn lại chặng đường 56 năm qua, có thể thấy, dù trải qua không ít thăng trầm theo dòng lịch sử nhưng mối quan hệ truyền thống hữu nghị tốt đẹp Việt Nam - Campuchia vẫn không ngừng được vun đắp và phát triển, trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước. Đó là thành quả từ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân hai nước, xuất phát từ thực tiễn lịch sử “vận mệnh của hai dân tộc là không thể tách rời nhau” đã được lãnh đạo hai bên nhiều lần khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia.

Trải qua nhiều thăng trầm  lịch sử và những biến cố của thời đại, mối quan hệ hữu nghị, truyền thống của hai dân tộc láng giềng được thử thách, tôi luyện và ngày càng khăng khít, bền chặt dưới sự chung tay vun đắp của Chính phủ và nhân dân hai nước, đạt nhiều thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực. Đây là nền tảng vững chắc, tạo đà để thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Campuchia vì sự trường tồn và phát triển của mỗi dân tộc.

 

NVD40 - Hoàn thiện cơ chế, phòng ngừa chặt chẽ

 

Đúng thời điểm “lò chống tham nhũng, tiêu cực” đang rực lửa với phiên toà xét xử đại án các “chuyến bay giải cứu” với 54 bị cáo bị truy tố về các tội danh: Nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hàng loạt cán bộ, đảng viên nguyên là lãnh đạo các địa phương, đơn vị có hành vi sai phạm bị thi hành kỷ luật; ngày 11/7/2023, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quyết tâm “Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực” như lời khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang được Đảng ta tập trung triển khai thực hiện với các hành động, giải pháp quyết liệt, tầm nhìn chiến lược, đáp ứng yêu cầu thực tiễn…

Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có. Xuất hiện từ khá sớm trong xã hội loài người, khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành các tập đoàn quyền lực, tham nhũng là “căn bệnh” mà lực lượng cầm quyền rất dễ mắc phải. Xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã sớm nhận biết được nguy cơ và có những “phương thuốc” đặc trị căn bệnh nguy hiểm tham nhũng. Một trong những biện pháp phòng ngừa tiêu biểu được coi là kinh nghiệm của các triều đình phong kiến trong sử dụng quan lại là thực hiện chế độ “hồi ty” bắt đầu từ thời nhà Lê. Theo đó, quan đứng đầu một địa hạt không được nhậm chức tại quê mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được có nhà cửa, đất vườn… trên địa hạt đang cai quản và quan lại phải được dịch chuyển địa hạt cai quản sau một thời gian nhất định. Dưới triều Nguyễn, Luật “hồi ty” được vua Minh Mạng ban bố năm 1831, nhằm nghiêm cấm các hiện tượng tiêu cực trong thanh tra, xử án, chấm thi… Đến thời vua Thiệu Trị, triều đình bổ sung thêm các điều khoản trong xử án để tránh tình trạng vì nhận hối lộ, tham nhũng mà bao che, nương nhẹ cho kẻ có tội. Những quy định này đã có tác dụng trong bảo đảm sự công minh của pháp luật và ngăn chặn những hành vi tiêu cực của quan lại, chống việc trù dập người tố cáo, cậy quyền, cậy thế nhũng nhiễu lương dân.

Kế thừa, phát huy những truyền thống, kinh nghiệm quý báu của cha ông, ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với điều kiện khách quan, Quy định số 114-QĐ/TW về Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ đã được Bộ Chính trị ban hành thay thế cho Quy định 205-QĐ/TW. Quy định gồm 05 chương, 16 điều; theo đó, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo của địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức quán triệt và căn cứ tình hình thực tiễn, cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm. Thường xuyên kiểm tra, giám sát và hằng năm báo cáo cấp trên trực tiếp kết quả thực hiện. Đồng thời, yêu cầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo dõi, đôn đốc việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ theo Quy định của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm. Chỉ đạo ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy định, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật những tập thể, cá nhân vi phạm.

Điểm đáng chú ý trong Quy định này là Bộ Chính trị yêu cầu không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự Đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo không bố trí người nhà cùng làm người đứng đầu hoặc cấp phó cùng địa phương, cơ quan, đơn vị; không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đứng đầu các cơ quan ở 13 ngành: Nội vụ, thanh tra, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, công thương, kế hoạch đầu tư, tài nguyên môi trường, quân đội, công an, tòa án, viện kiểm sát ở Trung ương hoặc cùng cấp ở một địa phương. Nếu không có phương án nhân sự đáp ứng yêu cầu mà người có quan hệ gia đình được tín nhiệm cao thì phải báo cáo và được cấp trên đồng ý trước khi bố trí. Nếu là chức danh thuộc diện cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương quản lý, tổ chức Đảng phải báo cáo Ban Tổ chức Trung ương; chức danh do Trung ương quản lý thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền…

Trong bài viết “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đi đôi với việc tập trung chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, chúng ta cũng đã rất chú trọng công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực, từng bước hoàn thiện thể chế để bảo đảm “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực; trước hết là cơ chế “không thể” tham nhũng, tiêu cực”. Hàng loạt các văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được ban hành thể hiện chủ trương nhất quán, quy định mạnh mẽ, quyết liệt của Trung ương Đảng đã được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt.

Theo lời Tổng Bí thư: “Có thể khẳng định, cho đến nay, các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã tương đối đầy đủ; cái cần nhất lúc này là sự tự giác, sự thống nhất cao về ý chí và hành động, là tổ chức thực hiện. Chúng ta phải khắc phục bằng được tình trạng mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra và tại nhiều Hội nghị quán triệt, triển khai các nghị quyết, quy định của Đảng, đó là tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, “rằng hay thì thật là hay, xem ra thực hiện còn gay trăm bề”.

Suy cho cùng, vấn đề cốt lõi, quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người. Chủ trương, chính sách có quyết liệt đến đâu mà người tổ chức thực hiện thờ ơ, vô cảm, bàng quan, thiếu tinh thần trách nhiệm thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương thì chẳng những không đạt được thành quả như mong muốn mà còn gây hậu hoạ nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng, niềm tin của nhân dân. Do đó, cùng với việc thiết lập, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ; chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh; để cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thắng lợi, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện và chấp hành nghiêm túc các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Có như thế, các chủ trương đúng đắn, quyết liệt của Đảng mới đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn, thiết thực góp phần xây dựng Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn./.

 

NVC40 - NHẬN DIỆN NHỮNG ÂM MƯU LỢI DỤNG VĂN HOÁ ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 

Hiện nay, các đối tượng thù địch mang lòng thù hận chống phá nhà nước ta. Chúng thực hiện trên tất cả các mặt trận, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Chúng cho rằng “Tất cả những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta đã bị mục ruỗng, không còn sức để gìn giữ. Việc tuyên truyền các giá trị văn hóa phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội thực dụng chạy theo lối sống vị kỉ, vụ lợi hoặc lợi dụng các giá trị văn hóa trong nghệ thuật tôn giáo tín ngưỡng để truyền bá các sản phẩm độc hại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Thậm chí chúng còn lập các kênh hoặc một số trang mạng xã hội để dạy về văn hóa dân tộc”. Đây là những luận điệu xảo trá, xuyên tạc giá trị văn hóa của dân tộc ta. Chúng đang bôi nhọ nền văn hóa của đất nước và hơn thế nữa chúng thường xuyên truyền bá những tư tưởng văn hóa độc hại, ngoại lai, pha tạp để xóa bỏ đi những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chúng có thể khai thác những hiện tượng nhất thời, cái tiêu cực trong xã hội để lừa bịp dân chúng, nhạy cảm về chính trị. Chúng tung ra những luận điệu phản động, thậm chí là thô bỉ.

Thời gian qua cho thấy, các thế lực thù địch đã lợi các vấn đề nổi cộm như vụ việc 3 cán bộ công an thị trấn Đại Nghĩa (Mỹ Đức) có hành động việc làm không đúng với chuẩn mực để rêu rao, nói xấu, bôi nhọ hình ảnh cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an. Theo đó, ngay khi clip, hình ảnh được phát tán trên mạng xã hội, các thế lực thù địch đã nhanh chóng chia sẻ, bình luận nhằm kích động người dân “kéo bè, kéo cánh” lên chính quyền địa phương đòi yêu sách gây mất an ninh chính trị trên địa bàn. Đó là hành động sai trái làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của lực lượng vũ trang. Nhưng đó chỉ là “con sâu” bỏ rầu nồi canh.

Mặt khác, trong cuộc chiến với dịch Covid-19, bên cạnh những cố gắng, nỗ lực của Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân quyết tâm chống lại đại dịch thì vẫn còn cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để hạch sách các doanh nghiệp dẫn đến hiện tượng phải thực hiện cơ chế “xin, cho”. Tại một số địa phương, nhiều cán bộ vướng vào vòng lao lý chỉ vì lợi ích trước mắt mà quên mất “cái tầm và cái tâm” của mình, làm trái với lương tâm và quy định của Đảng, Nhà nước

Với những sự vụ và hiện tượng trên, các thế lực thù địch đang ráo riết tuyên truyền trên các trang mạng xã hội để bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mục đích của chúng làm mờ nhạt niềm tin của nhân dân về vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; về mục tiêu lý tưởng, giá trị tinh thần của nhân dân, nhất là thành quả cách mạng của dân tộc ta. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đấu tranh gian khổ, hy sinh cả xương máu của bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc mới có được độc lập, tự do. Lịch sử Việt Nam từ dựng nước và giữ nước đến thời đại Hồ Chí Minh chúng ta đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là lòng yêu nước, hi sinh vì cộng đồng, lối sống cao thượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu về văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại. Chính vì vậy, chúng ta đánh thắng kẻ thù bằng cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Trong đó, giá trị văn hóa nội sinh là trường tồn, là động lực quan trọng để giữ vững và phát triển giá trị văn hóa.

Có thể khẳng định, văn hóa của dân tộc ta có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Điều đó đã xây dựng, hun đúc nên con người Việt Nam và đó cũng là niềm tự hào riêng của nhân dân ta về lịch sử vẻ vang ấy. Vì vậy, đứng trước những âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta cần phải củng cố nhận thức đúng đắn về văn hóa và bắt đầu từ những sự thật lịch sử quan trọng trong truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc chúng ta là rất đáng tự hào không chỉ người Việt Nam tự hào mà bạn bè quốc tế cũng tự hào. Sự thật trong lịch sử dân tộc ta có nhiều danh nhân văn hóa được thế giới tôn vinh, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương cho đến Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Các công trình văn hóa vật chất, vật thể, phi vật thể đó là cốt cách của con người Việt Nam. Thế nên việc đầu tư vật chất xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là điều kiện tiên quyết để chúng ta xây dựng được nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đủ sức mạnh nội sinh để chống lại tất cả các thế lực đen tối đang ra sức phá hoại nền văn hóa của dân tộc ta./.

 

NVC40 - ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là xem xét Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Hội nghị chưa diễn ra vậy mà trên một số diễn đàn, mạng xã hội đã có những bài viết, những ý kiến của một số người đội lốt là “nhà dân chủ”, “trí thức” xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sau khi Hội nghị thành công và kỳ họp thứ tư, Quốc hội Khóa XV họp tuần đầu tiên thì chính những người này lại tiêp tục đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Đây không phải là lần đầu tiên những người nói trên xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tế thời gian qua cho thấy, cứ mỗi lần Quốc hội họp, mỗi lần bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là các luận điệu chống phá về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của các phần tử chống đối, thù địch lại đem ra chép lại. Thế nhưng dù có “tung hỏa mù”, có những “vỏ bọc kín đáo” thì luận điệu đó vẫn không che nổi bản chất, âm mưu thâm độc của họ.

Thực tế, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật, vì dân chủ, con người, quyền con người, quyền công dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được xây dựng, hoàn thiện đồng thời với xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ba trụ cột phát triển đất nước.

Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận và khẳng định điều đó.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tồn tại, được hiện thực hóa, vận động và phát triển thông qua các giá trị của nó. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quá trình hiện thực hóa, làm sâu sắc, gia tăng các giá trị của nó.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Viêt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đặc trưng này thể hiện tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn với hệ thống chính trị Việt Nam, là sự thể hiện sinh động việc vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số người còn cho rằng, “đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với xã hội chủ nghĩa”, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung xã hội chủ nghĩa trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thậm chí, một số người nhân danh “đổi mới” để vu cáo rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền”; cho rằng, “việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ”… Những luận điệu trên thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Cũng phải thừa nhận, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta cũng đã bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu.

Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta đã nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Để xây dựng Đề án trên, Ban Chỉ đạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, lấy ý kiến các tỉnh ủy, thành ủy và nhiều cuộc tọa đàm chuyên sâu để lấy ý kiến rộng rãi. Quá trình xây dựng Đề án được đánh giá cao về cách làm bài bản, dân chủ, khoa học, tạo được sự đồng thuận cao trong các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng Đề án. Tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhất trí thông qua.

Vì thế, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

 

NVC40 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

 Đấu tranh phản bác các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết đối với tất cả các lực lượng, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng. Vì vậy, cần thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, tôn giáo và công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Dân tộc, tôn giáo là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, đặc biệt trong những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế cùng với sự du nhập, giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau đã tạo ra những tác động lớn trong mối quan hệ dân tộc – tôn giáo. Vì thế các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây chia rẽ  quan hệ đoàn kết gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt. Chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống Việt Nam, trong đó vấn đề dân tộc, tôn giáo là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạngcùng với việc lợi dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng để chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xoá vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”.

          Trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Tin Lành Đề Ga, Nhà nước Đề Ga độc lậpHọ dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”…, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở khu vực Tây Bắc; “nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên, với “Tin lành Đềga” làm quốc đạo; thành lập “Nhà nước Khmer Campuchia Krom” ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ; các thế lực thù địch đã khai thác triệt để sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng... ở các vùng miền của nước ta như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh khu vực Tây Thanh Hóa - Nghệ An, khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hoá sự quản lí của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Thực chất, đây là thủ đoạn nham hiểm, lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo” để kích động, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam.

Với những thủ đoạn rất thâm độc, tinh vi, xảo trá. Các thế lực thù địch trên mạng Internet đã lập ra hàng trăm trang web, blog, phần lớn máy chủ đặt ở nước ngoài, để thu thập, bịa đặt, nhào nặn, trộn lẫn thật giả, phát tán những thông tin, hình ảnh xấu độc. Chúng tung ra các luận điệu vu cáo, bình luận thâm độc liên quan tới những sự kiện trọng đại của đất nước, thu hút sự phụ họa của những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Triệt để lợi dụng những thông tin về mặt trái, tiêu cực xã hội trên một số cơ quan truyền thông đại chúng của ta, thổi phồng, quy kết thành bản chất. Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Namkích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép; chúng đã triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, chúng khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học; đồng thời cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Namxóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực tiễn đã cho thấy: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, luôn có sự đoàn kết, thống nhất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngay khi bắt tay vào xây dựng nền độc lập cho quốc gia Đại Việt, vua Đinh Tiên Hoàng đã biết phát huy Phật giáo ở cả khía cạnh trí tuệ và cố kết nhân tâm, để đoàn kết, phò Vua, chống giặc, giúp nước. Thời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo trở thành Quốc đạo và đã có công lớn trong việc cố kết nhân tâm và vun bồi trí đức; nhờ đó mà dân tộc ta đã đoàn kết một lòng, đánh tan những đội quân xâm lược mạnh nhất đương thời. Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, dù theo tôn giáo nào thì đều chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc-Hồng, vì vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Chính Sự đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong chiều dài lịch sử dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng từ khi ra cho đến nay đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này cho đến thắng lợi khác, đặc biệt thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thông qua Chiến thắng 30/4/1975  là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Đảng và Nhà nước ta có đường lối, quan điểm, chủ trương đúng đắn về thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo. Đặc biệt Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”, đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới hiện nay”.

           Đảng và Nhà nước đã đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án quan trọng, có tác dụng to lớn đối với đồng bào dân tộc, như: Quyết định về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số… các Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ... Nhờ vậy, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã ngày càng ổn định và có bước phát triển vững chắc. Đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên; đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, tích cực lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

         Cùng với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc, Đảng và Nhà nước ta cũng thường xuyên thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo. Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm lo đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, nghị định về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo và Luật Tín ngưỡng Tôn giáo; qua đó, góp phần củng cố, phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”Những chuyển biến tích cực trong hoạt động của các tôn giáo khẳng định: chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã đi vào đời sống xã hội, đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo về cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay.

         Đó là những cơ sở, minh chứng đã được lịch sử ghi nhận, không thể phủ nhận được; quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo là đúng đắn, hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, phù hợp với nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Chúng ta có đầy đủ luận chứng, luận cứ để đấu tranh phản bác các quan điểm sai tráithù địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay cần phải thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

         Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới

        Hai là, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; thường xuyên chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo 

        Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước ta

        Bốn là, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo, cán bộ người dân tộc thiểu số

 Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân dân cả nước, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên quán triệt và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời luôn nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh chống các thế thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, góp phần tích cực bảo vệ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...