Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2023

NVE40- CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

 

            Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam là cách làm, các biện pháp xảo trá, lừa lọc, có bản chất xấu xa của các thế lực thù địch nhưng được che đậy, bao bọc một cách tinh vi, làm cho người ta tin và làm theo. Vỏ bọc che đậy cho các hành vi, thủ đoạn xấu xa mà các thế lực thù địch thường dựa vào là các chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”, nhất là những vấn đề do lịch sử để lại; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; hay thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương; những đặc điếm về văn hoá, đời sống tâm lý của nhân dân các dân tộc thiểu số... Nghĩa là các thế lực thù địch triệt để tận dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể, đế thực hiện những biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống, coi đó là điểm xuất phát trong thực hiện mưu đồ lớn và lâu dài của chúng.

            Thực tế đã những luận điệu trên hoàn toàn sai trái, thiếu căn cứ. Thực tế cho thấy trong những năm qua các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi về mọi mặt. Các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Cả nước hiện có 5.468 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 49% tổng số xã toàn quốc. Khoảng 87% xã dân tộc thiểu số phân bố ở khu vực nông thôn. Tính đến ngày 01/4/2019, dân số của 53 dân tộc thiểu số khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Từ trước đến nay, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Trong từng quyết sách về chính sách dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, phát triển khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa nói riêng, việc triển khai các Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Chương trình 134 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo ở vùng sâu, vùng xa… đã đem lại hiệu quả thiết thực. Đó chính là thực hiện xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; tôn trọng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa; xây dựng cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên các cấp trong sạch vững mạnh… để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Các cơ quan ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cùng cấp ủy, chính quyền sở tại đã triển khai các nhóm giải pháp nhằm từng bước tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đặc thù của vùng đồng bào dân tộc nhằm thu hẹp khoảng cách vùng, miền. Cùng với đó, cổ vũ, động viên tinh thần nỗ lực, phấn đấu vươn lên của đồng bào, để không chỉ từng bước nâng cao chất lượng đời sống mà còn góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những điều đó đã khẳng định sự quan tâm, chăm lo của hệ thống chính trị các cấp đến đồng bào các dân tộc thiểu số, chứ không phải là những hoạt động đơn lẻ, lén lút của cái “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao với luận điệu “nâng cao trách nhiệm của chính quyền”.

            Vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn được phát huy và bảo đảm. Thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, qua các thời kỳ cách mạng, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngày càng tăng về số lượng, chất lượng, ngày càng khẳng định rõ vai trò là hạt nhân trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong thời kỳ đổi mới, rất nhiều cán bộ, đảng viên, đồng bào người dân tộc thiểu số đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Với sự quan tâm đào tạo và bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của các cá nhân, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số ngày càng được nâng cao chất lượng, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị ngày càng cao. Trong bộ máy Đảng, Nhà nước các nhiệm kỳ, nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số giữ trọng trách lãnh đạo đất nước trên cương vị Tổng Bí thư, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng và tương đương…. Đại hội Đảng các cấp trong năm 2020 cũng đã khẳng định nhất quán chủ trương về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương có 389 đồng chí cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%. Tỉnh Cao Bằng có tới 75,5% tỉnh ủy viên là người dân tộc thiểu số. Ủy viên ban thường vụ người dân tộc thiểu số là 113 đồng chí, đạt tỷ lệ 11,86%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,51%. Bí thư cấp ủy người dân tộc thiểu số là 06 đồng chí, đạt tỷ lệ 9,23% ....

            Như vậy, những âm mưu chia rẽ các dân tộc thiểu số chỉ là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch đối với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc với các dân tộc thiểu số. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

 

NVE40- BIỆN PHÁP AN TOÀN KHI SỬ DỤNG MẠNG

 

            Mạng là kênh giúp lan truyền, phổ biến rộng rãi các thông tin, phản hồi, nắm bắt và định hướng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bên cạnh mặt tích cực cần khai thác, mạng cũng đang có những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ mặt trái của nó đến công tác truyền thông, định hướng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Vì vậy để bảo đảm an toàn an ninh mạng trong thời gian tới mỗi chúng ta cấng

            Thứ nhất, lựa chọn các kênh mạng phù hợp với nhu cầu, sở thích, đúng với mục đích khai thác và sử dụng thông tin phục vụ công tác, chuyên môn nghiệp vụ, đời sống gia đình và của riêng mình. Vì vậy, chỉ nên lựa chọn những nền tảng mạng xã hội phổ biến, dễ khai thác, dễ sử dụng và có tính bảo mật cao như facebook, zalô, youtube, ... Đây là những nền tảng mạng xã hội phổ biến, dễ khai thác, sử dụng, được đông đảo cán bộ, chiến sĩ, người dân, cơ quan, đơn vị lựa chọn như kênh giao tiếp, kết nối chủ đạo để liên hệ với nhau trong cơ quan, đơn vị và xã hội với ý thức trách nhiệm cao. Cần tránh sử dụng các mạng xã hội không được coi trọng ở khâu bảo mật, dễ lộ, lọt, mất thông tin cho dù dễ sử dụng. Không nên sử dụng các mạng xã hội chứa đựng nhiều thông tin, bài viết, video clip xấu, độc, không phù hợp với công tác học tập, công tác chuyên môn và truyền thông; đã đươc đơn vị cảnh báo.

            Thứ hai, tăng cường bảo vệ thông tin chính thống, bảo mật thông tin đường truyền mạng, bảo mật cổng thông tin, trang thông tin điện tử, nhất là báo điện tử. Cùng với đó, đề xuất các giải pháp, biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng tại gia đình, cơ quan, đơn vị và cá nhân; tạo dựng các “tường lửa” để phòng, chống tin tặc tấn công gây hậu quả xấu hoặc lấy cắp thông tin, nhất là thông tin mật, thông tin nội bộ và tin mật cấp quốc gia. Không được phép để rò rỉ hoặc phát tán thông tin về công tác tổ chức, cán bộ và các thông tin về tác chiến, bảo vệ, bảo mật các bí mật quân sự, quốc gia.

            Thứ ba, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, phụ trách mạng xã hội, cổng thông tin điện tử, báo điện tử. Để phòng tránh “từ sớm, từ xa” các sai sót, khuyết điểm; bảo đảm kết nối thông tin truyền thông, sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết thực hơn, nhất thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, giúp họ không chỉ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng mà còn giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng mạng xã hội. Có như vậy, họ mới tự tin, đủ trình độ, phương pháp xây dựng, chủ trì và duy trì các nền tảng xã hội phù hợp với đơn vị, phù hợp với tác chiến trong điều kiện sử dụng vũ khí công nghệ cao; giúp cán bộ, chiến sĩ và người dân lựa chọn và sử dụng mạng xã hội hiệu quả.

            Mặt khác, cần thiết kế, thi công các tin, bài ngắn gọn, có hình ảnh đẹp, chứa đựng cảm xúc bởi một bộ phận cư dân mạng chưa có điều kiện quan tâm và hiểu sâu các vấn đê lý luận trừu tượng. Vì vậy, các nền tảng mạng xã hội chính thống cần kết hợp đưa lên mạng xã hội những thông tin lý luận chính trị ngắn gọn gắn với các sự kiện, sự việc thời sự, những câu chuyện giản dị, người thật, việc thật, dễ xem, dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ học tập và làm theo người tốt, việc tốt, gương điển hình tiên tiến. Đồng thời, tăng cường kích thích thông tin thị giác như hình ảnh, các video clip đẹp, các đồ họa sinh động; đặc biệt là hình thức live tream đang được công chúng mạng ở Việt Nam yêu thích bởi tính hấp dẫn, trực quan của nó. Đây là một trong những phương cách hữu hiệu nhất để giảm bớt sự phân tán tâm thức, tập trung thời gian, sự quan tâm của cư dân mạng vào các thông tin xấu, độc, có hại; chỉ hướng đến các thông tin chính thống, có tác dụng tốt.

            Thứ tư, chủ động, tích cực đề xuất các chủ trương, giải pháp, biện pháp mới, thiết thực, hiệu quả để phát huy vai trò của các kênh truyền thông chính thống, nhất là các báo, đài lớn, có uy tín, có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội và trong quân đội để định hướng nhận thức, nhất là phát ngôn, viết bài, xây dựng các video clip, tiếp nhận thông tin, lan truyền thông tin chính thống, tích cực. Đồng thời, trừng trị và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm thông tin sai trái, tuyên truyền sai sự thật, phát ngôn bừa bãi, thiếu ý thức xây dựng, lan truyền các tin giả, video clip có nội dung xấu, độc, phản động, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

            Thứ năm, kiên quyết đấu tranh, xử lý một số cơ quan báo đài, một số nhà báo, người dân nhân danh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, tệ nạn xã hội để đăng tải các tin bài, video clip với các thông tin, hình ảnh chưa được kiểm chứng, những ý kiến cá nhân trái chiều, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tổn hại đến uy tín, vị thế của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội, Công an, gây hại cho lợi ích quốc gia - dân tộc.

            Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân hãy tỉnh táo khi sử dụng mạng, thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử và những điều quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm, có thái độ, hành vi và phát ngôn đúng mực, góp phần đấu tranh vạch mặt những kẻ xấu, ném đá giấu tay, tung tin nhảm nhí, tràn lan trên mạng xã hội. Có làm như vậy, chúng ta mới hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của tin giả, video clip xấu, độc, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

 

NVD40 - Phủ nhận luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch về vấn đề dân tộc Khmer ở Việt Nam.

 

   Thời gian vừa qua, trước dịp Tổng thống Mỹ  có chuyến thăm chính thức Việt Nam; Ngày 24/8/2023, trên trang blog Đối thoại phát tán bài “Người Khmer Krom biểu tình trước toà Đại sứ Việt Nam tại Washington DC”; trang facebook RFA cũng có bài đăng “Thúc ép nhân quyền Việt Nam trước chuyến thăm của Tổng thống Biden”. Trước tình hình đó, ngày 31/8/2023, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định: ““Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam"; Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước.

Sự thật lịch sử cho thấy, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, cộng đồng các dân tộc được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Không chỉ riêng Việt Nam, mà ở rất nhiều quốc gia, vấn đề dân tộc luôn là chủ đề nóng được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, từ khi Đảng ra đời đến quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam; Đảng, Nhà nước luôn coi trọng vấn đề bình đẳng các dân tộc, điều này được thể hiện trong các văn kiện, Cương lĩnh của Đảng. Cụ thể, Điều 5 Hiến pháp 2013 ghi rõ:

1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Thực hiện nhất quán đường lối đó, Đảng, Nhà nước đã có nhiều văn bản, chỉ thị ban hành phát triển Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long, thời kỳ 2011 - 2020” nhằm xây dựng tổng thể các chính sách ưu đãi riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm là đồng bào Khmer giai đoạn 2014 - 2020 và có Chiến lược phát triển toàn diện đối với đồng bào dân tộc Khmer đến năm 2030, định hướng đến năm 2050; Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới...

Việc thể chế hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được Chính phủ, các ban, bộ, ngành và các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer thực hiện nghiêm túc, cụ thể, phù hợp với sự phát triển chung của cả vùng và từng địa phương. Đến nay, Chính phủ ban hành 100 văn bản thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đang triển khai thực hiện trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có 58 chính sách chung có liên quan đến chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và 42 chính sách riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số; chủ yếu là các quyết định phê duyệt các chính sách, dự án quan trọng, toàn diện đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, đối với đồng bào Khmer nói riêng.

Từ dó, chúng ta có thể nhận thấy rằng, những luận điệu của các thế lực về vấn đề dân tộc ở Việt Nam, nhất là đối với đồng bào dân tộc Khmer là hoàn toàn bịa đặt, hòng xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.

NVD40 - Làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

 

Một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động là lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động, lôi kéo tín đồ và người dân gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo cớ cho hành động can thiệp từ bên ngoài, hòng thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam.

Đặc biệt, tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, chúng thường gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lập ra các tổ chức núp bóng tôn giáo để thâm nhập, tập hợp, lôi kéo đồng bào. Đáng tiếc, chiêu trò lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để thực hiện âm mưu chống phá của chúng lại được một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam, trong đó có Ủy ban tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) hoặc một số trang mạng cổ súy, tiếp tay. 

Theo thống kê, đến năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với khoảng 27 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc, trên 29 nghìn cơ sở thờ tự… Hằng năm, có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia và trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự.

Vụ tấn công trụ sở ủy ban nhân dân xã và người dân bằng súng và vũ khí tự chế tại tỉnh Đắk Lắk ngày 11/6 vừa qua đã trở thành tâm điểm để các thế lực thù địch “nhảy vào” mổ xẻ, “chụp mũ” lý do tôn giáo, dân tộc. Đài RFA liên tục phát phỏng vấn những đối tượng tự xưng là người dân tộc H’mong, người Thượng tự nhận là “nạn nhân bị đàn áp tôn giáo” phải bỏ chạy lưu vong hoặc dẫn lời những nhân vật không tên tuổi với những chức danh như “nhà thầu xây dựng ở Tây Nguyên”...

Thực tế cho thấy những hành động của người dân Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung sau vụ việc vừa qua chính là câu trả lời đanh thép vạch trần và bác bỏ những luận điệu phản động, xảo trá nói trên. Đồng bào đã trở thành “thành lũy vững chắc” hỗ trợ tích cực lực lượng công an trong tố giác, vây bắt các đối tượng, vận động người thân ra đầu thú để hưởng chính sách khoan hồng. Nhiều người dân quyên góp lương thực, thực phẩm, nước uống, nấu hàng trăm suất ăn mỗi ngày để gửi đến các cán bộ, chiến sĩ đang căng mình ngày đêm làm nhiệm vụ. Những việc làm cụ thể, thiết thực của người dân Đắk Lắk đã khẳng định tinh thần đoàn kết, tình cảm quân dân một lòng, quyết tâm đấu tranh với những âm mưu chống phá của những thế lực thù địch, bảo vệ bình yên cho buôn làng.

Có thể khẳng định rằng, trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên đã đạt nhiều kết quả khá toàn diện, với quy mô nền kinh tế năm 2020 gấp khoảng 14 lần năm 2002. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2002 - 2020 đạt 7,98%, cao nhất trong các vùng, trong khi thu nhập bình quân đầu người gấp 10,6 lần. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt; khoảng 2,3 triệu tín đồ theo các tôn giáo khác nhau ở Tây Nguyên được đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; được giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp; các tôn giáo được khuyến khích và tạo điều kiện tham gia quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật, đồng thời nghiêm cấm hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Những luận điệu vu khống, bóp méo về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam càng làm lộ rõ bản chất xảo trá, âm mưu thâm độc của các tổ chức phản động, thù địch như BPSOS, Việt Tân…, lợi dụng tôn giáo để kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là những thủ đoạn cần phải vạch trần, lên án và ngăn chặn kịp thời. Việc USCIRF và một số hãng truyền thông phương Tây đưa ra đánh giá sai lệch, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo của Việt Nam chẳng khác nào hành động “hà hơi”, "tiếp sức" cho những đối tượng phản động núp dưới vỏ bọc "tự do tôn giáo” để thực hiện hành vi chống phá, khủng bố.

 

NVD40 - Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc

 

Những năm qua, công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS); cổ vũ, động viên họ thực hiện chính sách; đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội... Trong bối cảnh hiện nay, công tác này càng cần được quan tâm và có những giải pháp kịp thời để nâng cao chất lượng nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống đồng bào nhanh và hiệu quả hơn nữa.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn chú trọng đến vùng đồng bào các dân tộc, miền núi và đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối về vấn đề dân tộc. Những chủ trương, đường lối mới về vấn đề dân tộc được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội, nhất là vùng đồng bào DTTS, được đồng bào các dân tộc đón nhận, ủng hộ và tích cực tổ chức thực hiện; đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng. Đặc biệt, giai đoạn từ năm 2010 đến nay, công tác thông tin, tuyên truyền được đầu tư mạnh mẽ, có nhiều lực lượng tham gia từ đội ngũ cán bộ cơ sở đến đội ngũ già làng, trưởng bản, người uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo; từ bộ đội, công an đến giáo viên, nhân viên y tế ở cơ sở.

Với nhiều loại hình tuyên truyền đã giúp hầu hết người dân ở vùng đồng bào DTTS có điều kiện tiếp cận với các loại hình báo chí, đọc sách, nghe đài, xem tivi, đọc báo điện tử, trang thông tin điện tử trên máy tính hoặc điện thoại thông minh. Hệ thống đài truyền thanh cấp huyện và cấp xã bên cạnh việc tiếp sóng đài trung ương, đài tỉnh còn có chương trình phát thanh riêng, phát ngày 2 đến 3 lần vào sáng sớm, trưa và chiều tối, cung cấp nhiều thông tin thiết yếu đến đồng bào; phát huy vai trò là phương tiện, công cụ hữu hiệu phục vụ hoạt động thông tin, tuyên truyền ở cơ sở; góp phần phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Chính sách hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng mạng lưới viễn thông hiện đại và cung cấp các dịch vụ Internet công ích đến với người dân, hỗ trợ đầu thu kỹ thuật số cho các hộ nghèo, cận nghèo... đã góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông và nâng cao mức thụ hưởng văn hóa cho đồng bào DTTS.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như:

Hiệu quả cung cấp, phổ biến thông tin đến vùng đồng bào DTTS của cơ quan báo chí, truyền thông hiện nay chưa cao. Các tin, bài, chương trình phát thanh, truyền hình phản ánh về đồng bào DTTS tăng về số lượng nhưng chất lượng nội dung còn chưa phong phú. Hình ảnh đồng bào DTTS xuất hiện trên báo chí, truyền thông đa số phần nhiều hình ảnh nghèo đói, lạc hậu, thiếu hiểu biết về pháp luật.

Việc tuyên truyền, thuyết phục của một số già làng, trưởng bản, người có uy tín, tuyên truyền viên cơ sở chưa phát huy được hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan như panô, áp phích, khẩu hiệu, băng đĩa, phim ảnh… còn ít được áp dụng.

Để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách; chính vì vậy, mọi quyết định lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống của đồng bào DTTS, phù hợp nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS thì chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả.

Thứ hai, công tác tuyên truyền cần bám sát thực tiễn đời sống của đồng bào; các cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường đưa phóng viên, biên tập viên, cán bộ làm truyền thông xuống cơ sở, thâm nhập thực tế để tìm hiểu, khai thác thông tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, phát hiện những mô hình hay, nhân tố mới, điển hình tiên tiến để tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng, hướng dẫn đồng bào học hỏi, vận dụng linh hoạt trong lao động, sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân. Có như vậy mới có thể làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào các DTTS.

Thứ ba, nội dung tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng đến đồng bào DTTS cần phải ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào, phù hợp bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của từng DTTS để đồng bào dễ vận dụng, làm theo. Hình thức thể hiện phải hấp dẫn, lôi cuốn; các tranh, ảnh phải rõ chủ đề, bố cục chặt chẽ, chú thích đầy đủ các thông tin cần thiết.

Thứ tư, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ tuyên giáo, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp và sự hiểu biết về phong tục, tập quán của đồng bào DTTS phải được tổ chức thường xuyên, từ đó khơi dậy tính sáng tạo trong mỗi tác phẩm báo chí, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung.

Thứ năm, chú trọng đấu tranh với các thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn đời sống đồng bào DTTS; nâng cao nhận thức, ý thức nhằm tăng cường sức mạnh, sự đoàn kết của cán bộ, đảng viên đồng bào DTTS trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc./.

 

NVB40 - NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BẢO ĐẢM AN TOÀN, AN NINH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY.

 

Từ đầu thế kỷ 21, thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là cuộc cách mạng gắn liền với sự phát triển của không gian mạng, hợp nhất công nghệ vật lý, kỹ thuật số và sinh học, kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể, làm thay đổi căn bản cách thức con người tạo ra sản phẩm, từ đó tạo nên “cuộc cách mạng” về tổ chức các chuỗi sản xuất - giá trị.

Sự kết nối và tương tác thông qua Internet đã mở ra một kỷ nguyên mới thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội của nhân loại. Không gian mạng đã trở thành một bộ phận cấu thành và đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng xã hội thông tin và kinh tế tri thức. Do vậy, phát triển và làm chủ không gian mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của nước ta hiện nay.

Bên cạnh những lợi ích to lớn mà không gian mạng đem lại, nước ta cũng phải đối mặt với các nguy cơ, như: Chiến tranh mạng, gián điệp mạng, tấn công mạng, tội phạm mạng và nhiều vấn đề phức tạp mới. 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, tội phạm mạng gia tăng hoạt động tấn công mạng nhằm thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật nội bộ, chiếm quyền điều khiển, phá hoại hệ thống mạng thông tin; sử dụng Internet, nhất là các trang mạng xã hội với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm gây chia rẽ nội bộ, xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia. Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ trên không gian mạng của các thế lực thù địch diễn ra với quy mô, cường độ ngày càng lớn, có trọng tâm, trọng điểm; sử dụng các trang mạng facebook Việt Tân, blog Việt Nam Thời Báo liên tục đăng tải các bài viết có nội dung xấu, độc hại, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tổ chức các chiến dịch công kích, bôi nhọ nhằm hạ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước...

Trước tình hình trên, Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật và giải pháp thúc đẩy ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong các lĩnh vực gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia trên không gian mạng; xây dựng không gian mạng an toàn, trở thành nguồn lực mạnh mẽ để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đặc biệt, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013 về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Ngày 14/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ chính phủ điện tử đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (Đề án). 

Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạngThực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5/9/2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.  

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Như vậy, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng. Vì vậy, công tác nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia, tội phạm mạng được tiến hành khẩn trương, có hiệu quả. Việc hướng dẫn, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ trên không gian mạng được chú trọng. Công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được tăng cường và đạt được những thành tựu nhất định.

NVB40 - NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BẢO ĐẢM AN TOÀN, AN NINH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY.

 

Từ đầu thế kỷ 21, thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là cuộc cách mạng gắn liền với sự phát triển của không gian mạng, hợp nhất công nghệ vật lý, kỹ thuật số và sinh học, kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể, làm thay đổi căn bản cách thức con người tạo ra sản phẩm, từ đó tạo nên “cuộc cách mạng” về tổ chức các chuỗi sản xuất - giá trị.

Sự kết nối và tương tác thông qua Internet đã mở ra một kỷ nguyên mới thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội của nhân loại. Không gian mạng đã trở thành một bộ phận cấu thành và đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng xã hội thông tin và kinh tế tri thức. Do vậy, phát triển và làm chủ không gian mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của nước ta hiện nay.

Bên cạnh những lợi ích to lớn mà không gian mạng đem lại, nước ta cũng phải đối mặt với các nguy cơ, như: Chiến tranh mạng, gián điệp mạng, tấn công mạng, tội phạm mạng và nhiều vấn đề phức tạp mới. 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, tội phạm mạng gia tăng hoạt động tấn công mạng nhằm thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật nội bộ, chiếm quyền điều khiển, phá hoại hệ thống mạng thông tin; sử dụng Internet, nhất là các trang mạng xã hội với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm gây chia rẽ nội bộ, xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia. Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ trên không gian mạng của các thế lực thù địch diễn ra với quy mô, cường độ ngày càng lớn, có trọng tâm, trọng điểm; sử dụng các trang mạng facebook Việt Tân, blog Việt Nam Thời Báo liên tục đăng tải các bài viết có nội dung xấu, độc hại, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tổ chức các chiến dịch công kích, bôi nhọ nhằm hạ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước...

Trước tình hình trên, Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật và giải pháp thúc đẩy ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong các lĩnh vực gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia trên không gian mạng; xây dựng không gian mạng an toàn, trở thành nguồn lực mạnh mẽ để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đặc biệt, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013 về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Ngày 14/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ chính phủ điện tử đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (Đề án). 

Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạngThực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5/9/2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.  

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Như vậy, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng. Vì vậy, công tác nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia, tội phạm mạng được tiến hành khẩn trương, có hiệu quả. Việc hướng dẫn, kiểm tra công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ trên không gian mạng được chú trọng. Công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được tăng cường và đạt được những thành tựu nhất định.

NVB40 - NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” chống phá Đảng và Nhà nước ta thông qua việc họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật về “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” ở Việt Nam trên các trang mạng Internet, mạng xã hội Facebook. Ngày 26/8/2023, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Hội thánh của Đức Chúa Trời được cấp giấy chứng nhận sinh hoạt tôn giáo”; trên trang blog Đối Thoại tán phát bài “Tưởng niệm nạn nhân của hành vi bạo hành vì niềm tin và tôn giáo”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo; vu cáo chính quyền “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo; đồng thời kích động đấu tranh đòi tự do tôn giáo.

 

Có thể khẳng định, chưa bao giờ quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” ở Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm như hiện nay. Các tôn giáo và tổ chức tôn giáo liên tục được công nhận tư cách pháp nhân, số lượng không ngừng tăng lên, mức độ đa dạng tôn giáo ở Việt Nam được xếp hạng nhóm đầu thế giới. Quyền tự do tôn giáo được bảo đảm ngay cả đối với những người bị giam giữ; những người nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập ở Việt Nam cũng được hưởng quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” một cách đầy đủ. Các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo đều được phép tham gia vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội khác.


Điều đó cho thấy nhận thức tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đối với sự nghiệp đổi mới và công cuộc xậy dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, thể hiện qua các Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị (Khóa VI) về “tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02/7/1998 của Bộ Chính trị về “công tác tôn giáo trong tình hình mới”; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; và gần đây nhất, Đại hội XIII xác định: “Tôn giáo là một nguồn lực xã hội”; tiếp tục phát huy vai trò, tác động tích cực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đã đi vào đời sống và phát huy tác dụng rõ rệt. Đến nay, đời sống của đồng bào có đạo và không có đạo ngày càng được cải thiện; hoạt động tôn giáo phát triển theo chiều hướng tích cực, góp phần nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tôn giáo không ngừng được cải thiện... Vì vậy, không có việc Đảng và Nhà nước ta “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo. Mọi hành động chống phá, lợi dụng “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần bị lên án, đấu tranh và xử lý nghiêm theo pháp luật. Việc chủ động ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam vừa là nhiệm vụ trọng tâm, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, đồng thời là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của cả hệ thống chính trị.

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

NVH40 - “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên hiến pháp và pháp luật” - luận điệu vô căn cứ cần đấu tranh bác bỏ

 

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý trong đó có luận điệu cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”. Đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý, điều hành - Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với  Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ đã cố tình đánh tráo khái niệm một cách thô thiển giữa “nhà nước pháp quyền” nói chung với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền tư sản”. Chúng ta đều biết, trong lịch sử xã hội, nhà nước nào cũng mang bản chất của giai cấp nhất định, do giai cấp cầm quyền lãnh đạo, chi phối. Đơn cử như, nhà nước ở các nước tư bản hiện nay đều do một đảng, hay liên minh đảng cầm quyền, lãnh đạo, nhưng dù có liên minh nhiều đảng lãnh đạo thì bản chất của nhà nước vẫn do giai cấp cầm quyền chi phối là chủ yếu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tất yếu mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước và xã hội thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước khác hẳn về chất so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử - nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Như vậy, họ đã cố tình cắt xén vấn đề cốt lõi nhất của nhà nước là quyền lực thuộc về nhân dân trong bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên lập trường giai cấp công nhân, với đường lối đúng đắn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn bảo đảm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trong đó có cả nhiệm vụ xây dựng hiến pháp và pháp luật.

Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền sau khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo đó, nội dung cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội như một tất yếu lịch sử; là sự lựa chọn của lịch sử. Phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển của đất nước và toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị. Điều đó đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”1. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”, về thực chất, các thế lực thù địch đã cố ý xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị, phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội là chuyên quyền, độc đoán, vi phạm dân chủ”. Đó là sự bịa đặt vô căn cứ, bởi trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân và là một bộ phận của hệ thống ấy. Về cơ chế vận hành, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ”. Cơ chế này xác định rõ vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, thành tố của hệ thống chính trị và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố với nhau đảm bảo cho sự vận hành thông suốt của hệ thống chính trị, thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ thực sự thuộc về Nhân dân. Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; các tổ chức đảng, đảng viên không đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Đảng kiểm tra các tổ chức của Đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng trên thực tế. Hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, chứ không có cái gọi là “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”.

Ở một góc nhìn khác, luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” của các thế lực thù địch đã công khai phủ nhận sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất, họ tạo cớ gây mâu thuẫn, chia rẽ quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa Nhà nước với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”2. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Thực tiễn hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng và 78 năm cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”3.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

NVH40 - Nâng cao nhận thức của người dân về chuyển đổi số

 

Muốn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, trước hết cần phải nâng cao nhận thức của người dân về chuyển đổi số, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa. Cùng với đó, là những yếu tố về công nghệ, phương tiện, kỹ thuật...

Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tất cả các bộ, ngành, địa phương đã kiện toàn Ban Chỉ đạo chuyển đổi số do người đứng đầu làm Trưởng ban. Công tác hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về chuyển đổi số ở địa phương được quan tâm chỉ đạo, có trọng tâm, hiệu quả hơn.

Điều đó cho thấy, nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số ở tất cả các cấp, các ngành và địa phương đã và đang có chuyển biến tích cực, đi vào thiết thực. Ở những thành phố lớn, như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... thì công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chuyển đổi số có nhiều thuận lợi hơn so với một số địa phương ở vùng sâu, vùng xa.

Nếu như cách đây khoảng một năm về trước, chuyển đổi số là cụm từ khá xa lạ với người dân trên địa bàn khu phố Păng (thị trấn Sơn Lư, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa) thì đến nay, người dân đã cảm nhận được lợi ích và hiệu quả của chuyển đổi số mang lại. Điều này có đóng góp không nhỏ của công tác truyền thông.

Hệ thống đài truyền thanh cơ sở đã tuyên truyền, phổ biến để người dân biết và tham gia, hưởng ứng nhiệt tình trong quá trình thực hiện chuyển đổi số và người dân thấy rằng chuyển đổi số giải quyết các vấn đề của xã hội vì một cuộc sống tốt đẹp hơn. Thị trấn Sơn Lư được thành lập trên cơ sở hợp nhất thị trấn Quan Sơn và xã Sơn Lư cũ, có quy mô 11 khu phố và hơn 1.500 hộ dân.

Với mục tiêu hoàn thành chuyển đổi số giai đoạn một tại Quan Sơn, ngay từ đầu tháng 9, trên cơ sở hướng dẫn của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh và tham mưu của Phòng Văn hóa huyện, VNPT Quan Sơn, sự quyết tâm của lãnh đạo Ủy ban nhân dân thị trấn Sơn Lư, kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn một đã được vạch ra với các bước cụ thể, như: Tổ chức tập huấn, tuyên truyền mục đích, ý nghĩa, nội dung của chuyển đổi số đến từng người dân; khảo sát hiện trạng các chỉ số chuyển đổi số tại địa bàn thị trấn; phân loại, tổ chức triển khai các chương trình chuyển đổi số cho các nhóm đối tượng; đề xuất lộ trình đầu tư, triển khai các chương trình chuyển đổi số trọng điểm; đánh giá, tổng kết kết quả chuyển đổi số giai đoạn một.

Khu phố Păng là khu phố thứ sáu trong số 11 khu phố được Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số thị trấn Sơn Lư phối hợp với VNPT tại địa phương triển khai chương trình tập huấn. Người dân trên địa bàn đồng tình, hưởng ứng với mong muốn các hoạt động chuyển đổi số sẽ đi vào đời sống, sinh hoạt, góp phần kéo gần khoảng cách giữa các vùng, miền.

Mường Nhé là một huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Điện Biên. Huyện Mường Nhé có 11 đơn vị hành chính xã, 110 bản, tổ dân cư, trong đó có sáu xã biên giới, 8.599 hộ, 47.229 nhân khẩu, với 10 dân tộc cùng sinh sống. Tính đến nay toàn huyện có hai bưu cục, 11 điểm bưu điện-văn hóa xã.

Theo báo cáo, đến cuối năm 2008 toàn huyện có 1.386 máy điện thoại, đạt 0,2 máy/100 dân. Tổng số xã có máy điện thoại đến trung tâm xã là 11 xã, chiếm 100% tổng số xã trên toàn huyện. Xuất phát điểm thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn thiếu và chưa được đầu tư đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển...

Thế nhưng, Đảng bộ, chính quyền đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, nhất là tăng cường công tác nội chính, cải cách hành chính; xây dựng chính quyền số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông theo hướng công khai minh bạch, kịp thời tạo sự đồng thuận trong xã hội.

Bí thư Huyện ủy Mường Nhé, Nguyễn Quang Hưng cho biết: Công tác xây dựng chính quyền số, tổ chức bộ máy được quan tâm; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức về công nghệ thông tin được bảo đảm. Chúng tôi đã tiến hành mở các lớp tập huấn công nghệ thông tin nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và hướng dẫn cài đặt các phần mềm mở, phần mềm ứng dụng cho đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức cho các xã, huyện, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức thành thạo trong việc đưa công nghệ thông tin vào công việc của mình được thuận lợi. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần mang lại hiệu quả cho công tác quản lý hành chính nhà nước là ứng dụng công nghệ thông tin.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những khó khăn, hạn chế, bởi huyện Mường Nhé vẫn là huyện nghèo, kết cấu hạ tầng, thiết bị công nghệ thông tin hiện có chưa đủ để nâng cao hiệu quả trong công việc cũng như trong quản lý điều hành.

Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Mường Nhé, Pờ Diệu Ninh cho biết: Phải thẳng thắn nhìn nhận, một bộ phận cán bộ, công chức chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin, cho nên chưa tích cực thay đổi thói quen làm việc thủ công, chưa chủ động học tập và trau dồi nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào trong công tác; vẫn còn một số đơn vị chưa thật sự tích cực, chủ động trong việc khai thác, sử dụng các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin đã đầu tư.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin chủ yếu là kiêm nhiệm, ảnh hưởng rất lớn đến công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương; chưa có cơ chế, chính sách thu hút người giỏi về công nghệ thông tin vào làm việc trong cơ quan nhà nước khiến công tác tham mưu, đề xuất giải pháp ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế.

Ngoài ra, chưa khai thác, phát huy được tối đa tính năng, lợi ích của các phương tiện công nghệ thông tin.

Các chuyên gia về công nghệ thông tin cho rằng, nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số ở các bộ, ngành, địa phương cũng như việc thực hiện còn mang tính hình thức, chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến chưa cao, hiệu quả sử dụng còn hạn chế, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ trực tuyến còn thấp; chưa hình thành được hệ sinh thái công dân số dẫn đến người dân vẫn chưa được hưởng thụ nhiều tiện ích quan trọng mang lại.

Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành triển khai chưa đáp ứng được yêu cầu về tiến độ. Công tác đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin ở nhiều nơi vẫn chưa được chú trọng, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, nguồn lực triển khai Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số còn hạn chế.

Giải pháp chuyển đổi số thành công là lấy người dân làm trung tâm, và bước đầu tiên cần hướng đến là nâng cao nhận thức của người dân, nâng cao trách nhiệm triển khai của các đơn vị hành chính. Đồng thời, phát huy vai trò liên kết chuyển đổi số giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp trên chính địa bàn...

.

NVH40 - Việt Nam không có tự do dân chủ, nhân quyền - luận điệu cần bác bỏ

 

Đã từ lâu, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” luôn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, nhận rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ nham hiểm, thâm độc của chúng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, người dân Việt Nam thấu hiểu những giá trị to lớn của độc lập, tự do, hiểu rõ quyền con người và cũng nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đâu là đối tác, đối tượng. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Bạn bè và du khách quốc tế đến Việt Nam đều nhận thấy sự đổi thay từng ngày và coi đây là điểm đến an toàn, thân thiện, mến khách, một đất nước có chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển mạnh mẽ, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường, quyền tự do, dân chủ của người dân luôn được tôn trọng và phát huy. Đặc biệt, vấn đề dân chủ, nhân quyền được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp đúng đắn, phù hợp và đạt được nhiều kết quả thiết thực, không thể phủ nhận. Thế nhưng, với bản chất phản động, thù nghịch cố hữu, các thế lực thù địch vẫn điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; trong đó, lĩnh vực dân chủ, nhân quyền là chiêu bài được chúng triệt để lợi dụng.

Vì vậy, nhận diện, đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân, nòng cốt là lực lượng chuyên trách phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phát huy trách nhiệm, đề cao cảnh giác cách mạng, có quyết tâm chính trị cao, nội dung toàn diện, đồng bộ, giải pháp khoa học, thiết thực.

Trước hết, cần nhận rõ “dân chủ”, “nhân quyền” là mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch

Sau thành công của những xung đột chính trị nhằm lật đổ chế độ chính trị ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi bằng các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng cam”, “cách mạng đường phố”,… các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, trong đó có chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Họ cho rằng, học thuyết “dân chủ”, “nhân quyền” cần áp dụng với Việt Nam là: xóa bỏ nền tảng tư tưởng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản. Đây là một trong những mũi tấn công chủ yếu của các thế lực thù địch thông qua các luận điệu xuyên tạc, hòng bóp méo sự thật, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, nhân quyền.

Mục đích của các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tuyên truyền, xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam, v.v. Những phương thức cụ thể mà họ vẫn thường sử dụng là: lợi dụng danh nghĩa “nhà dân chủ”, “đấu tranh vì nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, những hạn chế trong quản lý xã hội của chính quyền cơ sở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn với chế độ đẩy mạnh các hoạt động gây rối, biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, họ chủ động tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân thông qua những chiêu trò, như: “hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khiếu kiện”; hỗ trợ nhân đạo kèm theo những điều kiện bắt buộc như tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, hội thảo; lợi dụng sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để đánh đồng, quy chụp thành bản chất, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, từng bước hạ thấp làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ.

Cùng với đó, họ ra sức tuyên truyền, cổ xúy, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích quốc gia, dân tộc”; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, v.v. Đặc biệt, chúng đẩy mạnh các “chiến dịch” phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế khi chúng ta đăng cai tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng hay tham gia các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương, nhất là của Liên hợp quốc.

Các thế lực thù địch còn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân còn tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam, đòi Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, dân chủ và pháp luật theo kiểu phương Tây. Họ gây sức ép, buộc Việt Nam phải có những tiến bộ cụ thể về dân chủ, nhân quyền, phải đưa ra các lộ trình cụ thể trong thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, v.v. Các đối tượng này còn gửi thư, bản kiến nghị tới một số quốc gia, tổ chức quốc tế để phản đối việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ, xét xử các phần tử lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”; đồng thời, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến, người yêu nước, từ đó kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, họ còn sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”,… để chống phá từ bên trong với lý lẽ cho rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong tiến trình dân chủ hóa, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam phải xóa bỏ chế độ độc đảng.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...