Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

NVH40 - Cần hiểu đúng về “Xã hội dân sự”

 

Thời gian gần đây, một số blogger hô hào kêu gọi vận động, chuyển hóa tiến tới thành lập một xã hội mới có tên là “xã hội dân sự”.

Thế nào là một “xã hội dân sự”?

Chúng ta đều thấy, để hiểu một vấn đề, trước hết phải thống nhất với nhau về tên gọi, tức là minh định một cách rõ ràng nhất nội hàm và ngoại diện của khái niệm được bàn tới. Trong khoa học cũng như trong cuộc sống, người ta có quyền và rất cần thiết phải đưa ra những khái niệm mới mẻ làm công cụ để gọi tên, cắt nghĩa sự vật hiện tượng mới. Nhưng yêu cầu bắt buộc và tối thiểu là khái niệm đó phải được giải thích một cách chặt chẽ, cụ thể, dễ hiểu và được thừa nhận là có ích, hiệu quả. Trên thực tế, trên thế giới cũng như trong nước, khái niệm “xã hội dân sự” chưa được hiểu một cách thống nhất, do vậy cũng chưa thể có trong các từ điển mang tính chính thống. Không cần tìm tòi ở các sách báo, chỉ cần vào internet tra cứu cũng đã thấy hàng trăm cách định nghĩa. Chẳng hạn:

“Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một Nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của Nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) (1).

Xã hội dân sự là "Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” (Liên minh vì sự tham gia của công dân - CIVICUS 2005) (2).

“Về lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các hình thái tổ chức Nhà nước, gia đình và thị trường. Nhưng trong thực tế thì ranh giới giữa Nhà nước, xã hội dân sự, gia đình và thị trường là khá lẫn lộn, mập mờ và không rõ ràng. Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư” (Trung tâm Xã hội dân sự của Trường đại học kinh tế London) (3).

“Xã hội dân sự là xã hội trong đó các tổ chức khác nhau của các công dân như đảng phái, công đoàn, hợp tác xã, nhóm... thực hiện mối liên hệ giữa công dân với Nhà nước, không để cho Nhà nước áp bức các công dân của mình” (Chế độ dân chủ, Nhà nước và xã hội của N.M.Voskresenskaia và N.B.Davletshina) (4)…

Nếu hiểu theo khái niệm (1) thì “xã hội dân sự” là sự liên minh tự nguyện của các tổ chức xã hội “tự vận hành” bên cạnh Nhà nước; thì trên thế giới này chưa thấy có một “xã hội dân sự” nào như thế. Bởi bất kỳ tổ chức xã hội nào trong thể chế chính trị nào cũng đều dưới hoặc bị sự chi phối công khai hoặc ngấm ngầm của Nhà nước.

Nếu hiểu theo khái niệm (2), (3) thì “xã hội dân sự” quá đơn giản. Bởi chế độ chính trị nào (tiến bộ hay phản động) cũng đều có tuyên ngôn vì quyền lợi chung của đất nước mình, nhân dân mình.

Riêng hiểu theo khái niệm (4) thì lộ rõ ra cái mục đích chính trị của các tổ chức xã hội.

Vì có quá nhiều cách định nghĩa nên người ta đành tìm theo các hướng tiếp cận khái niệm và họ đã tìm ra ba hướng:

- Xã hội dân sự tồn tại một cách độc lập và có phần đối trọng với Nhà nước, các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải quyết các vấn đề phát sinh thông qua đối thoại theo nguyên tắc phi bạo lực. Các tổ chức này kiểm soát, điều tiết mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.

- Xã hội dân sự là một bộ phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với Nhà nước, thị trường và gia đình các tổ chức xã hội nhằm đem lại sự đồng thuận tốt lành cho mọi người.

- Xã hội dân sự đề cao vai trò liên kết, hợp tác giữa các bên tham gia đối thoại, thảo luận.

Ai cũng thấy rõ tính chất còn mù mờ của khái niệm và chưa hình dung nổi nếu có một “xã hội dân sự” thì nó có quyền lực gì, chi phối xã hội ra sao… Riêng người viết bài này thì nhận thức vấn đề là: Nếu cái gì tốt đẹp, tích cực của cái gọi là “xã hội dân sự” thì xã hội ta đang có. Ví dụ chúng ta có tổ chức Công đoàn bảo vệ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động. Tương tự là các tổ chức Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi… Các tổ chức này cũng là cầu nối giữa Nhà nước với hội viên…

Điều đáng lưu ý là ở chính các nước phương Tây và Mỹ, một mặt khuyến khích “xã hội dân sự” trên hình thức để mị dân chính quốc và thi hành chính sách “diễn biến hòa bình” ở các nước cần thay đổi thể chế chính trị; một mặt lại giám sát, cấm đoán một cách chặt chẽ các tổ chức xã hội nếu thấy có mối nguy cơ tiềm ẩn. Ví dụ, Điều 16 Công ước châu Âu quy định các nước tham gia cần có những hạn chế đối với hoạt động chính trị của người nước ngoài trong các trường hợp liên quan đến quyền tự do lập hội. Dưới góc độ kinh tế thì mối nguy hại của “xã hội dân sự” được chính Ngân hàng Phát triển châu Á nhận xét: “Các tổ chức xã hội công dân cũng có thể bao gồm những hiệp hội có động cơ bạo lực, tham lam, lợi ích cục bộ, thù địch sắc tộc và đàn áp xã hội, cũng như các tổ chức kinh doanh vận động hành lang như ngành công nghiệp thuốc lá, là không thể đại diện cho lợi ích đông đảo của công chúng”(Ngân hàng Phát triển châu Á: Phục vụ và duy trì, cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh. NXB. Chính trị Quốc gia. Hà Nội.2003. tr.613). Dẫn chứng này cho thấy ngay tính chất vô chính phủ, tự phát, cơ hội của các tổ chức trong “xã hội dân sự” nếu không có một cơ chế quản lý chính trị chặt chẽ.

Trở lại vấn đề đặt ra ở đầu bài viết: Một số blogger ở ta đang tuyên truyền cho “xã hội dân sự”, vẫn giữ nguyên khái niệm nhưng mang hàm nghĩa tiêu cực: Đòi thành lập những tổ chức đối trọng với nhà nước với mục đích làm giảm, khuynh loát vai trò, dẫn đến làm tan rã Nhà nước. Đó không phải là cái gì khác, mà đích xác đó là hành động “diễn biến hòa bình” quen thuộc mà thâm độc.

Không ai ngây thơ tin rằng, đó là một việc làm tích cực, tốt đẹp, vì quyền lợi của dân, bởi cái tên gọi nghe có vẻ hay nhưng về thực chất là sự cố tình đánh tráo khái niệm để lừa mị những người nhẹ dạ, mơ hồ, dao động. Dĩ nhiên chúng ta cần phân biệt rõ những kẻ có chủ ý xấu và những người vì một số lý do nào đó như thích nổi tiếng, thích được chú ý mà a dua, thấy người ta nói mình cũng hùa theo chứ chẳng hiểu tận gốc rễ vấn đề.

Chúng ta phải làm gì để người dân hiểu đúng về “xã hội dân sự” và phát huy những mặt tích cực của nó?

- Cần có các hội thảo riêng về cái gọi là “xã hội dân sự” làm rõ lịch sử khái niệm, cái được, cái mất, cái tốt, cái xấu của nó.

- Vạch trần bản chất sự cơ hội, lợi dụng hoặc mù quáng ảo tưởng về cái gọi là “xã hội dân sự”.

- Tuyên truyền tính chất vì quyền lợi của nhân dân ở các tổ chức xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua đó khẳng định tính chất vì con người của chế độ Nhà nước ta.

- Tăng cường và nâng cao hơn nữa vị trí, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội mà Nhà nước ta đang bảo trợ.

 

NVH40 - Xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược

 

Trong khi truyền thông Việt Nam và quốc tế thông tin đầy đủ, khách quan, trung thực về ý nghĩa, kết quả chuyến thăm thì các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị nhân cơ hội này đưa ra những luận điệu chống phá, xuyên tạc ý nghĩa, kết quả của chuyến thăm; đồng thời, qua đó xuyên tạc quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam - Trung Quốc, cũng như đường lối ngoại giao của Việt Nam.

* Nhiều luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội

Những ngày trước, trong và sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã có nhiều bài viết xuyên tạc về quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam - Trung Quốc.

Trang S. dù đang bị Facebook “cấm sóng”, không cho đăng tải video do vi phạm những nguyên tắc cộng đồng đã lập tức mở một trang mới, thực hiện các clip chống phá và dẫn đường link về page cũ vốn có lượng người theo dõi “khủng”. Những ngày gần đây, nhân vật S. này liên tục thực hiện “bàn tròn bình luận” về chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đến Việt Nam với các tiêu đề như: “Đánh giá chuyến thăm Việt Nam của Tập Cận Bình - Chuyến công du của ông Tập tại Việt Nam - ai lợi ai thiệt?”, “Thấy gì khi Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam. Xung đột biển Đông”.

Các trang v., b…, t… ở nước ngoài cũng không đứng ngoài sự kiện truyền thông quan trọng này khi liên tục thực hiện clip bình luận mang nội dung xuyên tạc, chống phá về sự kiện trên.

* “Vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại”

Trong thời gian chuyến thăm Việt Nam từ ngày 12 đến 13-12, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, các cuộc hội kiến với Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. Nhân chuyến thăm, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược.

Nội dung tuyên bố chung khẳng định: “Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị “mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”, tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại”.

Rõ ràng, mục đích, ý nghĩa cũng như kết quả, thông điệp của chuyến thăm đều hướng đến “hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại”. Chỉ những đối tượng mang tư tưởng chống đối, thù địch mới suy diễn, bịa đặt trắng trợn thực tế quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Mục đích của các đối tượng thù địch không gì khác hơn là tiêm nhiễm, lan truyền những “vectơ” xấu độc để người nghe hiểu sai về bản chất vấn đề, cũng như mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Việt Nam, từ đó không ngừng gieo rắc những lời lẽ kích động, chống phá. Đây chính là trường hợp điển hình của âm mưu “diễn biến hòa bình” mà bấy lâu nay các thế lực này vẫn thường xuyên sử dụng.

Tại Họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao vào chiều 14-12, một số cơ quan báo chí đặt câu hỏi với Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng về Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm của cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân; đặc biệt là nội hàm của việc hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng một lần nữa khẳng định: “Hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Hai bên cũng nhất trí cho rằng phát triển quan hệ giữa hai nước cần tuân thủ Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế và chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế; kiên trì tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi, hợp tác cùng thắng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; kiên trì giải quyết bất đồng thông qua các biện pháp hòa bình. Đây cũng là tương lai chung mà hai bên chia sẻ và hướng đến phù hợp với lợi ích của hai nước, góp phần vào xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới".

Câu trả lời của Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cũng là lời khẳng định đập tan mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc của “những nhà quan sát” luôn thường trực quan điểm chống phá, thù địch.

* Một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của nước ta trong năm 2023

Thực tế thời gian qua, mọi thủ đoạn, lý lẽ bịa đặt của các thế lực thù địch chống phá đều thất bại trước sự kiên định, nhất quán về chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam: “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”, “Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương LHQ và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Và như thế, Tuyên bố chung lần này tiếp tục khẳng định cụ thể chủ trương, chính sách ngoại giao của Việt Nam.

Tại hội nghị báo cáo viên tháng 12, tổng kết công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024 vào ngày 8-12 do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức theo hình thức trực tuyến, Phó trưởng ban Đối ngoại Trung ương Ngô Lê Văn đã thông tin nhanh về chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình.

Theo đồng chí Ngô Lê Văn, năm 2008, Việt Nam - Trung Quốc đã thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, đây là khuôn khổ quan hệ đối ngoại cao nhất mà ta thiết lập với các đối tác. Sau 15 năm triển khai khuôn khổ quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, quan hệ Việt - Trung phát triển tích cực, có nhiều điểm sáng và mang tính toàn diện... “Chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Phu nhân có ý nghĩa rất quan trọng, một trong những hoạt động đối ngoại quan trọng nhất của nước ta trong năm 2023. Chuyến thăm có ý nghĩa rất lâu dài đối với quan hệ hai nước” - đồng chí Ngô Lê Văn nêu rõ.

Nhờ thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nên “quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”; “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”… Do đó, mỗi người dân trước những thông tin xấu độc càng cần phải củng cố niềm tin, chung sức đồng lòng cùng Đảng và Nhà nước bảo vệ và phát huy các thành quả cách mạng nói chung và thành tựu đối ngoại nói riêng; đồng thời không tin, không nghe theo những quan điểm xấu độc, thâm hiểm mà các đối tượng thù địch truyền tải.

 

NVE40-KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI HOẠT ĐỘNG THÚC ĐẨY “XÃ HỘI DÂN SỰ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” cũng không ngoài mục đích làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó loại bỏ vị trí, vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN. Ở nước ta, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, tạo điều kiện bảo đảm cho mọi công dân, cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích chính đáng của mình trên mọi lĩnh vực; trong đó, có việc tạo điều kiện cho ra mắt các hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức công đoàn ngành và các tổ chức hiệp hội, các câu lạc bộ… hoạt động ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trên phạm vi cả nước hoặc ở một địa phương. Quá trình thành lập, hoạt động, các hội trên luôn chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, có nhiều đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước; thể hiện rõ vai trò là cầu nối giữa các hội viên với chính quyền; đồng thời, đóng vai trò ngày càng tích cực trong việc tư vấn phản biện xã hội trên các phương diện. Mặc dù có những đóng góp lớn, tuy nhiên các hội này chưa bao giờ tự nhận mình là một “tổ chức xã hội dân sự” như một số tổ chức, cá nhân, hội, nhóm vẫn thường tự nhận trên mạng Internet…

Khái niệm “xã hội dân sự” (civil society) được hiểu là không gian xã hội công cộng nằm ngoài khu vực nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các thiết chế và thể chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...Cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự” tự xưng ở Việt Nam thời gian qua như: “Hội nhà báo độc lập”, “Hội bầu bí tương thân”, “Công đoàn độc lập”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”, “ Hội anh em dân chủ”, “ Hội tù nhân lương tâm”, “Hội phụ nữ nhân quyền”… thực chất là những hội, nhóm bất hợp pháp, chủ yếu là trên mạng Internet, không có tư cách pháp nhân; quá trình thành lập, hoạt động không tuân thủ các quy định của pháp luật về lập và quản lý hội. Điều đáng nói ở đây, một số đối tượng giữ vai trò cốt cán trong các “tổ chức xã hội dân sự” này từng có hoạt động vi phạm pháp luật, mà cụ thể là liên quan đến hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, đã từng bị các cơ quan chức năng xử lý nhưng không chịu tu dưỡng cải tạo mà tiếp tục hoạt động chống phá dưới vỏ bọc “xã hội dân sự” để che giấu bản thân. Trước đó, chúng ta đã xử lý một số đối tượng lợi dụng “tổ chức xã hội dân sự” để hoạt động chống phá như: Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức…, với tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 2009) và tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" (quy định tại Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 2009); sau này là các đối tượng như: Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Bùi Tuấn Lâm, Võ Hoàng Thơ, Đặng Đăng Phước…, với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 - sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" (quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 - sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Gần đây, số cốt cán trong các trong các hội tiếp tục đưa ra yêu sách với Đảng, Nhà nước “cần tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền chính trị dân sự”, “tự do phát triển xã hội dân sự”; ra các thông cáo thư ngỏ, kiến nghị trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động phong chào “đa nguyên, đa đảng đối lập”. Những hội, nhóm này thông qua thủ đoạn lợi dụng các trang Web, blog mạng xã hội để đăng tải, tán phát những thông tin, bài viết xuyên tạc, vu cáo tình hình dân chủ, nhân quyền ở nước ta. Chúng cho rằng Đảng, Nhà nước “đàn áp người bất đồng chính kiến”, “kiểm soát xã hội dân sự”, “quan ngại về một xu thế hay phản ứng cứng rắn của chính quyền đối với các phong chào dân sự”, đòi “tự do phát triển xã hội dân sự”, phát động phong trào “đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, kích động quần chúng tập trung đông người gây rối an ninh, trật tự, gây hậu quả nghiêm trọng về an ninh chính trị, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đặc biệt trong những thời điểm đất nước diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, nhạy cảm.

Âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các “tổ chức xã hội dân sự” tự xưng là vô cùng tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt; mục đích nhằm làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam; xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi chính đáng của cá nhân, tổ chức và quan trọng là phá vỡ sự ổn định phát triển bền vững của an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội của đất nước.

Một điểm nổi trong thủ đoạn chống phá của các hội, nhóm này là chúng mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, mượn danh đấu tranh cho “dân chủ, nhân quyền”; sử dụng những luận điệu cho rằng “Đảng, Nhà nước Việt Nam ngăn cản, bóp nghẹt quyền tự do cá nhân” và đòi hỏi “chính quyền cần mở rộng tự do dân chủ, quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận giống như các nước phương Tây”. Tuy nhiên, số này lại quên rằng, dù ở bất kỳ quốc gia nào thì các hội, nhóm vẫn không được đứng ngoài pháp luật, phải tuân thủ các quy định pháp luật nước đó, không có trường hợp nào là ngoại lệ.

Thời gian tới, để góp phần đấu tranh hiệu quả với âm mưu, hoạt động chống phá của các “tổ chức xã hội dân sự” tự xưng, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, về lập hội và quản lý hội; đồng thời, công khai vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng núp bóng, lợi dụng cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự” để chống Đảng, Nhà nước… nhằm nâng cao ý thức cảnh giác, tích cực đấu tranh của quần chúng nhân dân. Định hướng cho các “tổ chức xã hội dân sự” đích thực hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, chấp hành nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, làm tốt công tác quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, đặc biệt là quản lý các hội, nhóm trên Internet, chủ động phát hiện sớm và ngăn chặn xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa “hoạt động xã hội dân sự” để thực hiện những hành vi, hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, gây bất ổn tình hình an ninh chính trị, làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình, bình đẳng… trong mắt bạn bè quốc tế./.

 

NVE40- KHẲNG ĐỊNH SÂU SẮC HƠN MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC “VỪA LÀ ĐỒNG CHÍ, VỪA LÀ ANH EM”

 

Nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân đã thăm cấp Nhà nước tới Việt, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động ra sức xuyên tạc, chống phá. Tổ chức khủng bố Việt Tân, trang mạng, blog, website của các tổ chức phản động, các trung tâm truyền thông BBC, RFA, VOA… lập tức tăng tần suất các bài viết có nội dung xuyên tạc mục đích, ý nghĩa chuyến thăm, kêu gọi phản đối, tẩy chay chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư Tập Cận Bình; bôi nhọ hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Một số bài viết xuyên tạc chuyến thăm, tuyên truyền rằng “đây là bước đi dứt khoát đẩy Việt Nam gắn chặt quốc gia phương Bắc, Việt Nam đang phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc”; “Nhà nước Việt Nam ngày càng lệ thuộc về mọi mặt vào Trung Quốc”…từ đó kích động khuynh hướng “bài Trung, thoát Hoa, ngả Mỹ”. Những luận điệu sai trái này rất nguy hiểm với mục đích chống phá, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, quốc gia đang đẩy mạnh mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới, hội nhập ngày càng chủ động, tích cực, sâu rộng; quốc gia có vị thế, uy tín ngày càng vững chắc trên trường quốc tế.

Có thể khẳng định Nhân dân hai nước, bạn bè trên khắp thế giới đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Trung Quốc là chuyến thăm đầu tiên của Nhà Lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đúng một năm sau chuyến thăm lịch sử đến Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (10/2022). Đây là một dấu mốc lịch sử mới trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh Quan hệ Đối tác Hợp tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam-Trung Quốc đang phát triển tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai bên được nâng cao, góp phần củng cố quan hệ chính trị giữa hai Đảng, hai nước.

Trong nhiều năm gần đây, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước tiếp tục xu hướng mở rộng tích cực. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu thứ 2 của Việt Nam. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 4 và lớn nhất trong khu vực ASEAN của Trung Quốc, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2022 đạt 175 tỷ USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đã đạt 155,58 tỷ USD sau 11 tháng năm 2023. Trung Quốc đứng thứ 6 trong số 144 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với vốn lũy kế đạt 26 tỷ USD. Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác khác như quốc phòng, an ninh, hạ tầng, giao thông, nông nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục, đào tạo, thể thao, khoa học, công nghệ... cũng được tăng cường.

Chủ tịch Tập Cận Bình đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam sau gần 4 thập kỷ đổi mới, đồng thời bày tỏ tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ lớn mà Đại hội XIII đã đề ra, qua đó đặt nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi “các mục tiêu 100 năm”. Trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; 36 thoả thuận hợp tác được ký kết bao trùm nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước phản ánh đầy đủ chiều rộng và chiều sâu của mối quan hệ song phương, chuyến thăm đã cho thấy tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Việt Nam- quốc gia đang nổi lên như một trung tâm sản xuất quan trọng của châu Á. 

Chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình diễn ra vào một thời điểm có ý nghĩa khi đánh dấu 15 năm hai nước thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, chuyến thăm là một “cột mốc quan trọng” trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Đồng thời từng bước thực hiện cam kết của hai nước tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở hiệp thương, nhất trí, sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Chuyến thăm đã mở ra cơ hội, cũng như góp phần làm sâu sắc hơn các mối quan hệ giữa hai nước, đặc biệt là trong phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển đổi năng lượng xanh.

Trong “Tuyên bố chung nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược” đã khẳng định rõ ràng: Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, chế độ chính trị tương đồng, lý tưởng niềm tin tương thông, con đường phát triển gần gũi, cùng chung chí hướng, chia sẻ tương lai chung, đều nỗ lực vì nhân dân hạnh phúc và đất nước giàu mạnh, nỗ lực vì sự nghiệp cao cả hòa bình và tiến bộ của nhân loại.  

Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị “Mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”, tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Việt Nam ủng hộ việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại, Sáng kiến Phát triển toàn cầu, Sáng kiến An ninh toàn cầu và Sáng kiến Văn minh toàn cầu. Các sáng kiến nêu trên có mục tiêu đề ra là nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn nhân loại, vì sự nghiệp hòa bình, chính nghĩa và tiến bộ của nhân dân thế giới, đáp ứng mong muốn xây dựng thế giới tốt đẹp của nhân dân các nước.   

Theo các định hướng trên, hai bên đồng ý đề ra 6 phương hướng hợp tác lớn trong thời gian tới để thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bước vào giai đoạn mới với tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng, an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn, bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn, chung tay thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới phát triển, đóng góp tích cực cho sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Có thể khẳng định rằng, chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đã đạt được những kết quả hết sức ý nghĩa và được Nhân dân trong nước, truyền thông quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự thật đó là minh chứng khách quan, sinh động phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá, những hành động trơ trẽn và lạc lõng của các thế lực xấu, xuyên tạc mối quan hệ truyền thống tốt đẹp Việt Nam - Trung Quốc./.

 

NVE40- MÃI XỨNG DANH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, BỘ ĐỘI CỦA NHÂN DÂN

 

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2022) và 34 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2023), trên mạng xã hội xuất hiện nhiều tin, bài viết, video clip tuyên truyền sai trái về Quân đội, “Bộ đội Cụ Hồ” với việc giật tít rất “kêu”, gây sự tò mò của “cư dân mạng”. Chiêu thức chung của họ là chắp nối, lắp ghép các thông tin theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia” để ngụy tạo, “sản xuất”, “chế tạo” các video clip, viết tin, bài, pha trộn với các hình ảnh rất “ngầu, lòe loẹt” để “câu lai”, thu hút sự hiếu kỳ của các phần tử quá khích nhằm tạo “bão dư luận xã hội”, “chĩa mũi dùi” chống phá Quân đội, Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong đó, xuyên tạc, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần phải gạt bỏ ngay và luôn.

Việc cố tình bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, lấy cớ một số quân nhân vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý kỷ luật để thổi phồng hạn chế, khuyết điểm của Quân đội, kẻ xấu đang âm mưu quy kết, cáo buộc “Quân đội hư hỏng”, “Quân đội đã phản bội nhân dân”... Họ tung ra nhiều luận điệu phi lý, không thể chấp nhận; nào là: “Quân đội thời bình lương cao, nhàn hạ, đi xe sang, ở nhà cao”; nào là “Thời bình, Quân đội đã thoái hóa, biến chất”, “Quân đội đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”; “hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đã phai mờ, bị hen ố”, “Quân đội không còn trung thành với Đảng; không đủ sức bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân”... Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, rất phi lý, không thể chấp nhận.

Tại sao những phần tử bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ lại chĩa mũi nhọn vào chống phá Quân đội, xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ? Phải chăng họ muốn hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng?

Chúng ta đều biết, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã và đang cấu kết với các thế lực thù địch, triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để “diễn các chiêu trò xấu, độc” nhằm pha loãng bầu không khí chính trị lành mạnh ở nước ta, gây hoang mang, mất niềm tin của nhân dân đối với Quân đội; “giải cơn khát hận thù” của họ. Tung tin giả, xấu, độc nhằm chia rẽ Quân đội với nhân dân; làm cho cán bộ, chiến sĩ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quên bổn phận, trách nhiệm của “Bộ đội Cụ Hồ”; đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Kịch bản và các chiêu thức mới trong chống phá Đảng, Nhà nước ta là tung tin giả, xấu, độc, ra sức tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho Quân đội ta chao đảo, ngả nghiêng, Đảng ta mất chỗ dựa tin cậy, vững chắc là Quân đội; từ đó dễ bề thao túng đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; lái nước ta đi theo con đường dân chủ tư sản, cán bộ, chiến sĩ “lây nhiễm nọc độc” của kẻ xấu, ca ngợi, “tán dương chế độ tư bản chủ nghĩa”; mơ ước hão huyền về cuộc sống xa hoa của chế độ “dân chủ” tư sản, theo mô hình phương Tây.

Đích đến của họ là “đánh sập thần tượng Hồ Chí Minh”, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, vì họ biết rõ trong trái tim người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin yêu, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên, cùng toàn quân tiến bước dưới Quân kỳ quyết thắng. “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta. Trên thế giới, không quân đội nào có được niềm vinh dự, tự hào ấy.

Với chiêu trò bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu. Họ hy vọng rằng tình cảm, niềm tin; sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân ta đối với Bác Hồ sẽ không còn và đi liền với đó, là từng bước làm mất vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Làm việc sai trái này, họ muốn Quân đội ta chỉ là những người lính “đánh thuê”, “quân đội nhà nghề”, không còn thực hiện mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim, lẽ sống cao đẹp: Chiến đấu, hy sinh vì nước vì dân, biến Quân đội ta thành đội quân vô dụng.

Vì vậy, chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc nguồn gốc, bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc này để đề cao cảnh giác; toàn tâm, toàn ý thực hiện nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc, phản động ấy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ. Âm mưu và hành động sai trái của các thế lực thù địch là không thể chấp nhận vì nó vi phạm cả đạo lý và pháp lý, bị nhân dân ta lên án, phản đối. Trước đây cũng như hiện nay, người lính Cụ Hồ sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần, nhân dân mong đợi. Những việc làm thầm lặng của người lính Cụ Hồ thật vẻ vang; những cống hiến, hy sinh của họ thật to lớn. Không có kẻ thù nào có thể xâm phạm, hủy hoại điều thiêng liêng ấy; không thế lực nào được phép làm hoen ố bản chất tốt đẹp; phẩm chất, nhân cách, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”- Bộ đội của Dân./.

 

NVE40- TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA

 

Thực tiễn lịch sử đấu tranh giành độc lập, cũng như bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đã chứng minh không ngừng củng cố, thắt chặt quan hệ hợp tác giữa Việt Nam, Lào và Campuchia là nhu cầu tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược, sống còn đối với cách mạng mỗi nước. Tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt và sự hợp tác chặt chẽ, toàn diện giữa ba nước Đông Dương không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, việc duy trì và củng cố tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác phát triển với các nước láng giềng còn góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội vùng biên giới… Nhận thức sâu sắc, đầy đủ về sức mạnh của tình đoàn kết ba nước Đông Dương, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh “giúp bạn là tự giúp mình”, những năm qua Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã kề vai sát cánh với Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia đấu tranh chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh.

Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập hôm nay, hợp tác với Lào và Campuchia luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thời gian qua, ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia tiếp tục có nhiều hoạt động nhằm góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ, tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước Đông Dương. Trong đó, các lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới của Việt Nam - Lào - Campuchia thường xuyên trao đổi, nắm bắt thông tin, phối hợp giải quyết tốt các vấn đề an ninh biên giới, không để xảy ra vụ việc phức tạp. Đường biên, mốc giới trên địa bàn ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia được bảo vệ và duy trì ổn định. Các địa phương, cơ quan, đơn vị thuộc địa bàn biên giới của Việt Nam đã tăng cường các hoạt động hợp tác với chính quyền và lực lượng vũ trang các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đặc biệt, trong công tác phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và bảo đảm an sinh xã hội đã thường xuyên quan tâm, hỗ trợ giúp đỡ vật chất, vật dụng thiết yếu đến bà con nhân dân và chính quyền nước bạn. Lực lượng vũ trang ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia thường xuyên phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh biên giới... Có thể thấy, tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia không chỉ gắn bó trong kháng chiến, mà còn xuyên suốt trong cả quá trình xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với rất nhiều các hoạt động ý nghĩa thiết thực. Chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là một trong những hoạt động tiếp nối truyền thống gắn bó, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do, phát huy tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung của mỗi dân tộc trên bán đảo Đông Dương.

Việc tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của ba Đảng, ba Nhà nước về xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác cùng phát triển. Chương trình Giao lưu hữu nghị này cũng nằm trong kế hoạch hoạt động đối ngoại quốc phòng trong năm 2023 của Bộ Quốc phòng ba nước. Đây là sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy, tăng cường đoàn kết hữu nghị, hợp tác giữa quân đội cũng như lực lượng bảo vệ biên giới, chính quyền và nhân dân địa phương ở khu vực biên giới chung giữa các nước láng giềng. Chương trình Giao lưu cũng là hoạt động đối ngoại nổi bật trong năm 2023, góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, tin cậy, hợp tác, cùng phát triển giữa ba nước, nhất là tỉnh Kon Tum với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đây cũng là cơ hội để ba nước giao lưu, hợp tác quốc phòng, hợp tác biên phòng, giao lưu văn hóa dân tộc, hợp tác kinh tế, tăng cường tình đoàn kết, hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Trong buổi giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tổ chức nhiều hoạt động trong đó tiến hành chỉnh trang cột mốc ngã ba biên giới, xây dựng 3 cột cờ, 3 cột đèn năng lượng mặt trời, trồng 3 cây hữu nghị, xây dựng đường tuần tra chung khu vực mốc ngã ba biên giới; đôn đốc nhà thầu xây dựng các công trình Nhà văn hóa tại thôn Tà Ka, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Việt Nam); Trạm phối hợp công tác biên giới, Đại đội Biên phòng 541, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Attapư (Lào) và Nhà Hữu nghị Tiểu đoàn Biên phòng 2, Tiểu khu Quân sự tỉnh Rattanakiri (Campuchia) đảm bảo tiến độ, thời gian. Ngoài các hoạt động nghi lễ chính thức còn diễn ra một số hoạt động của các lực lượng vũ trang ba nước, 3 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam - Lào - Campuchia còn chứng kiến lực lượng bảo vệ biên giới ba nước phối hợp tổ chức tuần tra, kiểm tra cột mốc ngã ba biên giới. Đồng thời, trồng cây hữu nghị nhằm truyền tải thông điệp về tình đoàn kết, hữu nghị, góp phần xây dựng đường biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển. nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong công tác bảo vệ an ninh biên giới.

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là sự kiện chính trị quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trên tinh thần quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện, tin tưởng lẫn nhau, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng sau cuộc Giao lưu sẽ tô thắm tình đoàn kết hữu nghị giữa ba nước láng giềng Việt Nam - Lào - Campuchia./.

 

NVD40 - Việt Nam – Lào – Campuchia hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển

 

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia là hoạt động đối ngoại quốc phòng có ý nghĩa quan trọng, góp phần truyền tải thông điệp về tình đoàn kết, hữu nghị, tương trợ lẫn nhau giữa Chính phủ, quân đội và nhân dân ba nước.

Từ lâu, quan hệ truyền thống, đoàn kết hữu nghị, gắn bó Việt Nam - Lào - Campuchia chính là tài sản chung vô giá, tạo nên sức mạnh cả về tinh thần lẫn vật chất để ba nước luôn kề vai sát cánh cùng nhau. Thực tiễn lịch sử đấu tranh giành độc lập cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước tại mỗi nước đã khẳng định thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi của quân đội và nhân dân ba nước.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, việc củng cố quan hệ hợp tác với các nước láng giềng và khu vực nhằm tạo lập môi trường hòa bình, ổn định lại càng có giá trị to lớn và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Vì lợi ích của nhân dân ba nước và mong muốn tăng cường hợp tác vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong bối cảnh mới, trong những năm qua, Việt Nam - Lào - Campuchia đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, trong đó quan hệ hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột quan trọng. Bộ Quốc phòng ba nước đã phối hợp chặt chẽ, triển khai nhiều nội dung quan trọng, đạt nhiều kết quả hết sức tốt đẹp, trong đó tổ chức cuộc gặp thường niên giữa Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia, thường xuyên gặp gỡ trao đổi nhân dịp tham dự các hội nghị, diễn đàn quốc tế và khu vực...

Cùng với đó, Quân đội ba nước còn phối hợp tổ chức thành công cuộc diễn tập chung về cứu hộ, cứu nạn giữa Quân đội ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất tại Lào vào năm 2022. Thấy rõ vai trò và ý nghĩa và hiệu quả trong các hoạt động hợp tác quốc phòng giữa quân đội ba nước, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã phối hợp với Bộ Quốc phòng Lào và Campuchia để cùng chuẩn bị tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia lần thứ nhất vào trung tuần tháng 12/2023.

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất được tổ chức thành công sẽ góp phần tăng cường tin cậy chính trị, xây dựng tình cảm hữu nghị, đoàn kết giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, thúc đẩy hợp tác thực chất giữa lực lượng bảo vệ biên giới ba nước. Đồng thời, thông qua các hoạt động giao lưu góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giao lưu nhân dân ở khu vực biên giới, truyền tải thông điệp về tình đoàn kết, hữu nghị, tương trợ lẫn nhau giữa Chính phủ, quân đội và nhân dân ba nước. Qua đó góp phần xây dựng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

 

 

NVD40 - Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng châu Á

             Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng được củng cố và phát triển với nội dung hợp tác ngày càng sâu rộng. Đó chính là sự kết nối tự nhiên giữa hai quốc gia cùng ở khu vực châu Á – Thái Bình dương, hai dân tộc có nhiều điểm tương đồng, một sự gắn kết được coi là có đặc tính lịch sử.

Về chính trị, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản trong những năm qua liên tục được củng cố và tăng cường, ngày càng đi vào thực chất, trên cơ sở lợi ích chiến lược tương đồng. Quan hệ hai nước đang ở giai đoạn tốt nhất trong lịch sử kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao và có sự tin cậy cao.

Về lĩnh vực kinh tế, Nhật Bản tiếp tục là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011). Đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế năng động và có nhiều tiềm năng phát triển, Nhật Bản xác định quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam là trọng tâm trong việc thúc đẩy quan hệ hai nước.

Đến nay, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai, đối tác thương mại lớn thứ tư và đối tác lớn thứ 3 về du lịch của Việt Nam. Theo số liệu chính thức, tính đến hết 2016, Nhật Bản có hơn 3.200 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 42 tỷ USD, chiếm 15% tổng FDI vào Việt Nam.

Chưa bao giờ các sản phẩm văn hóa của Nhật Bản từ cổ điển, như nghệ thuật cắm hoa ikebana, nghệ thuật kiếm đạo kendo, nghệ thuật gấp giấy origami…, đến hiện đại như truyện tranh manga, phim hoạt hình anime, thời trang cosplay, ngắm hoa anh đào… được thanh thiếu niên Việt Nam ưa chuộng như thế.

Có thể nói, sự tương đồng về văn hóa, mối liên hệ lịch sử, cùng tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước, sự chia sẻ nhiều lợi ích chung đã gắn kết chặt chẽ mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Qua đó, khẳng định mối quan hệ Việt Nam và Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng châu 

NVC40 - MPHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHƯƠNG TÂY VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 

Việt Nam luôn khẳng định chính sách nhất quán được quy định tại Điều 3, Hiến pháp 2013: “Nhà nước bảo đảm và phát triển quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển bản thân”.

Tuy nhiên, thời gian qua, một số nước phương Tây đã đưa ra các đánh giá, nhận định không đúng về quyền con người ở Việt Nam, khi cho rằng chúng ta vi phạm nhân quyền. Các nước phương Tây cho rằng “quyền con người không có biên giới quốc gia”. Đây là một cách che giấu mưu đồ quốc tế hoá các vấn đề nhân quyền, mở đường can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền quốc gia của chúng ta. Vì thế, nhận diện và đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái này cần được đặc biệt coi trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, không chỉ vì hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn vì chân lý, lẽ phải luôn thuộc về chúng ta.

Một số nước phương Tây tuyệt đối hóa tính phổ biến, phổ quát của quyền con người, phủ định hoặc cố tình “lờ đi” tính đặc thù của quyền con người, ra sức cổ vũ cho cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia”, “nhân quyền phổ biến chỉ có một, bất kỳ quốc gia nào cũng đều cần phải tuân thủ tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người”. Không chỉ dừng lại ở việc nêu lên quan điểm, một số nước phương Tây còn dựa trên “tiêu chuẩn” chủ quan của mình để kêu gọi việc thiết lập cơ chế cần thiết nhằm đánh giá việc thực hiện quyền con người của nước khác. Chẳng hạn, Quốc hội Mỹ đã ra nghị quyết yêu cầu Chính phủ Mỹ hằng năm phải đệ trình báo cáo tình hình nhân quyền của các nước trên thế giới. Trước tiên, cần khẳng định rằng, quyền con người là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, dù vấn đề quyền con người có tính phổ biến, có điểm chung ở mức độ nhất định, nhưng không thể coi nhẹ hoặc phủ nhận tính đặc thù của nó. Mặt khác, cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người cũng không được vượt qua chủ quyền quốc gia. Quan điểm “quyền con người không có biên giới quốc gia” là phi lý, cần phải đấu tranh, bác bỏ, sở dĩ như vậy là vì:

Một là, các nước phương Tây đưa ra tiêu chuẩn phổ biến về quyền con người là không hiện thực, thậm chí là lừa bịp. Sự phát triển và cải thiện về quyền con người luôn tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể ở từng quốc gia - dân tộc. Do sự khác nhau về điều kiện của từng quốc gia nên không thể có tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người mà các quốc gia cần phải tuân thủ. Cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn về quyền con người được quốc tế công nhận. Ngay kể cả đối với khái niệm hoặc định nghĩa về quyền con người, giới nghiên cứu pháp luật nói chung, pháp luật quốc tế nói riêng cũng chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất.

Hai là, nguyên tắc tính phổ biến của quyền con người cần được quy chiếu với điều kiện cụ thể và thực tiễn của từng nước nhằm bảo đảm kết hợp hài hòa giữa tính phổ biến và tính đặc thù. Những quan điểm và nội dung cốt lõi về quyền con người mà cộng đồng quốc tế thừa nhận và có sự đồng thuận là điều chúng ta cần tôn trọng, nhất là khi điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển con người. Chúng ta không phủ nhận giá trị phổ biến về quyền con người, nhưng điều kiện, tình hình của từng nước rất khác nhau, việc thực hiện quyền con người không thể tránh khỏi sự chế ước của điều kiện kinh tế - xã hội. Việc nhìn nhận thực trạng quyền con người của một quốc gia cần phải theo quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển, không được coi nhẹ đặc điểm khác nhau giữa các quốc gia, không lấy tiêu chuẩn và giá trị của nước mình áp đặt cho nước khác. Trên thực tế, Việt Nam đã kết hợp tốt nguyên tắc tính phổ biến và tính đặc thù về vấn đề quyền con người. Điều này thể hiện rõ nét ở việc Việt Nam tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người.

Ba là, quyền con người bị giới hạn bởi chủ quyền quốc gia và pháp luật quốc gia. Một số hành vi ảnh hưởng đến hòa bình của thế giới và không có lợi cho việc bảo đảm quyền con người, như khủng bố quốc tế, xâm lược vũ trang, đe dọa môi trường sinh thái,... cần phải bị lên án và đấu tranh, cộng đồng quốc tế cần sử dụng biện pháp tích cực để ngăn chặn. Tuy nhiên về bản chất, quyền con người là một vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, cần phải được bảo đảm bởi pháp luật quốc gia. Do vậy, chỉ khi thông qua pháp luật và nghĩa vụ quốc gia thì các điều ước quốc tế về quyền con người mới có thể thực hiện hiệu quả.

Bốn là, cơ chế bảo vệ của quốc tế về quyền con người được thực hiện với điều kiện và phạm vi nhất định. Một số nước phương Tây nỗ lực đưa vấn đề quyền con người vào các cơ chế của quan hệ quốc tế, hơn nữa đưa ra luận điệu “không can thiệp vào nội bộ là không thích hợp với vấn đề quyền con người”,... chính là biểu hiện điển hình của chính trị cường quyền. Hiến chương Liên hợp quốc chỉ đưa ra những nguyên tắc thông thường nhằm thúc đẩy chính phủ các nước không ngừng cải thiện quyền con người, mà không đưa ra nghĩa vụ mang tính chế ước đối với các nước thành viên; đồng thời, quy định rõ nếu chưa được sự trao quyền của Liên hợp quốc thì bất cứ quốc gia thành viên nào cũng không được nhân danh quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Điều đó cho thấy, việc một số nước phương Tây tự ý đưa ra tiêu chuẩn nhân quyền, rồi mưu toan sử dụng sức ép quốc tế để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là không thể chấp nhận được.

Năm là, hợp tác quốc tế về quyền con người chỉ được thực hiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các nước, không can thiệp vào công việc nội bộ cũng như thông qua cơ chế đối thoại. Phát triển và thúc đẩy quyền con người một cách đầy đủ là mong muốn của cộng đồng quốc tế hiện nay. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người.

Sáu là, chỉ khi kết hợp đồng thời giữa thúc đẩy quyền con người với duy trì hòa bình trên thế giới gắn với phát triển kinh tế - xã hội mới có thể đạt được tiến bộ thực chất trên lĩnh vực quyền con người. Không có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, không có một trật tự kinh tế quốc tế hợp lý, công bằng thì không thể thực hiện được quyền con người phổ biến.

Bảy là, sự khác nhau giữa lời nói và việc làm trên lĩnh vực quyền con người của Mỹ. Mỹ tự cho mình cái quyền đánh giá, chỉ trích mức độ bảo đảm quyền con người của các nước khác, song chính nội bộ nước Mỹ lại tồn tại những vấn đề nghiêm trọng về quyền con người. Đơn cử như, năm 2021, ở Mỹ đã xảy ra 693 vụ xả súng (tăng 10,1% so với năm 2020), khiến hơn 44.000 người thiệt mạng. Cũng trong năm 2021, 9 tiểu bang của Mỹ đã đề xuất hơn 420 dự luật nhằm hạn chế việc bỏ phiếu của cử tri; chỉ 7% thanh niên Mỹ tin rằng hệ thống dân chủ Mỹ vẫn “lành mạnh”. Tại biên giới phía Nam, Mỹ đã giam giữ hơn 1,7 triệu người nhập cư, trong đó có 45.000 trẻ em. Một mặt, Mỹ nhấn mạnh tính phổ biến của quyền con người; mặt khác, Mỹ lại từ chối ký kết và tham gia nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật...

Tám là, việc các nước phương Tây nhấn mạnh cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia” thực chất là nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị của các nước phương Tây. Quan điểm này không có giá trị gì cho việc thúc đẩy quyền con người ở trên thế giới, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

thể khẳng định, với những gì thực tế đang diễn ra, nước ta vẫn luôn là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay./.

NVC40 - MỐI QUAN HỆ TỐT ĐẸP GIỮA CÁC NƯỚC ASEAN - NHẬT BẢN

 

Dự các hoạt động, hội nghị kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản và Hội nghị thượng đỉnh cộng đồng châu Á phát thải ròng bằng 0, Thủ tướng Phạm Minh Chính truyền đi thông điệp về một Việt Nam hòa hiếu, chân thành, tin cậy, sẵn sàng tăng cường quan hệ hữu nghị, đối thoại và hợp tác cùng có lợi, xây dựng môi trường khu vực và quốc tế hòa bình, ổn định với các nước, trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, thách thức, với những “cơn gió ngược”.

Phát biểu tại Hội nghị kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN - Nhật Bản, Thủ tướng đề nghị ASEAN và Nhật Bản tăng cường hơn nữa phối hợp chiến lược, cùng xây dựng cấu trúc khu vực mở, bao trùm, dựa trên luật lệ với ASEAN đóng vai trò trung tâm. Nhật Bản cần tiếp tục có tiếng nói ủng hộ lập trường chung của ASEAN về Biển Đông; tích cực hỗ trợ các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh phi truyền thống, sớm khởi động lại cơ chế hợp tác Mekong, ưu tiên thúc đẩy các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển bền vững trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Đáng chú ý, Thủ tướng đề nghị cần cụ thể hóa quan hệ “từ trái tim đến trái tim” giữa ASEAN - Nhật Bản trở thành quan hệ “từ hành động đến hành động”, và “từ cảm xúc đến hiệu quả” với các dự án, chương trình, kế hoạch hợp tác thiết thực, cụ thể trong khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN - Nhật Bản.

Cùng với đó, Thủ tướng cũng nhấn mạnh cần tăng cường 4 kết nối gồm: kết nối về kinh tế, thương mại, đầu tư; kết nối về cơ sở hạ tầng; kết nối trong các lĩnh vực mới, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức và nông nghiệp thông minh; kết nối thực hiện các mục tiêu về phát triển bền vững, không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần…

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt cho biết, tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng nhấn mạnh yêu cầu các nước ASEAN và Nhật Bản cần phối hợp chặt chẽ hơn để xây dựng khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng mở, bao trùm và cùng thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực, đặc biệt là bảo đảm sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982.

Tham dự hội nghị thượng đỉnh đầu tiên về Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á (AZEC), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có thông điệp mạnh mẽ với chủ đề “Chung ý chí, quyết tâm cao và hành động quyết liệt hướng tới một châu Á phát triển phát thải ròng bằng 0”.

Thông tin tới Hội nghị về nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện cam kết của mình hướng tới giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề xuất các nước tập trung vào nghiên cứu, phát triển, đa dạng hóa các nguồn năng lượng sạch và công nghệ mới; đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa các cơ chế tài chính khí hậu mới, hợp tác công-tư và hợp tác trong khu vực tư nhân; tăng cường hợp tác về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, quản trị thông minh và hoàn thiện thể chế thị trường hiện đại, phù hợp, hiệu quả với từng quốc gia.... Những ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính được hội nghị đánh giá cao, đồng tình ủng hộ.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ có các cuộc gặp, tiếp xúc với lãnh đạo các nước tham dự Hội nghị như: Thủ tướng Lào, Thủ tướng Campuchia, Quốc vương Brunei, Thủ tướng Singapore, Thủ tướng Malaysia, Thủ tướng Thái Lan, Tổng thống Philippines… Tại các cuộc gặp, Thủ tướng và lãnh đạo các nước đã rà soát kết quả và đề ra phương hướng, hiện thực hóa các thỏa thuận hợp tác trên các lĩnh vực; đồng thời chia sẻ những vấn đề khu vực và thế giới cùng quan tâm.

Trong cuộc gặp giữa Thủ tướng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, các nhà lãnh đạo đã nhất trí triển khai cơ chế họp 3 Thủ tướng Chính phủ nhằm hiện thực hóa các kết quả đã đạt được tại Cuộc gặp cấp cao Người đứng đầu 3 đảng của Việt Nam - Campuchia - Lào.

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tới Nhật Bản lần này tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm và đóng góp vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN hòa bình, thịnh vượng và quan hệ ASEAN - Nhật Bản ngày càng sâu rộng, thực chất, hiệu quả; vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và thế giới. Đồng thời, thiết thực cụ thể hóa, triển khai mạnh mẽ, thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới giữa Việt Nam - Nhật Bản, tạo thêm đà cho thời kỳ phát triển quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn tới.

 

 

NVC40 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LÀ MỘT TRONG NHỮNG NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TOÀN DÂN.

 

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục đưa ra những quan điểm sai trái đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang được chúng xác định là nội dung trọng tâm để chống phá Đảng, Nhà nước.

“Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu, nội dung của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay. Đây là một thủ đoạn không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm. Thủ đoạn trên đã được các nước đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện thành công ở Đông Âu, Liên Xô, để lại hậu quả vô cùng đau xót cho nhân loại tiến bộ và tương lai của chủ nghĩa xã hội. 

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến một loạt nước xã hội chủ nghĩa bị rơi vào cái bẫy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế giăng ra. Ở Liên Xô, sau khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, chấp nhận đa nguyên, đa đảng và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với quân đội, an ninh, nội vụ, làm cho quân đội Xô viết, cơ quan an ninh, nội vụ Xô viết bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô vào cuối năm 1991. 

Ở Việt Nam hiện nay, lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đang được đẩy mạnh, các thế lực thù địch tìm cách khoét sâu các mặt tồn tại, yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước, những khó khăn về đời sống và một vài vụ, việc vi phạm kỷ luật đơn lẻ của một số cán bộ, chiến sĩ, đơn vị trong lực lượng vũ trang để khuyến khích lực lượng vũ trang từ bỏ trách nhiệm bảo vệ Nhà nước và chế độ, đồng thời vu cáo lực lượng vũ trang không còn mang bản chất giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, chúng còn viết bài xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, gây mất ổn định chính trị nội bộ; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Quân đội và Công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại của đất nước có lực lượng Quân đội và Công an tham gia, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của hai lực lượng này trước Nhân dân, trong xã hội và trên trường quốc tế. Thâm độc hơn, các thế lực thù địch còn thực hiện các thủ đoạn tạo mối nghi ngờ, hiềm khích, gây chia rẽ Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, lực lượng vũ trang với các cơ quan Đảng, Nhà nước... 

Trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 66 khẳng định: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” và Điều 67 khẳng định: “Nhà nước xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”. Đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định rằng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc. 

Để góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất,cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, Công an là một nguyên tắc đã được Đảng ta khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.160-161). Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với việc thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Các tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải luôn chủ động đấu tranh, lên án, bác bỏ mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Thứ hai,coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhằm trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, giáo dục lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Làm tốt công tác tư tưởng, nhất là trong quản lý cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt chú trọng ngăn chặn, kiên quyết không để xảy ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.  

Thứ ba,các lực lượng chức năng trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần nâng cao hiệu quả các hình thức đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Có thể trực tiếp sử dụng các lực lượng, phương tiện, biện pháp công tác, thường xuyên rà soát, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung chống phá, các đối tượng viết bài (có tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog, diễn đàn để xác định đối tượng sở hữu, quản lý, viết bài và đề xuất biện pháp đấu tranh, xử lý. 

Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh, cả trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan báo chí để viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. 

Thứ tư,thông qua công tác nắm tình hình, lực lượng Quân đội và Công an cần thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, đẩy mạnh hoạt động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. 

Tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành có liên quan như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch... để trao đổi thông tin, định hướng công tác tuyên truyền; quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra, gửi yêu cầu các nhà mạng, nhà cung cấp dịch vụ internet xuyên biên giới để gỡ bỏ các thông tin xấu, gây phương hại đến quốc phòng, an ninh.  

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân cần được tiến hành thường xuyên, liên tục trong mọi giai đoạn cách mạng.

     

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...