Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

NVH40 - Cảnh giác và phê phán quan điểm sai trái “muốn đất nước hùng cường phải xóa bỏ điều 4 hiến pháp”

 

Kể từ khi ra đời và trong suốt tiến trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)luôn luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta; dưới sự lãnh đạo của Đảng, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay”. Chính vì những thành quả lớn lao vẻ vang ấy đã làm cho các thế lực thù địch, phản động điên cuồng chống phá, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, bằng hình thức “ nhai lại” điệp khúc “Muốn đất nước hùng cường phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp”.

Thực tế những năm qua cho thấy, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị, luôn tìm mọi cách chống phá nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, bằng các chiêu trò khác nhau như: Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi phi chính trị lực lượng vũ trang, chống phá quá trình đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, thông tin sai trái hình ảnh đất nước, cố tình bịa đặt, vu cáo, bội nhọ, hạ thấp uy tín một số đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đây là những nội dung đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận diện một cách chính xác, toàn diện từ đó đấu tranh làm vô hiệu hóa thủ đoạn chống phá này nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi vì, lịch sử đã chứng minh rằng kể từ mùa xuân Canh Ngọ năm 1930, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, ĐCSVN đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh, uy tín, nghị lực, trí tuệ của mình; luôn khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn qua mỗi kỳ Đại hội. 93  năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trải qua muôn vàn cam go thử thách, thậm chí có lúc rơi vào tình thế ngàn cân treo trên sợi tóc; song, dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi to lớn, đem lại những kỳ tích của thế kỷ XX. Thế mà các thế lực thù địch vẫn cố tình  “nhắm mắt giả mù”,  “bịt tai giả điếc”, rắp tâm âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá chủ trương đường lối của Đảng, phá hoại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; tìm kiếm, “bới móc” một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội về tham nhũng, lãng phí; những biến đổi của khí hậu về lũ lụt, hạn hán; sự suy thoái, thiếu nêu gương của một số cán bộ, đảng viên… để cắt dán, gán ghép đưa lên các trang mạng xã hội; với những lời lẽ lộng ngôn, sống sượng, vô căn cứ: “độc đảng là độc quyền, không có dân chủ”, “việc xử lý một số cán bộ cao cấp là sự thanh trừng trong Đảng” hoặc “xảy ra thiên tai, bão lũ là do vai trò lãnh đạo của Đảng và Chính phủ”... Một trong những âm mưu nguy hiểm ấy chính là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với mục đích xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực chất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN. Song, dù có xảo quyệt đến đâu đi nữa chúng không thể nào làm lu mờ được những trang sử hào hùng  với những chiến công hiển hách trong chặng đường đấu tranh cách mạng của Đảng. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nám Á; là một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” (1954); là chiến thắng mùa xuân năm 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau chiến tranh, nhất là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bằng tài năng, trí tuệ, bản lĩnh, đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng-an ninh. Tổng kết nhiệm kỳ khóa XII và nhìn lại 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Đặc biệt, trong  những năm gần đây, đại dịch Covid -19 đã hoành hành, tàn phá khốc liệt trên phạm vi toàn cầu, cướp đi sinh mạng hàng triệu con người, gây thiệt hại vô cùng to lớn về vật chất cho đời sống xã hội loài người; thiên tai lũ lụt tàn phá nặng nề về người và của chưa từng có trong lịch sử ở khu vực miền Trung vào những tháng cuối năm 2020… Thế nhưng bằng bản lĩnh và trí tuệ, bằng sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình theo truyền thống  của dân tộc yêu nước, đoàn kết thương người như thể thương thân “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; bằng tính ưu việt của chế độ XHCN, lấy con người làm trung tâm, làm động lực phát triển; lấy tính mạng, sức khỏe của Nhân dân lên trên hết; dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta được bạn bè quốc tế đánh giá là hoàn thành xuất sắc hai nhiệm là phát triển kinh tế - xã hội và cơ bản thành công việc phòng, chống dịch covid-19, làm cho cả thế giới, nhất là nước Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, phải ngưỡng mộ, khâm phục.

Hơn 93  mùa xuân, thời gian quá ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc nhưng “pho sử vàng” 93  năm ấy đã khẳng định, đúc kết một chân lý “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Tự hào về Đảng quang vinh, chúng ta càng tin tưởng rằng, dưới ánh sáng của Nghị quyết của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, với những quốc sách đáp ứng sự kỳ vọng của tuyệt đại đa số Nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở  kiên định chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐCSVN tiếp tục lãnh đạo Nhân dân ta phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trí sáng tạo của con người Việt Nam, dân tộc ta sẽ “sánh vai với các cường quốc năm châu” trên con đường hội nhập và phát triển. Bởi vì, trên thế khắp thế giới này, không một dân tộc, một quốc gia nào, lại có sự gắn bó máu thịt keo sơn giữa Đảng và Nhân dân như ở dân tộc Việt Nam, mà người dân thường gọi Đảng Cộng sản bằng những từ hết sức gần gũi thân thương “Đảng ta, Đảng của mình”, giống như nhà thơ Tố Hữu đã viết rằng: “Đảng ở đâu cây nở thêm hoa/ Lúa thêm hạt mái nhà thêm ấm khói”. Chính vì thế, vô luận trong mọi hoàn cảnh nào, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN là không thể thiếu được, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và đã được ghi nhận trong Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đảng cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất mà không một ai, bất cứ ai, thế lực nào, dù có những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến mấy cũng không thể phủ nhận, bác bỏ được. Càng tự hào về Đảng, mỗi chúng ta không ngừng đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; thực hiện trách nhiệm nêu gương; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả, đồng bộ Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW Hội nghị Trung ương (khóa XIII) “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; gắn với Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với những luận cứ sắc bén, khoa học, sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới”.

 

NVH40 - Lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá đất nước

 

Thời gian qua, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước thường xuyên móc nối với các tổ chức phản động, chống phá ở nước ngoài, tìm kiếm sự can thiệp, tạo áp lực nhằm mục đích đòi xóa bỏ một số điều luật, trong đó có Ðiều 331 Bộ luật Hình sự về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".


Phản bác những luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, bảo vệ ổn định chính trị-xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh.


Trong tiến trình xây dựng nền văn minh, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Tùy theo tình hình, điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình để phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới và thực tiễn đất nước.


Tuy nhiên, thời gian qua nổi lên việc một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ.


Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.


Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta.


Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước.

 

NVH40 - Đập tan luận điệu xuyên tạc thành quả Cách mạng Tháng Tám

 

Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!). Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...

Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.

Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.

Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.

Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 37 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 32 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân - tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được./.

NVE40-CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN

 

            Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong bảo vệ, bảo đảm thực hiện nhân quyền, nhưng lại nổi lên những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền Việt Nam từ những tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội tại Việt Nam, thậm chí họ cố tình quy chụp tình hình “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ”, phủ nhận những thành quả đã đạt được trong việc thực thi các quyền con người cũng như tính ưu việt của chế độ chính trị, hạ thấp hình ảnh, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù vấn đề này đã được Việt Nam chứng minh bằng thực tiễn bảo đảm đúng, phù hợp với công ước, điều ước quốc tế nhưng trên trang “Thongluan-rdp”, “nhai lại” những luận điệu đó trong bài: “Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam trước giờ vẫn vậy”.

            Thực tế cho thấy không thể áp đặt nhân quyền theo khuôn mẫu của một quốc gia này đối với một quốc gia khác. Tuy cùng hướng đến mục tiêu tốt đẹp vì con người và cho con người nhưng các quốc gia có đặc điểm lịch sử, văn hóa, chế độ chính trị, trình độ phát triển khác nhau. Không có một mô hình nào là tuyệt đối về vấn đề nhân quyền và coi là hình mẫu để áp đặt lên quốc gia khác. Đồng thời, một quốc gia không có tư cách phê phán, chỉ trích quốc gia khác về vấn đề này theo định kiến của mình một cách vô căn cứ. Mỗi quốc gia - dân tộc đều có quyền tự lựa chọn con đường phát triển, thể chế chính trị của mình. Khoản 1, Điều 1 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 khẳng định “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”, nên mọi sự lợi dụng giá trị “dân chủ”, “nhân quyền” như là một khuôn mẫu để buộc quốc gia khác phải tuân thủ là sai trái. Hơn nữa, để giải quyết vấn đề nhân quyền, cần phải gia tăng đối thoại, hợp tác quốc tế, nâng cao sự hiểu biết, lòng tin lẫn nhau, bảo đảm tăng cường các quyền dân chủ, quyền con người; tạo cơ hội bình đẳng cho các dân tộc và cho con người ngày càng phát triển toàn diện. Bởi vậy các thế lực thù địch cho rằng do hồ sơ nhân quyền làm ảnh hưởng đến quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là phi lý - chỉ là suy diễn của một số kẻ thù địch.

            Ở Việt Nam đã thực thi tốt vấn đề nhân quyền. Nguyễn Nam cho rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam hiện nay so với hơn chục năm trước đến nay “vẫn vậy” và “tiếp tục bị chỉ trích là điều không lạ”. Để minh chứng cho luận điệu xuyên tạc chúng trích dẫn những “nhận xét tóm lược”, “nội dung” từ “hơn chục năm trước” là điều không thể chấp nhận được. Bởi, mọi đường lối, chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn hướng tới mục tiêu vì con người và các nhu cầu chính đáng của người dân; nâng cao mức sống của người dân cũng như đảm bảo công bằng xã hội. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các quyền dân sự và chính trị, về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về quyền trẻ em, Công ước không tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm…, ngày 11-10-2022, Việt Nam đã được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng và ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực trong bảo đảm quyền con người cho người dân cũng như tham gia tích cực thúc đẩy quyền con người trên bình diện quốc tế. Trong báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2023 được công bố trên ấn phẩm của Mạng lưới Giải pháp Phát triển bền vững của LHQ dựa trên số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65.

            Có thể khẳng định minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu vu cáo Việt Nam về vi phạm nhân quyền. Thành quả đạt được thông qua sự nỗ lực phấn đấu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam là không thể phủ nhận, mọi người dân Việt Nam cần đấu tranh với những luận điệu, chiêu trò, lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách hòng can thiệp vào công việc nội bộ và quyền tự quyết của Việt Nam./.

 

NVE40-ĐỐI NGOẠI QUỐC BIỆN PHÁP BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

 

            Như chúng ta đã biết, chính sách quốc phòng của Việt Nam mang đậm tính chất hòa bình, tự vệ, nhân văn, nhân đạo; kiên quyết, kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp đối thoại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; phát huy tương đồng, hóa giải bất đồng, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam luôn nhất quán, kiên định thực hiện nguyên tắc: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Điều đó khẳng định quyết tâm và đóng góp tích cực của Việt Nam cho hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới, được các nước tin tưởng, đánh giá cao; qua đó khẳng định vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

            Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng đã tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết rất tốt các vấn đề chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tạo nên thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng, góp phần tăng cường tiềm lực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

            Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với quân đội hơn 100 nước, trong đó có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 3 tổ chức vũ trang quốc tế của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO). Thiết lập quan hệ quốc phòng với tất cả các đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện với Lào, Campuchia, Cuba; đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, Nga, Ấn Độ... Đến nay, đã có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam; 20 nước kiêm nhiệm. Việt Nam đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và EU. Việt Nam chủ động đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul… Đặc biệt, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt cán bộ, nhân viên, với 4 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên Hợp Quốc, cử Đội Công binh đi làm nhiệm vụ tại Phái bộ An ninh lâm thời của Liên Hợp Quốc tại khu vực Abyei (UNISFA); cử 76 quân nhân tham gia cứu hộ, cứu nạn sau thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ.

            Năm 2022, Bộ Quốc phòng tổ chức rất thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam, góp phần tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; quảng bá năng lực công nghệ, vũ khí trang bị do Việt Nam sản xuất; đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài để sản xuất vũ khí, trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang và tìm hiểu xu hướng phát triển của công nghiệp quốc phòng trên thế giới. Triển lãm đã đón 52 đoàn khách quốc tế và lãnh đạo Bộ Quốc phòng của các nước; Quân đội 30 nước, cùng hơn 170 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham gia; đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tới tham quan. Sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đối ngoại quốc phòng góp phần rất quan trọng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, không để xảy ra xung đột, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

            Đại hội XIII của Đảng xác định, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn có nguy cơ bị đe dọa. Chính vì vậy, để thực hiện tốt kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa và nghiêm túc thực hiện tốt phương châm: Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Không ngừng đổi mới, tham mưu đúng, trúng với Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc; để có đối sách đúng đắn, kịp thời, giành thắng lợi trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; không để Tổ quốc bị động, bất ngờ./.

 

NVE40-ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÔNG DÂN

 

Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!).

Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...

Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.

Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.

Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.

Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được. Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng 8/1945 là trách nhiệm của mỗi công dân./.

 

NVD40 - Những luận điệu nham hiểm xuyên tạc thành quả và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

 

Đến hẹn lại lên, vào thời điểm kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Tám, các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn chính trị lại “nhai đi nhai lại” những luận điệu cũ rích cho rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là “sự ăn may”, rằng Việt Minh đã nhanh tay cướp lấy thành quả của Đồng minh chống phát xít, khi quân đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Luận điệu khác thì cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là do tinh thần dân tộc lãnh đạo, dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tốn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra. Hay có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng: thành quả Cách mạng Tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu; nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh(!)...

Những luận điệu nham hiểm, cũ mòn nêu trên không chỉ là của các thế lực thù địch mà còn của các phần tử phản động, cơ hội chính trị, suy thoái ở trong nước mặc dù đã thụ hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Tám trong mấy chục năm qua nhưng chúng lại phản bội, “đổi trắng thay đen”…

Mục đích của họ là phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi, chia rẽ trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn trở hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng, hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa…

Lịch sử đã khẳng định, để làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm và tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc”, đã nhất tề vùng lên, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ ách thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong điều kiện thời cơ “nghìn năm có một”, tuy nhiên, thời cơ đó chỉ được tận dụng và đạt thành quả với sự chuẩn bị chủ động, lâu dài, kỹ lưỡng cả thế và lực lượng cách mạng của Đảng.

Thành quả cách mạng vĩ đại này không chỉ là kết quả của 15 ngày tổng khởi nghĩa, không chỉ là kết quả của sự nghiệp cách mạng trong 15 năm (1930-1945) qua cao trào 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 mà còn là kết quả của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong gần một thế kỷ của nhân dân ta. Do đó, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự tổ chức lãnh đạo bài bản, khoa học, sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không phải là sự “ăn may” hay “cướp công” như các thế lực thù địch, phản động đã cố tình xuyên tạc, bóp méo.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân, đó là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, sáng tạo trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định (chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh…); là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; là tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, kể cả sự huy động kết tinh truyền thống anh hùng, trí tuệ, bất khuất của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước..., trong đó nguyên nhân quan trọng, tiên quyết là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo mục tiêu, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Do vậy, tuy những luận điệu cũ rích ấy không thể đánh lừa những người nghiêm túc, tỉnh táo, am hiểu lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan nhưng cũng cần nâng cao cảnh giác, bởi trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và mạng xã hội phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp - dân tộc về tư tưởng - văn hóa vẫn diễn ra rất phức tạp, quyết liệt trên phạm vi quốc tế và các thế lực thù địch, phản động vẫn không từ bỏ chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá độc lập dân tộc và CNXH trên thế giới và ở Việt Nam./.

NVD40 - Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

 

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

Phải khẳng định rằng, trong chính sách quốc phòng Việt Nam, chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.

Chúng ta chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế nhưng không liên minh về quân sự; hiên nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

 

NVD40 - Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

 

Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Họ căn cứ vào những điểm mới trong sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 để đưa ra luận điệu sai trái, suy diễn không có căn cứ và xuyên tạc nguyên tắc “bốn không”. Họ cho rằng: Việt Nam đưa ra cái “không” thứ 4 khi đang ở thế bị động và sẽ nghiêng vào một nước khác khi cần thiết. Rằng: “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là “tự trói tay chân mình” và không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại với xu thế toàn cầu hóa; “không sử dụng vũ lực” nghĩa là Việt Nam từ bỏ việc dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước. Đặc biệt, lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, họ đả kích, cho rằng nếu thực hiện chính sách quốc phòng như trên thì Việt Nam sẽ không thể giữ vững chủ quyền, không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc rồi tìm cách hô hào cổ súy tư tưởng dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, hoặc khối NATO, v.v.

Gần đây, trên trang blog Đối Thoại, đối tượng Nguyễn Quang Dy tán phát bài “Việt Nam và Mỹ trở về tương lai”, hay trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Việt Nam cần đề phòng tình huống xấu nhất từ căn cứ Trung Quốc ở Campuchia”, nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng “bốn không” và chuyến thăm dự kiến đến Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden; kêu gọi Việt Nam cần phải thay đổi quan điểm trong giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, chọn bên trong quan hệ quốc tế, kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, chính sách quốc phòng bốn không “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quan sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta trong thời bình. Chính sách này đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh đến từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Đây là những yếu tố rất quan trọng để bảo đảm hòa bình thực sự không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với các quốc gia khác trên thế giới.

Từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Việt Nam luôn thấu hiểu giá trị của hòa bình. Giá trị hòa bình đó cũng đồng thời là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính đã và đang hướng tới. Xuyên suốt lịch sử mấy nghìn năm và hiện nay, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, trong chính sách quốc phòng, từ lâu, Đảng, Nhà nước ta đã nhất quán thực hiện chủ trương “bốn không”. Chủ trương của Việt Nam hiện nay không có nghĩa là Việt Nam không quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước mà “tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.

Chính sách quốc phòng “bốn không” là thông điệp hòa bình và cũng là cam kết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi đến các quốc gia trên thế giới. Thấu hiểu giá trị của hòa bình, Việt Nam luôn mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng, trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam chưa từng và cam kết sẽ không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Chính sách quốc phòng “bốn không” là thông điệp hòa bình, đúng đắn, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, phức tạp, khó lường hiện nay. Vì vậy, chính sách quốc phòng “bốn không” là sự chủ động bày tỏ thiện chí, thái độ thẳng thắn của Việt Nam, xuất phát từ khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của nhân loại, chứ không phải vì “sự yếu kém” của an ninh, quốc phòng như các thế lực thù địch, chống phá đã rêu rao.

Ủng hộ chính nghĩa, vì hòa bình là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và được thể hiện trong chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thời cuộc và xu thế chung của lịch sử nhân loại. Quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước./.

 

NVC40 - ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM

 

“Đa nguyên chính trị” là một khuynh hướng xã hội học - triết học xuất hiện từ đầu thế kỷ XVIII. Khuynh hướng này tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. “Đa nguyên chính trị” tất yếu gắn với “đa đảng đối lập”, bởi một hệ thống chính trị đa đảng là hệ quả tất yếu từ “đa nguyên chính trị”. Ngày nay, khẩu hiệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trở thành công cụ tư tưởng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá các nhà nước xã hội chủ nghĩa và các trào lưu tiến bộ trên thế giới. Chúng cho rằng, chế độ chỉ có một đảng lãnh đạo là độc tài, là mất dân chủ, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự trì trệ, tiêu cực của xã hội. Chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới có thể mang lại một nền “dân chủ thực sự” và Việt Nam là một trong những quốc gia bị các thế lực thù địch chống phá rất quyết liệt về vấn đề này.

Các thế lực thù địch chống Việt Nam thường xuyên tuyên truyền luận điệu: “Ở quốc gia mà chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam thì không có dân chủ, sẽ đưa đất nước, dân tộc đi vào ngõ cụt”. Bằng nhiều hình thức, chúng tung ra hàng trăm, hàng nghìn luận điệu khác nhau, tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng sử dụng các trang mạng xã hội để tập trung đả phá hệ thống lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền, phá hoại việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chia rẽ nội bộ Đảng, đặc biệt trong thời điểm diễn ra đại hội Đảng các cấp và kiện toàn bộ máy nhân sự nhà nước ở Trung ương; kích động nhân dân, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nhằm tạo cơ hội cho các nước tư bản phương Tây dễ dàng thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Đưa ra các tuyên bố về tôn giáo, nhân quyền ở Việt Nam trái với thực tế để cho rằng chế độ một đảng lãnh đạo như ở Việt Nam đang bóp nghẹt “dân chủ”, làm cho nhân dân bị áp bức, bóc lột, gây ra tình trạng quan liêu, tham nhũng, làm cho đất nước đi vào “ngõ cụt”... Rõ ràng, các thế lực thù địch luôn tìm cách tấn công, nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích là thông qua hoạt động phá hoại tư tưởng để tác động, nhằm thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính tất yếu về sự ra đời và lãnh đạo cách mạng của Đảng, từ đó lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào con đường chống lại Đảng, hình thành nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng.


Thực tế đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữ địa vị lãnh đạo và được nhân dân giao cho trọng trách là Đảng cầm quyền. Đảng đứng ra nắm chính quyền không phải bằng những âm mưu chính trị, lật đổ để giành được và cũng không phải giống các chính đảng của giai cấp tư sản phương Tây giành được thông qua bầu cử, mà là kết quả của một quá trình đấu tranh vô cùng cam go, gian khổ, kể cả hy sinh xương máu của hàng triệu đảng viên và nhân dân mới có được.


Có thể thấy, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cả nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái nhưng lần lượt thất bại. Việc tìm kiếm con đường cứu nước của các chí sĩ tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... đều rơi vào bế tắc. Trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và chính Người đã có công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tiền đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc ra đời của Đảng Cộng sản. Cũng chính nhờ sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam mà phong trào công nhân và phong trào yêu nước có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dẫn tới sự hình thành các tổ chức cộng sản. Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn tiếp tục thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, nhưng cũng đặt ra một yêu cầu bức thiết rằng, cần phải hợp nhất ba tổ chức thành một tổ chức thống nhất để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Như vây, sự ra đời của Đảng là đòi hỏi khách quan của thực tế lịch sử lúc bấy giờ, không phải tự nhiên mà có, cũng không phải muốn là được. Đảng ra đời đáp ứng được khát vọng lớn lao của toàn thể cần lao, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Và cũng chỉ 15 năm sau ngày thành lập với khoảng 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo toàn thể nhân dân làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám lịch sử, lật đổ ách áp bức của thực dân phong kiến, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do. Sau đó, Đảng lại lãnh đạo nhân dân làm nên hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tạo ra những chiến thắng vang dội địa cầu và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của đất nước. Với đường lối đổi mới đúng đắn, Đảng đang lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước từ nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh, trở thành một quốc gia đang phát triển năng động, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, uy tín, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam cũng là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, văn hóa, xã hội có nhiều bước phát triển. Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam vẫn đang trên đà phát triển mạnh mẽ, vì thế không cần thiết phải thực hiện đa nguyên, đa đảng.

          Thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng các vấn đề như nhân quyền, dân chủ, dân tộc, tôn giáo để kích động người dân nhằm xuyên tạc tình hình các chính sách ở Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình, duy trì và nuôi dưỡng những mầm mống phản động chống đối Đảng, Nhà nước, cản trở việc hóa giải những mâu thuẫn, những vụ việc phức tạp nhằm mục đích cuối cùng là chuyển hóa chế độ của chúng ta. Vì vậy, đề nghị mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ vấn đề này để kịp thời đấu tranh, phản bác lại các quan điểm sai trái, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng, nhất là trên các nền tảng ứng dụng mạng xã hội hiện nay./.

 

 

 

 

NVC40 - NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH THÔNG QUA LỢI DỤNG VẤN ĐỀ “XÃ HỘI DÂN SỰ” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Những năm gần đây, khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện trên các diễn đàn, báo chí, truyền thông xã hội với tần suất ngày càng nhiều hơn. Sở dĩ được thảo luận nhiều, vì trong vòng hơn hai thập niên qua, “xã hội dân sự” được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước ta.


Hiện nay, vấn đề “xã hội dân sự” (XHDS) đã và đang được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Sau thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, hiện nay, các thế lực thù địch xem việc củng cố, thúc đẩy “XHDS” theo mô hình phương Tây là một hướng đi mới, là một trong những phương thức tác động cơ bản của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “XHDS” là tìm cách thúc đẩy sự xuất hiện các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng, hình thành “XHDS độc lập về chính trị”là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng ra sức cổ vũ cho hình thành ở Việt Nam một mô hình “XHDS độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước.

 

Hòng thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của “XHDS” để tác động vào hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân bằng nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng, cường điệu hóa vai trò của XHDS, cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động đến gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ đối ngoại. Các đối tượng chống đối nhân danh chiêu bài “XHDS”, “dân chủ”, “nhân quyền”... để tập hợp lực lượng, lập hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích dễ gây “ấn tượng” với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”,... 


Thủ đoạn mà các đối tượng chống đối sử dụng phổ biến hiện nay là thông qua các trang web, diễn đàn trực tuyến, nhất là mạng xã hội để công khai tổ chức, tuyên truyền, lừa bịp, lôi kéo quần chúng tham gia; sử dụng các phần mềm bảo mật để liên lạc, tổ chức huấn luyện, đào tạo trực tuyến cho thành viên; công khai viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập đảng chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật, đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự...


Ngoài ra, các đối tượng này còn tìm cách chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, lợi dụng các khuyết điểm trong quản lý đất đai, môi trường... để kích động khiếu kiện, tụ tập đông người, biểu tình, xuyên tạc tình hình, hạ uy tín cán bộ; thông qua các hoạt động này để tập hợp lực lượng, gây thanh thế, từng bước nhen nhóm và thành lập tổ chức chính trị đối lập... Tại các địa bàn chiến lược, các đối tượng chống đối đẩy mạnh xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo; kích động tư tưởng ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khơi gợi, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, tuyên truyền phát triển các tổ chức tôn giáo phi pháp, tụ tập “xưng vua”... 


Bên cạnh đó, dưới danh nghĩa đại diện các tổ chức “XHDS”, một số đối tượng chống đối đã tham gia các buổi điều trần ở nước ngoài, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đề nghị can thiệp trả tự do cho các đối tượng chống đối trong nước bị bắt do vi phạm pháp luật... Đặc biệt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận đảng viên, tình trạng yếu kém, sai phạm của một số cán bộ để thổi phồng, cường điệu hóa khuyết điểm, “hạ bệ” uy tín chính trị của Đảng, lôi kéo người dân tham gia các tổ chức mang danh nghĩa “XHDS” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, hướng lái hoạt động, chuyển hóa dần các tổ chức này khi chưa đủ điều kiện, thời cơ thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động, như triển khai dự án, tài trợ tài chính, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã đi sâu xâm nhập, tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam, kích động các tổ chức này thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước, cổ vũ quyền “tự do lập hội” theo tiêu chí phương Tây. Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn hỗ trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai.

Thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng những kẽ hở của luật pháp; khoa học công nghệ cũng như sự hậu thuẫn của các nước phương Tây để tiếp tục thành lập các hội nhóm nhằm tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng, kích động và tổ chức các hoạt động nhằm chống phá con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, mỗi chúng ta cần hiểu rõ về “Xã hội dân sự” cũng như bản chất của nó để nhận diện một cách chính xác nhất. Đồng thời, đưa ra các luận điểm, luận cứ nhằm phản bác lại các luận điệu sai trái, lệch lạc của các thế lực thù địch, phản động./.

 

NVB40 - ĐÂU PHẢI MỘT ĐẢNG “ĐẺ RA” THAM NHŨNG

 

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả PCTN của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc PCTN thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Mới đây, ngày 21/8/2023 trên trang facebook Việt Tân, đối tượng Nguyễn Phương Đông phát tán bài “Dịch bệnh, được gì và mất gì”, đối tượng Thái Hạo phát tán bài “Tham nhũng và giải pháp trị căn nguyên”, nội dung xuyên tạc công tác PCTN của Đảng, Nhà nước ta trong công tác phòng, chống dịch bệnh, kêu gọi thực hiện chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “tham nhũng là bản chất của chế độ một đảng lãnh đạo”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng  ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam".

Cần phải khẳng định rằng: Tham nhũng không chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Cụ thể, từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm (dựa trên dữ liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới, rủi ro tư nhân, các công ty tư vấn và các tổ chức khác). Đây là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hằng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, tham nhũng là vấn nạn chung của mọi quốc gia, chứ không thuộc bất cứ đất nước, hay bộ máy chính quyền nào.

Công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay của Đảng ta là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Do đó, với quan điểm trên, luận điệu xuyên tạc: “Phòng chống tham nhũng là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”… là hoàn toàn vô căn cứ.

Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng phát động, lãnh đạo đã thực sự trở thành phong trào, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá Đảng và Nhà nước./.

NVB40 - XUYÊN TẠC LỊCH SỬ LÀ CÓ TỘI VỚI DÂN TỘC

 

Hằng năm, khi cả nước đang được sống trong không khí sôi động, hào hùng kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thì trên mạng xã hội xuất hiện một số bài viết cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử một cách trắng trợn và lố bịch, phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại, kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, đưa người dân nô lệ, lầm than trở thành người chủ thực sự của đất nước.

Với luận điệu xuyên tạc lịch sử, các thế lực phản động cho rằng, thực chất Cách mạng tháng Tám là hành động cướp chính quyền từ Vua Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim, bởi chúng khảng định, Việt Nam đã độc lập từ ngày 11-3-1945, ngày mà vua Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) năm 1884 (?).

Thực chất, với mưu đồ thành lập ra bộ máy thống trị, phát xít Nhật để có kế hoạch dựng lên một Chính phủ bù nhìn theo mô hình quân chủ lập hiến, trong đó, Trần Trọng Kim là Thủ tướng và Bảo Đại là vua. Đồng thời, danh sách nội các và mọi hoạt động của Chính phủ này đều phải được sự đồng ý của phát xít Nhật.

Trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ngoài việc xác định kẻ thù mới và khẩu hiệu đấu tranh mới, Ban Chấp hành Trung ương còn dự báo thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Ngày 19-8, trong khi Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật Bản và làm chủ Mãn Châu thì tại Hà Nội, cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân. Ngay sau đó, các địa  phương trong cả nước lần lượt khởi nghĩa giành chính quyền thành công trong những ngày cuối tháng 8-1945. Ngày 2-9-1945, Nhật Bản chính thức ký các văn kiện chấp nhận đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, thì tại Vườn hoa Ba Đình lịch sử, lãnh tụ Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ những sự kiện lịch sử trên, có thể thấy rõ đó là quá trình chuẩn bị lâu dài của Đảng ta và việc dự đoán thời cơ đúng, trúng, để phát động Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Chính vì vậy, luận điệu cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng mà Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại - Trần Trọng Kim rõ ràng là muốn hạ thấp giá trị cuộc Cách mạng tháng Tám của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, là luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động cần được phê phán, đấu tranh để giữ gìn sự thật của lịch sử dân tộc.

Hay họ lu loa rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công thực chất là “cuộc đảo chính của cộng sản Việt Nam” hoặc hằn học cho rằng thắng lợi đó chỉ là “sự ăn may”. Vậy, sự thật có phải như họ xuyên tạc không? Họ tỏ ra thông thái, phân tích lại thời cuộc, rằng: “Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không phát động Cách mạng Tháng Tám và Toàn quốc kháng chiến thì chúng ta sẽ tránh được cuộc chiến tranh, tại sao không theo cách của nhiều nước sau này vẫn giành được độc lập, ít hao tổn xương máu!”.

Từ những vấn đề trên, một lần nữa khẳng định, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố. Ngoài bối cảnh thế giới có những chuyển biến mau lẹ, thuận lợi thì yếu tố chủ quan vẫn là cơ bản, quyết định. Đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, Cách mạng Tháng Tám diễn ra dưới hình thức tổng khởi nghĩa nhưng hầu như không có đổ máu. Đó là do Đảng ta đã lãnh đạo sử dụng bạo lực cách mạng một cách hợp lý, bao gồm cả bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị của toàn dân tộc và lực lượng vũ trang cách mạng, giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, trong đó đấu tranh chính trị là chủ yếu, làm nền cho đấu tranh vũ trang.

Những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch, phản động nêu ra đối với cách mạng tháng Tám không gì khác vẫn là nhằm phủ nhận những thành quả, ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của cuộc cách mạng và xa hơn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, từ đó phủ nhận toàn bộ sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta dưới dự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ nhận. Vì vậy, mọi mưu toan chống phá, sự suy diễn chủ quan, xuyên tạc, vu cáo về cuộc cách mạng này đều không có giá trị./.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...