Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

NVG40 - VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG PHẨM CHẤT LIÊM, CHÍNH CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm, yêu cầu về liêm, chính đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trên nhiều bình diện, ở nhiều tầng bậc; qua đó, thể hiện một trí tuệ uyên bác, tầm nhìn chiến lược sâu rộng, phẩm chất đạo đức mẫu mực của một lãnh tụ kiệt xuất. Hiện nay, những chỉ dẫn đó của Người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

♦️Tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm, chính

🔸️Thứ nhất, trên bình diện văn hóa - xã hội, liêm, chính là chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng.

Khi bàn về đức liêm, chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự kế thừa sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống của người phương Đông và phát triển nó lên một tầm cao mới gắn với thời đại mới. Người nhìn nhận liêm, chính trong tổng thể các giá trị đạo đức ở một con người, luôn đồng hành cùng cần, kiệm. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”(1). Người nhấn mạnh, cần - kiệm - liêm - chính có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau; muốn có liêm, chính thì phải thực hành cần, kiệm; không rèn luyện cần, kiệm, sống buông thả, xa hoa thì ắt sẽ mất đi sự liêm, chính. Vậy nên, trong cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính” luôn làm thành một cụm từ cố định. Hay nói cách khác, nội hàm của liêm, chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã bao gồm cả đức cần, kiệm; và theo đó, một người liêm, chính nhất thiết phải có sự cần cù, chịu khó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giữ mình liêm khiết, trong sạch, đúng mực trong các mối quan hệ, luôn hướng tới sự đúng đắn trong mọi phương diện của đời sống. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính vừa là con đường thực hành đạo đức, vừa là đích đến trong rèn luyện đạo đức truyền thống của người Á Đông.

Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nâng tầm, vận dụng quan điểm truyền thống về liêm, chính vào thời đại mới và khẳng định: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới”(2). Người nhấn mạnh, liêm, chính là chuẩn mực đạo đức của con người thời đại mới, là thước đo cho mọi giá trị, danh hiệu trong đời sống xã hội mới. Người phân tích: “Ai là anh hùng?... Anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính”(3); “Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính”(4); “Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”(5). Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nghiêm khắc mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động với tư cách là một công dân của xã hội mới “phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể”(6).

Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác nhằm bảo vệ những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất rõ ràng, những người cần, kiệm, liêm, chính là những người thuộc phe thiện, tiên phong, tiến bộ; còn những kẻ bất liêm, bất chính, bất nhân là những người thuộc phe ác; phe thiện phải có sứ mệnh đánh bại phe ác, làm cho điều thiện được lan tỏa, trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống xã hội. Người nêu rõ: “Nếu mình cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đấy là phe thiện. Nếu tham ô, hủ hóa, cầu danh, cầu lợi là phe ác. Phe thiện trong mình mà đánh thắng được phe ác, thì ảnh hưởng đến phe thiện trong nước đánh thắng được phe ác, phe thiện thế giới đánh thắng được phe ác”(7).

🔸️Thứ hai, trên bình diện xây dựng Đảng, liêm, chính là đặc trưng bảo đảm bản chất tốt đẹp, “là đạo đức, là văn minh” của Đảng ta; có liêm, chính thì Đảng mới trong sạch, vững mạnh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính không chỉ là đạo đức của cá nhân, của xã hội, mà cao hơn nữa, là đạo đức của Đảng, là sự phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng ta. Người coi đạo đức là bản chất hàng đầu của Đảng ta, và định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(😎. Vậy nên, xây dựng liêm, chính trong Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, chính trực, vì nhân dân phục vụ, là góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa, trí tuệ.

Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chăm lo và coi trọng việc rèn luyện đạo đức liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Theo Người, nếu như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(9), “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(10) thì đạo đức chính là gốc của người cán bộ. Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức, xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự liêm, chính. Một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cần đi đầu trong “quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”(11) để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Mặt khác, xây dựng liêm, chính trong nội bộ Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp là nền tảng để bảo đảm an ninh tư tưởng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Có thể thấy, qua quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liêm, chính được xem là nền tảng để các chính đảng mác-xít duy trì sự trong sạch, vững mạnh; đạo đức liêm, chính là cơ sở để cán bộ, đảng viên trung thực, liêm khiết. Trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người vẫn đau đáu về mối quan hệ mật thiết giữa đạo đức cách mạng (trong đó có đặc trưng liêm, chính) với sứ mệnh cao cả của Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(12).

🔸️Thứ ba, trên bình diện xây dựng nền hành chính quốc gia, liêm, chính là điều kiện, yêu cầu của việc xây dựng Chính phủ tiến bộ, phát triển.

Ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở Việt Nam (tháng 9-1945), liêm, chính là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ mới, và vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước Quốc hội, quốc dân và thế giới tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I rằng: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”(13). Đó là một Chính phủ mà tất thảy cán bộ, công chức phải liêm khiết, chính trực; phải hết sức tiết kiệm, minh bạch, phải có trách nhiệm, có cái tâm trong sáng, không bòn rút của dân, không vụ lợi, vị kỷ và phải cải tạo lòng mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Bất kể ai trong hệ thống công quyền cũng đều phải thực hành liêm, chính, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khuyến cáo, nếu cán bộ không giữ được mình trong sạch, sẽ sa vào hưởng thụ, tham lam, tham nhũng, tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, lộng quyền, rồi thoái hóa, biến chất; như vậy là có tội với nước, với dân: “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””(14); “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(15). Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ... dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”(16). Để răn đe, ngăn chặn những hành vi bất liêm, bất chính, ngày 26-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh, trong đó quy định tội trộm cắp của công phải bị tử hình, giống như tội phản quốc.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính là linh hồn, là văn hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống chính trị đất nước, mà đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân”(17). Chính vì lẽ đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành liêm, chính trong công việc, trong sử dụng quyền lực nhà nước, trong tu dưỡng bản thân và ứng xử với nhân dân. Đây chính là những lời răn dạy rất thấm thía, sâu sắc mà Người đã để lại cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.

Xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những định hướng giáo dục về đức liêm, chính cũng như những cảnh báo về sự bất liêm, bất chính, tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, vẫn mang tính thời sự và đậm chất nhân văn. Điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đang diễn ra sôi động với đầy rẫy những cám dỗ về vật chất, tiền bạc cũng như sự du nhập của không ít yếu tố văn hóa ngoại lai, trong đó có lối sống ưa hưởng thụ, ham muốn quyền lực, xa hoa, phô trương, hình thức... Trong bối cảnh đó, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thực sự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, không thường xuyên thực hành liêm, chính thì dễ dẫn đến suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đánh mất sự trong sạch của hệ thống chính trị và làm suy giảm uy tín, năng lực, đạo đức, sức chiến đấu của bản thân cán bộ, đảng viên cũng như bản chất tốt đẹp của một chính đảng cách mạng tiên phong.

Chính vì lẽ đó, thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, nhất là sự liêm, chính của cán bộ, đảng viên, Đảng ta luôn đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi trọng việc tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; yêu cầu nghiêm túc thực hành “cần, kiệm, liêm, chính”, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm, uy tín của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu liêm, chính trên cả ba cấp độ: 1- Đối với đội ngũ cán bộ; 2- Đối với các cấp ủy và cơ quan nội chính; 3- Đối với bộ máy nhà nước. Cụ thể là: Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”(18); yêu cầu các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng “kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động”(19); yêu cầu bộ máy nhà nước phải “tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”(20).

Muốn thực hiện được những định hướng đó nhằm mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, thì việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm, mang tính quyết định và cần phải chú trọng trên các phương diện cụ thể sau:

🔸️Thứ nhất, cần xác định rõ liêm, chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực bắt buộc đối với người cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, thúc đẩy, hướng dẫn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, là trụ cột của việc điều hành và phát triển đất nước. Trong công cuộc xây dựng đời sống chính trị liêm, chính thời kỳ mới, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là lực lượng chủ lực, tiên phong, chiếm vị trí chủ đạo. Phẩm chất liêm, chính của người cán bộ, đảng viên cần được thể hiện đầy đủ trên tất cả phương diện, trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày. Theo đó, họ cần phải hiểu biết sâu sắc về đạo đức chính trị, tuân theo đạo đức công vụ, nghiêm túc về đạo đức cá nhân, luôn có ý thức tu thân bằng đạo đức, tu tài bằng tri thức, thuyết phục người khác bằng sự liêm, chính, trong sạch của bản thân.

Để có đạo đức chính trị liêm, chính thì mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện lý tưởng và niềm tin vững vàng, có tính đảng mạnh mẽ, sâu sắc, biết phân biệt và kiên định trước những điều đúng - sai, không sợ hãi khi đối mặt với thử thách và gian khổ, đứng vững trước những cám dỗ của đời sống.

Đạo đức công vụ liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là hết lòng phục vụ nhân dân, triệt để thấm nhuần và chấp hành quan điểm phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; luôn có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có ý chí tự lực, tự cường.

Đạo đức cá nhân liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là nghiêm khắc, kỷ luật, đúng mực trong mọi lời nói, hành vi, cách cư xử; sẵn sàng hy sinh nhu cầu, lợi ích bản thân để phục vụ quần chúng nhân dân, sử dụng quyền lực được nhân dân giao phó đúng chức năng, nhiệm vụ; tăng cường tự tu dưỡng, rèn luyện, tự kiểm tra, tự giám sát; suy nghĩ trung thực, công - tư phân minh.

🔸️Thứ hai, cần khẳng định việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thời gian qua, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất mà đánh mất lòng chính trực, sự liêm khiết của bản thân, gây ra không ít sai phạm trong các cơ quan công quyền; không ít cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí phải xử lý hình sự, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; làm suy giảm danh dự, uy tín của hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, để quản trị nội bộ Đảng một cách nghiêm minh và toàn diện, chúng ta không chỉ cần dựa vào việc “điều trị” các triệu chứng, biểu hiện của tham nhũng, lãng phí và các loại tiêu cực, mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân của các loại “bệnh” này, đó là do thiếu tu dưỡng, thiếu “gốc” đạo đức, văn hóa, trong đó chủ yếu là do không ít cán bộ, đảng viên các cấp bất liêm, bất chính. Vì vậy, việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng sự liêm, chính của Đảng và hệ thống chính trị. Kể từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI với việc ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm và ý chí chưa từng có trong việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương châm không khoan nhượng, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật, thể chế, cơ chế trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cần phải làm cho liêm, chính trở thành thước đo về đạo đức, sự tuân thủ pháp luật tuyệt đối, để cán bộ, đảng viên không dám, không thể, không muốn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây chính là gốc rễ, nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

🔸️Thứ ba, cần nâng tầm liêm, chính lên thành “văn hóa liêm, chính” trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Cần xem việc xây dựng văn hóa liêm, chính là một bộ phận quan trọng của văn hóa chính trị và là bộ phận không thể thiếu của văn hóa xã hội trong thời kỳ mới. Văn hóa liêm, chính cần được triển khai trên mọi phương diện, ở nhiều cấp độ, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm xây dựng nên “tuyến phòng thủ” đạo đức chống lại tham nhũng, lãng phí và tiêu cực; thiết lập quy tắc ứng xử tôn vinh đạo đức trong sáng, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái chính trị và xã hội văn minh, tiến bộ.

Văn hóa chính trị cần được hướng dẫn bởi lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lấy văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến làm chủ đạo và thể hiện đầy đủ tính đảng, tính nhân dân. Một mặt, cần giữ gìn phẩm chất chính trị trong sạch, bản lĩnh chính trị vững vàng, phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh, trong sạch, liêm, chính; mặt khác, cần tăng cường đẩy mạnh xây dựng văn hóa liêm, chính trong mọi tầng lớp xã hội, không chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà còn phải chú trọng đến sự chuyển hóa của cả môi trường và bầu không khí xã hội. Chỉ khi có sự tương tác và chung tay xây dựng văn hóa xã hội liêm, chính và văn hóa chính trị liêm, chính thì mới có thể thúc đẩy tâm lý không khoan nhượng, “không có vùng cấm” của xã hội đối với các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

♦️ Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cần đi đầu trong xây dựng và phát huy phẩm chất liêm, chính, nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải đi đầu trong việc xây dựng phẩm chất liêm, chính thời đại mới, phải rèn luyện, thực hành liêm, chính từ trong tư tưởng đến hành động, có ý thức thực hiện liêm, chính trong công vụ, trong sử dụng quyền lực, trong tự tu dưỡng, rèn luyện, trong lối sống cá nhân, gia đình... Cán bộ, đảng viên phải giữ vững sứ mệnh, trách nhiệm, giữ vững niềm say mê cống hiến cho lý tưởng và niềm tin cách mạng, tri thức phải gắn với thực tiễn, lời nói phải đi đôi với hành động để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, giàu mạnh. Cụ thể là:

🔸️Trước hết, để nuôi dưỡng phẩm chất liêm, chính, trong sạch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải củng cố niềm tin và lý tưởng cách mạng.

Đây chính là trụ cột tinh thần để người cộng sản có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách. Một khi đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp lung lay niềm tin, mất tính đảng, mất mục đích chính trị, mất sự trong sáng về lý tưởng, đạo đức cách mạng thì có thể bị sa vào vòng “chệch hướng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất. Chỉ bằng cách chăm chỉ vun đắp gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin, người cán bộ, đảng viên mới ngăn chặn, vượt qua được sự cám dỗ của những lợi ích vật chất tầm thường và tránh được thói xa hoa, hình thức. Chỉ khi có lý tưởng và niềm tin vững vàng, tầm vóc của những người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo mới cao hơn, tầm nhìn mới bao quát hơn, trí tuệ mới rộng mở hơn; từ đó, kiên định đường lối chính trị đúng đắn, vững vàng trước những thử thách, khó khăn, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống và mãi mãi giữ vững bản lĩnh chính trị của người cộng sản chân chính.

🔸️Thứ hai, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương liêm khiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Cần nâng cao nhận thức toàn diện về lịch sử của Đảng ta, củng cố ý thức về truyền thống của Đảng và lòng tự hào về Đảng, tăng cường tính liên kết, hiệu quả và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn xác định hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là mục đích, sứ mệnh của Đảng; coi liêm, chính là yêu cầu cơ bản đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị. Đảng luôn đặt việc thực hiện kỷ luật đảng ở vị trí quan trọng; chính vì thế, hệ thống quy định về liêm, chính cần được coi là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng nhằm tạo nên kỷ luật nghiêm minh trong Đảng và kỷ cương trong toàn hệ thống chính trị.

Đảng ta xác định rằng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay là vấn đề sinh tử của Đảng và chế độ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một hiện tượng toàn cầu, là một căn bệnh nhức nhối, dai dẳng. Vì vậy, việc xây dựng một nền chính trị trong sạch cũng là một vấn đề thực tế, là mục tiêu mà mọi quốc gia và chế độ phải hướng tới. Trong những năm gần đây, một số đảng chính trị trên thế giới mất vị trí cầm quyền, hầu hết đều liên quan đến việc đảng chính trị mất đi sự trong sạch và bản chất tiên tiến, do xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và tiến bộ xã hội, không kiên cường củng cố, xây dựng nội bộ, đánh mất khả năng đối phó, giải quyết các vấn đề phức tạp, và cuối cùng là đánh mất lòng dân. Thực tiễn sinh động này là bài học sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng, lòng dân như nước, bởi thế nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền. Chính vì lẽ đó, phát triển văn hóa chính trị trong sạch, nêu gương liêm khiết, trung thực, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là kinh nghiệm và bài học vô cùng quý báu mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lãnh đạo xã hội, đất nước; đồng thời, cần gắn với phát huy và lan tỏa giá trị của sự liêm, chính thẩm thấu vào hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và mọi tầng lớp nhân dân.

🔸️Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm.

Là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo thì phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phải nắm bắt, triển khai công việc đến cùng và làm cho tốt, cho có hiệu lực, hiệu quả. Để có đủ dũng khí, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm trong công việc, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm những vấn đề nảy sinh; đồng thời, cần có động cơ trong sáng, có tinh thần thượng tôn pháp luật, định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình. Đây chính là “nguồn gốc”, điều kiện để trở thành tấm gương của sự trung thực và liêm, chính.

Quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên là do Đảng và nhân dân giao phó. Điều lệ Đảng và Hiến pháp đều quy định rõ cán bộ, đảng viên phải thực hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức; hành động theo pháp luật; trung thực, liêm khiết, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng, giữ mình, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc, quản lý thật chặt chẽ, nghiêm túc đời sống bản thân, gia đình, cơ quan, đơn vị.

🔸️Thứ tư, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa.

Xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa là một bộ phận quan trọng của việc xây dựng phong cách, lề lối làm việc của người cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là yêu cầu cơ bản để tăng cường xây dựng phẩm chất liêm, chính của họ. Thực tiễn hiện nay cho thấy, có một bộ phận cán bộ, đảng viên vì gánh nặng tình cảm gia đình mà trượt chân xuống vực sâu của tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Do đó, một yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là mọi cán bộ, đảng viên không chỉ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn phải quản lý tốt gia đình, nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa, văn minh.

Cán bộ, đảng viên trước hết phải quản trị tốt bản thân, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý thức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; làm người trong sạch, làm việc trong sáng. Bên cạnh đó, mỗi người cần nghiêm khắc yêu cầu vợ, chồng, con cái và người thân không được phép đặc quyền, đặc lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích cá nhân và có những hành vi bất chính. Việc vợ, chồng, con cái và người thân của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, tuân thủ hay không tuân thủ đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức gia đình thường được xã hội hết sức quan tâm, liên quan đến hình ảnh, uy tín của bản thân người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự đánh giá cũng như niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Do vậy, các cán bộ, đảng viên cần quan tâm hơn nữa đến vợ, chồng, con cái và người thân của mình, giám sát, hướng dẫn họ giữ gìn sự tự trọng; kế thừa và tiếp nối những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp, nền nếp gia phong của các bậc tiền bối cách mạng, nêu gương về tuân thủ pháp luật, giữ gìn liêm, chính, xây dựng văn hóa gia đình và nếp sống tốt đẹp thông qua tự tu dưỡng, rèn luyện./.

NVE40-NIỀM TIN VÀO CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 

        Cuộc chiến phòng chống tham nhũng sẽ không có điểm dừng nếu vẫn còn hiện tượng tham nhũng. Con đường phía trước của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với quyết tâm chính trị của toàn Đảng, sự quan tâm, đồng lòng, sự quyết tâm trong nhận thức và hành động của toàn dân, sẽ vượt qua bằng sức mạnh nội sinh, cội nguồn là sức mạnh niềm tin của dân đối với Đảng. Điều đó được minh chứng tại phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” vừa kết thúc sau 18 ngày xét xử và nghị án. Đây là vụ án thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế. Đại đa số nhân dân đều đồng tình với phán quyết của phiên tòa xét xử sơ thẩm, với hình phạt dành cho 54 bị cáo, trong đó có 4 án chung thân. Các đối tượng đưa và nhận hối lộ bị xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tinh thần nghiêm minh của luật pháp. Đồng thời, thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những người không đủ tư cách phẩm chất và đạo đức.

        Có thể khẳng định trong 54 bị cáo, nhiều người đã từng là công chức Nhà nước, có người giữ chức vụ cao (thứ trưởng, vụ trưởng, phó chủ tịch UBND cấp tỉnh…), tất cả đều bị đưa ra xét xử. Điều đó chứng tỏ rằng, chúng ta đấu tranh phòng, chống tham nhũng không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Cũng phải nói thêm rằng, việc tổ chức các “chuyến bay giải cứu” là một chủ trương đúng đắn, nhân văn của Đảng và Nhà nước ta. Sau khi tổ chức giải cứu 30 công dân Việt Nam ở Vũ Hán, Trung Quốc về Việt Nam vào tháng 2/2020, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, đến tháng 4/2020, Chính phủ cho phép thực hiện các chuyến bay giải cứu theo hình thức công dân thuộc diện ưu tiên được về trên các chuyến bay do cơ quan Nhà nước phối hợp tổ chức thực hiện và cách ly. Sau khi tổ chức các chuyến bay thí điểm thành công, Chính phủ tiếp tục cho phép tổ chức các chuyến bay “combo” song song với các “chuyến bay giải cứu” đến hết tháng 1/2022. Chủ trương kịp thời này đã nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế và sự ủng hộ của đồng bào trong và ngoài nước, ghi dấu ấn ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước.

            Từ chính chính sách tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn đó lại xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên - những người mang trong mình trọng trách là “công bộc” của dân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, móc ngoặc với nhau để đưa và nhận hối lộ, tư lợi cá nhân với số tiền lớn, phạm vi rộng. Thành công lớn nhất của phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu”, theo ý kiến của các chuyên gia pháp luật, đó là tính công khai, tính rõ ràng và sự tham gia rộng rãi của công luận, của báo chí và mạng xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình bày tỏ ý kiến thì cũng có nhiều chiều. Bên cạnh những ý kiến chân thành, mang tính xây dựng, đã xuất hiện một số ý kiến mang tính công kích, hoặc đả phá, nói xấu cá nhân hoặc cơ quan mà không có chứng cứ, quy kết, để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc sự thật. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Những thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, nhận được sự đồng tình, tin tưởng của quần chúng nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đối với Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đó bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, là “thanh trừng, triệt hạ”…

            Phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Qua phiên tòa cũng gợi nên nhiều vấn đề để chúng ta cùng xem xét, tìm cách “bịt lỗ hổng” vào cơ chế phòng, chống tham nhũng. Ví dụ như việc cấp phép cho các chuyến bay phải qua 5 bộ. Mỗi bộ đều phải báo cáo, đều phải có một quy trình rất dài. Đấy chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng phát triển. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu của kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị. Vụ án cũng cho thấy tính chất phức tạp của vấn nạn tham nhũng, tiêu cực hiện nay, nếu không được kiểm soát tốt có thể lây lan thành căn bệnh nguy hiểm với sự tham gia của nhiều cán bộ có chức quyền ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “viên đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

            Con đường phía trước của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với quyết tâm chính trị của toàn Đảng, sự quan tâm, đồng lòng, sự quyết tâm trong nhận thức và hành động của toàn dân, sẽ vượt qua bằng sức mạnh nội sinh, cội nguồn là sức mạnh niềm tin của dân đối với Đảng. Khi người dân đã có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, thì tự nó có giá trị như một loại “vắc xin” để phòng, chống “giặc nội xâm”.Việc xét xử tại tòa hình sự sơ thẩm vụ án “chuyến bay giải cứu” trong những ngày qua là minh chứng rõ ràng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta ngày càng quyết liệt hơn, mở ra niềm tin lớn trong phòng, chống tham nhũng./.

 

NVE40- CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, NÓI XẤU CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

 

            Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật, pháp luật, thời gian qua trên mạng xã hội lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc nói xấu đội ngũ cán bộ quân đội. Với trò “vơ đũa cả nắm”, bằng cách cắt xén tư liệu, dựng chuyện, bóp méo thông tin, suy diễn một chiều, “nhào nặn” thật - giả lẫn lộn, kẻ xấu lợi dụng một số vụ án liên quan đến cán bộ quân đội để xuyên tạc bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm uy tín quân đội, kích động chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Những thông tin sai trái ấy không thể đánh lừa được dư luận, bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, những thông tin sai trái, bịa đặt kia đã gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong một bộ phận “cư dân mạng” nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin, thiếu tin tưởng vào bản lĩnh, lòng trung thành, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân của đội ngũ cán bộ quân đội.

            Sự quan tâm của người dân đến sự trưởng, lớn mạnh và cả những hạn chế, khuyết điểm, nhất là trong việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của đội ngũ cán bộ quân đội cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ có quan tâm đến sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội, có quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin và tỏ ra lo lắng trước những sự việc, vụ việc liên quan đến cán bộ quân đội. Thế nhưng, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là các thế lực thù địch, những phần tử phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá quân đội. Nắm bắt được nhu cầu thông tin cao của người dân về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ quân đội, các thế lực thù địch, phản động tung lên mạng đủ các loại thông tin bịa đặt, suy diễn, nhận định hồ đồ, vô căn cứ về đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và một số cán bộ cụ thể nói riêng nhằm mục đích gây rối, làm nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

            Cần phải khẳng định rằng, sự phát triển của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quán triệt tư tưởng của Người, qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta xác định xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì trước hết và nòng cốt phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, bởi đây là nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

            Thực tế những năm qua cho thấy, đội ngũ cán bộ trong quân đội có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức trong sáng; phong cách, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, sáng tạo; có tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học; có khả năng phân tích và xử lý các tình huống; tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng, yêu mến.

            Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận trong quân đội có một số cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật. Nhưng cần phải thức rằng, những khuyết điểm, sai phạm của một số cá nhân trong quân đội chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể “thấy cây mà không thấy rừng”, không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào khuyết điểm, sai phạm của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ.

            Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm sao để người dân hiểu sâu hơn về bản chất, truyền thống quân đội từ đó có thể tự phòng vệ trước luồng thông tin tiếp nhận, biết đâu là thông tin độc hại và thông tin hữu ích. Mặt khác, cán bộ, đảng viên và người dân, trước hết là cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn đề cao cảnh giác để kịp thời nhận diện, vạch trần, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ quân đội. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác ưu thế của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến chống phá, do vậy, chúng ta cần tích cực, chủ động cung cấp thông tin chính thống về quân đội và đội ngũ cán bộ quân đội đến nhân dân. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống là cách tốt nhất để không tạo ra khoảng trống cho sự tồn tại của các luận điệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt. Cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính xác, đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ uy tín, danh dự của cán bộ quân đội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng không tốt đến đội ngũ cán bộ và công tác bộ trong quân đội. Đối với những trường hợp đăng phát những thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cán bộ quân đội nhất quyết phải làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.

 

NVE40- NHỮNG MINH CHỨNG KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 

             Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Cúng ta phải ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. “Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời. Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km, cong hình chữ S, chạy từ thị xã Móng Cái  (Quảng Ninh) ở phía Bắc đến thị xã Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía Tây Nam… Nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bờ và có hai quần đảo ở ngoài khơi xa trên biển Đông là quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa)… Biển Đông đối với nước ta là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước. Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo, thềm lục địa.

                Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới. Kinh tế ven biển và thuần biển đã có đóng góp quan trọng vào tổng GDP của cả nước, và cùng với đó, thu nhập bình quân của người dân ven biển đang tăng nhanh. Vùng biển của Việt Nam được phê chuẩn theo công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 và vào năm 1994. Theo đó, một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Căn cứ để tính chiều rộng của các vùng biển của một quốc gia chính là đường cơ sở và đơn vị đo chính là hải lí. Một hải lí bằng 1852m.

Nước Việt Nam nằm bên bờ phía tây của Biển Đông. Bao đời nay, biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta. Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển, lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xa hơn. Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảo hoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biển vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đã tới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ. Không những vậy, cư dân Lạc Việt thời đó cũng đã có khả năng vượt biển tới những vùng đất xa, bằng chứng là những chiếc thuyền vũ trang có chở nhiều đồ đồng quý giá như trống, bình đồng… mà người ta thấy được ở hầu khắp các đảo lớn thuộc Inđônêxia và ven bờ biển Malaixia, Thái Lan.

            Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều thấy rõ vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.Trên nhiều tấm bản đồ cổ của nước ta cũng như của nước ngoài đều thể hiện chủ quyền biển đảo Việt Nam. Bộ Hồng Đức bản đồ gồm bản đồ cả nước và các địa phương, trong đó có vùng biển, đảo đã ghi lại khá toàn diện hình ảnh của quốc gia Đại Việt ở cuối thế kỉ 14. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu thì trên những bản đồ cổ của Tây Phương và cả những bản đồ từ thế kỉ 15 của Trung Quốc đều dùng địa danh biển Giao Chỉ (tức là biển của Việt Nam) để chỉ vùng biển ở phía đông nước ta. Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam xưa. Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao Chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt.

            Sang thế kỉ XIX hoạt động chủ quyền của nhà Nguyễn được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và phong phú hơn, nhất là dưới các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Nhà Nguyễn nối tiếp chúa Nguyễn và vương triều Tây Sơn đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thủy quân, biền binh, vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu (chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định). Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa, Trường Sa đều phải có quyết định của nhà nước dưới hình thức “tờ sai để thi hành công vụ” và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại vì bão gió. Tập tài liệu của Trung Quốc Ngũ quốc Nam hải chư đảo sử liệu hội biên do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng).

            Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền. Khi chính quyền Pháp bảo hộ, họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi “Cộng hòa Pháp- Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”. Vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.Như vậy, qua các căn cứ trên ,chúng ta hiểu rằng Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam.Bất kì sự xâm phạm của quốc gia nào vào vùng biển thuộc chủ quyền của chúng ta là đã đi ngược Công ước về luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.

            Trong thời gian qua,Trung Quốc đã nhiều lần tái diễn hành vi xâm phạm vùng biển Việt Nam: Tập trận ở vùng biển Hoàng Sa, tàu cá Trung Quốc, tàu dân quân biển, tàu khảo sát Trung Quốc…đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Biển Đông của chúng ta lại “nóng”lên trước các hoạt động của Trung Quốc. Trả lời câu hỏi của một số phóng viên trong và ngoài nước liên quan đến diễn biến gần đây ở Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết: “Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Viện Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. 

            Có thể khẳng định rằng chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm lược chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, được xác định phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. Chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh để giữ vững chủ quyền quốc gia của tổ quốc, không để bị động, bất ngờ, không để mất đảo, mất dân, mất đất. Biển đảo là của tiền nhân để lại, một viên đá trên đảo, một ngụm nước biển thuộc chủ quyền của nước mình cũng khống thể để mất đi.   

            Vì vậy chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của biển, đảo, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc để tìm ra phương thức bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu; Xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc; Tích cực học tập huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nhận và hoàn thành các nhiệm vụ Quân đội./. 

NVD40 - Giá trị của nền tư pháp Việt Nam

 

Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền tư pháp Việt Nam phát triển không ngừng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Nền tư pháp Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện phản ánh những giá trị văn minh của nhân loại; uy tín, vị thế của tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, bổ trợ tư pháp và các chức danh tư pháp ngày càng được nâng cao, thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Tổ chức và hoạt động của tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp được xây dựng, kiện toàn. 

 “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Điều 102), “Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” trong cơ chế “quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Việc Hiến định vị trí pháp lý của tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân như trên thể hiện thành công của quá trình cải cách tư pháp nhằm xây dựng nền tư pháp hiện đại, hiệu quả với giá trị phổ biến của nền tư pháp là tính độc lập. Trong đó tòa án là một bộ phận quyền lực Nhà nước, giữ vị trí trung tâm, xét xử là trọng tâm. Viện Kiểm sát nhân dân được thiết lập là một hệ thống cơ quan độc lập theo chiều dọc, có nhiệm vụ: “bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (khoản 3 Điều 107) và bảo vệ Hiến pháp (Điều 119). Mô hình tổ chức của cơ quan điều tra theo hướng tinh gọn, hiệu quả hơn ; nhiệm vụ của cơ quan điều tra được xác định rõ trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự... Hệ thống cơ quan thi hành án hình sự và thi hành án dân sự được kiện toàn, bảo đảm sự quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương; quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan khác liên quan đến công tác thi hành án được xác định rõ; số vụ, việc Luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi ngày càng tăng, chất lượng bào chữa của các Luật sư trong các vụ án ngày càng được nâng cao, số lượng dịch vụ pháp lý của Luật sư nhìn chung năm sau tăng hơn năm trước.

Thứ 2, Thủ tục tư pháp không ngừng được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm, tránh oan sai, bảo đảm công lý, phản ánh chính sách nhân đạo, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 

Trong đó, các nguyên tắc tranh tụng được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong thực tế; nguyên tắc suy đoán vô tội được Hiến định và cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Chính sách hình sự ngày càng hoàn thiện đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, giảm hình phạt tù, hạn chế hình phạt tử hình, giảm khung hình phạt tối đa quá cao, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ, khắc phục tình trạng tội phạm hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự, tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển xã hội; hoàn thiện pháp luật dân sự, tôn trọng quyền tự do kinh doanh, xác lập các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại; hạn chế sự can thiệp quá mức của cơ quan công quyền vào các quan hệ này; hình thành cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi tốt hơn quyền của các chủ thể trong giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại thúc đẩy các quan hệ phát triển lành mạnh. Công tác xây dựng án lệ được tăng cường, “được chánh án tòa án tối cao nhiều nước đánh giá đạt trình độ quốc tế, mở ra thời kỳ mới về phát triển án lệ, tăng cường áp dụng án lệ trong xét xử như xu thế chung của thế giới”.

Thứ ba, Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp luôn được cả Hệ thống chính trị quan tâm. 

Hiện nay, ở Việt Nam đã có lực lượng thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, Luật sư lớn mạnh. Công tác giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên được chú trọng thường xuyên, uy tín của cán bộ tư pháp được nâng lên.

Nền tư pháp được xây dựng ngày càng công khai, minh bạch, chịu sự giám sát của nhân dân. Quốc hội đổi mới và tăng cường giám sát hoạt động tư pháp thông qua xét báo cáo, chất vấn, giám sát chuyên đề và tăng cường hoạt động của Ủy ban Tư pháp; tòa án nhân dân thực hiện công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử (trừ những bản án hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mỹ tục); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận đã tích cực tham gia giám sát các hoạt động tư pháp ; các phương tiện thông tin đại chúng đã chủ động, tích cực hơn trong việc tuyên truyền về hoạt động tư pháp, kịp thời thông tin góp phần làm sáng tỏ nhiều vụ, việc sai phạm, thiếu sót trong hoạt động tư pháp.

Chúng ta có thể khẳng định nền tư pháp Việt Nam đã ngày càng phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nền tư pháp Việt Nam đã chứa đựng và phản ánh đầy đủ giá trị của văn minh nhân loại, công lý, dân chủ và quyền con người đã gắn với bản chất của nền tư pháp và trở thành giá trị cốt lõi, làm nên bản sắc của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa.

NVD40 - Nhận diện luận điệu xuyên tạc về “Tự do”, “nhân quyền” của tổ chức nhân quyền HRW (Human Rights Watch)

 

Vấn đề “tự do”, “nhân quyền” luôn là chủ đề các thế lực thù địch sử dụng để xuyên tạc, chống phá Việt Nam. Gần đây, tổ chức theo dõi nhân quyền HRW (Human Rights Watch) đã nhiều lần đưa ra những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Trong một thông cáo phát đi vào 8/6/2023 (trước thời điểm đối thoại nhân quyền Liên hiệp Châu Âu – Việt Nam tại Hà Nội), tổ chức HRW đã bịa đặt, sau đó lấy cớ kêu gọi liên minh châu Âu gây áp  lực đối với Việt Nam về vấn đề nhân quyền, qua đó đòi thả tự do cho những đối tượng chống phá Nhà nước.

Nói về tổ chức HRW (Human Rights Watch), được thành lập năm 1988, chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền nhưng do bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động nên vân đề nhân quyền của tổ chức này thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị và chủ quan áp đặt, do đó các cáo buộc của HRW gây ra phản ứng tiêu cực tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt với các nước đi theo con đường XHCN. Sau mỗi cáo buộc, tổ chức này thường bị phản ứng tức thì, bị chỉ trích chịu quá nhiều tác động bởi Mỹ và các nước phương Tây, thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Tổ chức này bị nhiều nước cấm hoạt động, phản đối, chỉ trích do phát tán các thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị như: Liên bang Nga, Trung Quốc, Thái Lan, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria.

Thực tế đó cho thấy, mặc dù mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW đều thể hiện ý đồ, động cơ chính trị. Nhìn vào các hoạt động của tổ chức này cho thấy sự bất hợp lý và ý đồ bôi nhọ, hạ uy tín, hình ảnh của Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Một tổ chức không hiện diện ở Việt Nam, không nắm được tình hình thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam song lại tự cho mình quyền phán xét về nhân quyền.

Thực tiễn các vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam, các đánh giá của Liên Hợp Quốc lại luôn coi Việt Nam là nước coi trọng phát triển con người, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Theo báo cáo năm 2020 của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP, Việt Nam đã vào nhóm các nước có Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trên thế giới, xếp thứ 117/ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 1990 đến 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do cơ bản được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật liên quan. Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật để triển khai nhiều biện pháp cụ thể, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tích cực tham gia hợp tác quốc tế về quyền con người.

 

 

NVD40 - Đấu tranh kiên quyết với luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

 

Ngày 30-6-2022, tại Hà Nội, trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh PCTN, tiêu cực: Nhìn lại 10 năm qua; định ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới đã chỉ rõ: Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII)...

Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Riêng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo gần 1.000 vụ án, vụ việc ở 3 cấp độ; trong đó trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 313 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm... Ngày 19-6-2023, tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh, đồng chí Tổng Bí thư tiếp tục chỉ rõ: Đây là một hội nghị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, nhất trí và quyết tâm cao của chúng ta trong công tác đấu tranh PCTN, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương. Những kết quả bước đầu sau một năm hoạt động của ban chỉ đạo PCTN, tiêu cực cấp tỉnh cho thấy quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đấu tranh PCTN, tiêu cực không phải như lời lẽ suy diễn, đầy hằn học, mưu toan chống phá của các thế lực thù địch.

Bất chấp những thành tựu đạt được trong công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, với dã tâm thâm độc, nham hiểu, âm mưu chống phá đến cùng, thái độ hằn học mà các thế lực thù địch, phản động không từ bỏ thủ đoạn nào để xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ, bóp méo sự thật về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Ngày 05/8/2023, trên trang blog Việt Tân phát tán bài “Từ chuyến bay giải cứu tới Việt Á” nội dung xuyên tạc công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực và công tác nhân sự của Đảng, kích động gây chia rẽ nội bộ, đồng thời kêu gọi người dân đấu tranh “xóa bỏ” vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng chế độ “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam. Ngày 07/8/2023 trên trang blog Việt Nam Thời Báo đối tượng Nguyễn Huỳnh phát tán bài “Hiến pháp Việt Nam vẫn chưa thể hiện đầy đủ quyền con người”; trên trang blog Đối Thoại phát tán bài “Phải giữ án tử hình để còn mặc cả tạo nguồn thu”, nội dung xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư pháp, phủ nhận thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật ở Việt Nam, đồng thời kêu gọi xây dựng mô hình “tam quyền phân lập” ở Việt Nam.

Chúng đã nhắm mắt làm ngơ trước những điều tốt đẹp mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được. Với luận điệu trơ tráo, lố bịch, các thế lực thù địch cố tình dùng mọi thủ đoạn để thực hiện mưu đồ xấu xa; xuyên tạc về công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam. Lợi dụng công nghệ truyền thông, mạng xã hội và sự thiếu thông tin, hiểu biết của một bộ phận người dân để lập các trang web, đăng tải tin, video clip với nội dung xuyên tạc, bôi đen, gán ghép, dựng chuyện và cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đang xảy ra ở khắp mọi nơi, ngõ ngách. Với âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau các vụ việc ở Bộ tư lệnh Cảnh sát biển và Học viện Quân y, các phần tử xấu đã thổi phồng, vơ đũa cả nắm với luận điệu cho rằng, tham nhũng xảy ra ở toàn quân.

 Đấu tranh, phản bác các luận điệu suy diễn, xuyên tạc công tác PCTN, tiêu cực ở Việt Nam phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với hệ thống các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Trong đó, tập trung vào một số giải pháp là: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng trong PCTN, tiêu cực và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về PCTN, tiêu cực và tổ chức triển khai có hiệu quả trên thực tế, không tạo khoảng trống để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn thể nhân dân trong PCTN, tiêu cực và đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hiện nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, tiêu cực và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện đa dạng, linh hoạt về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh PCTN, tiêu cực và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

 

NVC40 - VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU ĐÒI THỰC HIỆN “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam. Đó là thời kỳ kết thúc cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và mở đầu thời kỳ cả dân tộc đi theo ngọn cờ của Đảng. Điều đó chứng tỏ dân tộc ta sớm khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử loài người, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân, phong kiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thế nhưng, bất chấp thực tế lịch sử mang tính quy luật, thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã tìm mọi cách, áp dụng mọi thủ đoạn để tuyên truyền, phát tán các tài liệu phản động như là “thể chế độc đảng toàn trị”, nào là “sai lầm đường lối” của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường xây dựng CNXH… nên “xã hội không có tự do, dân chủ”. Vì vậy, đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự kết thúc vai trò lịch sử của mình vì chỉ có “đa nguyên, đa đảng” thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự, có được sự giàu có, ấm no. Thậm chí, chúng còn hô hào: Tình hình thế giới và trong nước đã chín muồi để người dân Việt Nam chọn lựa cho mình một lực lượng chính trị khác thay thế cho Đảng Cộng sản.

Mục đích của chúng là nhằm hạ thấp, đi đến thúc đẩy việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua những cái gọi là “tâm thư”, “tâm nguyện”, chúng ra sức bôi nhọ, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, với dã tâm “đánh tráo lịch sử”, “đổi trắng thay đen”, chúng trắng trợn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội thông qua những nội dung chỉ trích, “kiến nghị” đòi hỏi vô lý, phi thực tế. Mục tiêu cuối cùng của chúng là lừa mị, kích động, hòng làm chệch hướng con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng chế độ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực tế cho thấy, những luận điểm này, về bản chất chính trị là phản động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta, về nhận thức là phản khoa học, chủ quan, phi thực tiễn. Vì sao có thể kết luận như vậy? Như trên đã nói, việc Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội mang tính quy luật, là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Đây cũng là sự lựa chọn mang tính lịch sử của nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh.

          Do vậy, mọi luận điệu đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”… đều là phản động, phi lý, với mục tiêu không có gì khác là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa thể chế CHXHCN Việt Nam sang mô hình xã hội theo kiểu phương Tây.

Rõ ràng, con bài “đa nguyên, đa đảng” chỉ là những chiêu bài của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối của chúng. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của chúng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh, cần chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ngăn chặn từ sớm từ xa, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đặc biệt, cần chỉ rõ những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”./.

 

 

NVC40 - “TỰ DO DÂN CHỦ” CHIÊU BÀI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

“Tự do dân chủ”, một vấn đề không còn xa lạ trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng là mộ trong các vấn đề mà thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh hoạt động chống phá, xuyên tạc nhằm gây mất trật tự an ninh xã hội, để thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”.

Thời gian qua, một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ. 

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Đáng chú ý nhất, là vụ việc Nguyễn Phương Hằng cùng một số đối tượng tổ chức nhiều buổi livestream với nội dung thông tin không kiểm chứng, xâm phạm đời tư của người khác đã bị cơ quan chức năng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, một số tổ chức, hội nhóm phản động đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, kích động, vu khống các lực lượng chức năng. 

Ðiển hình như trên facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng: "Công an sử dụng Ðiều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái". Còn trang RFA đã phỏng vấn một số cá nhân tự phong là "nhà dân chủ", thiếu thiện chí với Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước, chính quyền, và cho rằng việc bắt Nguyễn Phương Hằng theo Ðiều 331 là "không hợp lý". 

Các đối tượng không ngừng rêu rao luận điệu nhằm xuyên tạc Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là "phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản. Các cơ quan chức năng thực hiện theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là vi phạm quyền tự do dân chủ, nhân quyền". Từ đó quy kết: "Ở Việt Nam, pháp luật không hề tồn tại, quyền dân chủ ở Việt Nam bị bóp nghẹt"; đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ điều luật này với lập luận rằng "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ - một điều luật hoàn toàn thừa thãi", "đây là điều luật mơ hồ", "được tạo ra để chụp mũ lên bất kỳ đối tượng nào mà Việt Nam muốn trừng trị", "cần xóa bỏ điều luật này khỏi Bộ luật Hình sự",...

Một thủ đoạn quen thuộc được các đối tượng chống phá tiếp tục sử dụng đó là "tôn vinh" những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền", để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". 

Có thể nhận thấy mục đích mà các đối tượng kêu gọi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của Nhà nước.

Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. 

Liên quan đến quyền tự do dân chủ, một căn cứ quan trọng để soi chiếu đó là Khoản 2 Ðiều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948: "Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn".

Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác".

Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta. 

Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước.

 

 

NVC40 - HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH 02/9 (02/9/1945- 02/9/2023)

 

Những ngày này, cả nước ta tưng bừng chào mừng ngày Quốc khánh 2/9. Cách đây 78 năm, trong mùa thu lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Ngày 2/9/1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”


Ngay sau Lễ tuyên thệ Người nói: “Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần cố gắng giữ gìn, bảo vệ”. “Nước độc lập mà dân không được tự do hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”,“Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”,.. đã khích lệ dân tộc Việt Nam đánh thắng các đế quốc to, hùng mạnh nhất thế giới, giữ vững độc lập dân tộc và mang lại hạnh phúc cho nhân dân.


Ngày nay, Tuyên ngôn Độc lập đồng thời còn có giá trị đấu tranh bác bỏ những đòi hỏi vô lý, cùng âm mưu tái chiếm Việt Nam của các lực lượng thù địch, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế vì một nước Việt Nam độc lập có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2-9 sẽ đời đời bất diệt. Khát vọng hòa bình và tinh thần ấy của Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi con người Việt Nam và đây là nguồn động viên lớn để khơi dậy lòng nhiệt huyết của thế hệ hôm nay quyết giữ vững nền độc lập tự do.


Trong bối cảnh ngày nay – xung đột vũ trang vẫn không ngừng diễn raNga, Ucroaina, và ở Tây Phi.. trong đó không thể không có sự nhúng tay của chủ nghĩa đế quốc - những giá trị vạch thời đại và trường tồn của Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam: Thống nhất độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc của nhân dân; Khẳng định quyền tự quyết và thể hiện quyết tâm cao nhất của mỗi dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc;.. cùng với tinh thần đấu tranh không mệt mỏi và không khoan nhượng cho độc lập tự do của dân tộc và quyền sống, quyền hạnh phúc của con người của nhân dân và dân tộc Việt Nam mãi mãi không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà mãi mãi còn nguyên tính thời đại.


Gần 8 thập kỷ trôi qua, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Hiện nay, cục diện trên thế giới đang có nhiều thay đổi, có thuận lợi và có cả khó khăn, phức tạp, nhưng đất nước ta đã lớn mạnh hơn rất nhiều và trở thành một quốc gia có uy tín cao trên trường quốc tế. Toàn Đảng, toàn dân đang đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng thành công nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Kỷ niệm 78 năm ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Gần đến ngày 2- 9, tinh thần cộng đồng người Việt trên khắp mọi miền Tổ quốc, trên khắp thế giới lại hăng hái hướng về đất nước. Không chỉ trong nước mà nguời Việt Nam ở nước ngoài cũng hừng hực khí thế giới thiệu hình ảnh Việt Nam cho bạn bè quốc tế. Dù cho năm tháng qua đi, nhưng tinh thần của Tuyên ngôn độc lập 2/9 vẫn đời đời bất diệt trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt Nam hôm nay và mai sau./.

 

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...