Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

NVA41 - KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

 

Cách đây 70 năm, vào ngày 07 tháng 5 năm 1954 lịch sử, Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đã trở thành một mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, vì độc lập tự do trong thế kỷ 20. Chiến thắng lẫy lừng đó đã ghi vào lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, một trong những chiến công hiển hách, xứng đáng “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng hay Đống Đa trong thế kỷ 20".

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một trận tiêu diệt điển hình nhất và là trận đầu đánh thắng Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

          Và để làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa câu” đó chính là những yếu tố quan trọng mang ý nghĩa quyết định then chốt cho thắng lợi của chiến dịch.

          Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và phong kiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc xây dựng chế độ mới. Ngay từ ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tiến công quân sự, địch vận và nổi dậy của quần chúng; đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã tạo nên ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Nhân dân ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận.

Quân đội ta trưởng thành vượt bậc về tư tưởng chính trị, lực lượng, tổ chức chỉ huy, trình độ tác chiến, trang thiết bị quân sự và bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quân sự quy mô lớn chưa từng có; chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến trường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm hy sinh lập nhiều chiến công trên khắp chiến trường Đông Dương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chiến trường Điện Biên Phủ.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn có sự chi viện, cổ vũ và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh vì hoà bình của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có cả nhân dân Pháp, đặc biệt là của các nước trên bán đảo Đông Dương cùng chung chiến hào, đã tạo nên sức mạnh thời đại của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Có thể thấy, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng vẻ vang trong lịch sử của dân tộc mà chiến dịch này còn mang nhiều ý nghĩa thời đại to lớn.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch, trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám; mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không những là một mốc son chói lọi trong quá trình dựng và dựng nước của dân tộc ta mà còn mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương; Một nửa đất nước được giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành di sản tinh thần quý báu.

Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh lập chiến công hiển hách Điện Biên Phủ trên không năm 1972; Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hơn 38 năm qua, đưa đất nước ta lên một tầm cao mới, thế và lực mới, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế.

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, một Đảng Mác - Lênin chân chính; tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới - anh hùng giải phóng dân tộc, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta; tự hào về dân tộc anh hùng, về các lực lượng vũ trang nhân dân, về Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động: Tình hình Biển Đông luôn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, nguy cơ mất ổn định. Các nước lớn tiếp tục gia tăng can dự, cạnh tranh ảnh hưởng với mức độ quy mô khác nhau ở các khu vực. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn ra có thể gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới.

Sau khi bước vào giai đoạn hòa bình, đất nước theo xu hướng đổi mới, hội nhập để phát triển, thế và lực của đất nước ta đã lớn mạnh, nhưng bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan xen các thế lực thù địch gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền…để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng mài sắc cảnh giác, phát huy cao độ nội lực; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững và tăng cường đoàn kết quân dân, đoàn kết hữu nghị với nhân dân và Quân đội các nước theo truyền thống của Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta; kết hợp sức mạnh thời đại, tạo dựng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Các thế hệ đi trước không cam chịu làm nô lệ đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm, sáng tạo đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc. Các thế hệ ngày nay quyết tâm phát huy tinh thần Điện Biên Phủ, dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới, lập nên kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc, nâng cao tiềm lực quốc phòng. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, chất lượng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng - an ninh - kinh tế - đối ngoại. Chú trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa, tạo thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở các địa bàn chiến lược. Tổ chức các lực lượng vũ trang hợp lý, đồng bộ, cân đối giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, các quân binh chủng phù hợp với yêu cầu tác chiến mới. Tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương. Tích cực triển khai, phổ biến, tuyên truyền và thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân, tôn trọng, chấp hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

NVH40 - Cảnh giác với luận điệu chống phá công tác nhân sự của Đảng

 

Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) đang tiến hành thảo luận, bàn bạc, quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, có liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, như: phát triển kinh tế - xã hội, cải cách tiền lương, chính sách đại đoàn kết dân tộc, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV)... Trong đó, việc xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV) là công việc hoàn toàn bình thường, diễn ra theo kế hoạch, lịch trình trong các hội nghị, kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương đã được xây dựng trong cả nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, với bản chất, âm mưu, dã tâm xấu, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, Instagram… để tung tin xuyên tạc, kích động, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nội bộ trong Đảng nhằm thu hút sự chú ý, gây hoang mang dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân. Chiêu trò, thủ đoạn chủ yếu của chúng là lợi dụng việc Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đã phát hiện, xử lý kỷ luật một số Ủy viên Trung ương suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực… từ đó, suy diễn, quy chụp rằng: đây là sự tranh giành, đấu đá, hạ bệ nhau giữa các phe cánh trong Đảng.

Lần này cũng vậy, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) khai mạc sáng 2/10 thì ngày 3/10, trang Facebook Việt Tân đăng nội dung: “Nội bộ của Đảng đang bắt đầu tranh giành quyền lực. Họ sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt hạ lẫn nhau”. Vẫn sử dụng lại “bình cũ” đó, nhưng chúng thay “rượu mới”. Chúng rêu rao rằng, “Đảng đã làm thay Nhà nước, làm thay Quốc hội”. Với mục đích không thay đổi là chống phá, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, câu view, câu like, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội.

Trước hết, cần khẳng định rằng những luận điệu của các thế lực phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, không thể bôi nhọ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Trò cũ diễn mãi cũng nhàm, mọi chiêu trò xuyên tạc của Việt Tân chỉ tốn công, vô ích bởi lẽ, tất cả nhân dân Việt Nam đều suy nghĩ và nhận thức rằng: Với những cán bộ, đảng viên liêm chính thì dù làm ở vị trí nào, giữ cương vị gì, họ cũng đều có một mục đích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Họ đều làm việc, cống hiến vì nước, vì dân, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, không nên nhẹ dạ cả tin, kiên quyết đấu tranh đập tan mọi ý đồ xuyên tạc, vu khống của các đối tượng xấu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

NVH40 - Luận điệu xuyên tạc trắng trợn

 

Từ ngày 7 đến 12-4, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc theo lời mời của Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc Triệu Lạc Tế. Lợi dụng sự kiện ngoại giao này, các đối tượng xấu đã tập trung xuyên tạc, tung ra nhiều luận điệu xấu, độc nhằm kích động sự bất ổn, gây hoang mang dư luận.

Công kích chính sách đối ngoại của Việt Nam lâu nay vẫn là thủ đoạn được các đối tượng xấu tích cực thực hiện. Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, lợi dụng những mặt, những vấn đề còn bất đồng, các đối tượng xấu liên tục chọc ngoáy, kích động sự đối lập, thù hằn. Xung quanh chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Đoàn đại biểu cấp cao đến Trung Quốc, những luận điệu độc hại tiếp tục được các đối tượng xấu như Việt Tân, Chân trời mới Media, Tiếng dân News, RFA tiếng Việt… rêu rao. Bằng việc đưa ra các câu hỏi lập lờ theo kiểu “thấy gì qua chuyến thăm Trung Quốc?”, “thăm Trung Quốc làm gì mà ở đó một tuần?”, chúng đã hướng lái, dẫn dắt dư luận theo những suy nghĩ lệch lạc, không đúng thực tế. Chúng cho rằng, việc đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm Trung Quốc là “đi chầu thiên triều”, “tỏ lòng thuần phục”. Chúng tung ra thuyết âm mưu rằng “chính trường Việt Nam đang bất ổn, sắp xảy ra khủng hoảng trầm trọng nên phải đi Trung Quốc để xin ý kiến chỉ thị”(?!). Với những luận điệu sai trái này, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã cố tình gán ghép, quy chụp rằng Việt Nam lệ thuộc, phụ thuộc vào Trung Quốc - một luận điệu hết sức độc hại, đánh thẳng vào lòng tự tôn dân tộc.

Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nền độc lập của Việt Nam là nền “độc lập thực sự”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là nền độc lập “có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng”, “không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự độc lập hoàn toàn, tuyệt đối, trên tất cả lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao đến quốc phòng, an ninh... Không chỉ trong mối quan hệ với Trung Quốc mà trong tất cả mối quan hệ với bạn bè thế giới, Việt Nam đều giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Hơn ai hết, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự cay đắng, tủi nhục của một quốc gia không có độc lập, chủ quyền. Từ chính thực tiễn lịch sử cách mạng nước nhà, chúng ta nhận thức sâu sắc: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Chính vì vậy, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng kiên định nguyên tắc giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Những luận điệu cho rằng Việt Nam phụ thuộc, thuần phục vào Trung Quốc hay nước này, nước kia là hoàn toàn phi lý, vô căn cứ, mang tính chất xuyên tạc vô cùng trắng trợn.

Thực tế, việc các đoàn cấp cao của Việt Nam đi công tác, thăm và làm việc tại các nước đối tác là điều hoàn toàn bình thường. Từ đầu năm đến nay, nhiều đoàn công tác do các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi nước ngoài đã kết thúc tốt đẹp. Trong đó có thể kể đến như: đoàn công tác do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu dự WEF Davos 2024, thăm chính thức Hungary và Romania (từ ngày 15 đến 19-1); đoàn công tác của Thủ tướng đến thăm chính thức Austraulia (từ ngày 7 đến 9-3); đoàn công tác do Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai dẫn đầu thăm và làm việc tại Nhật Bản (từ ngày 31-3 đến 3-4)… Ngược lại, nhiều lãnh đạo các nước đã đến thăm và làm việc tại Việt Nam như: Đoàn công tác của Chủ tịch Quốc hội Bulgaria (từ ngày 5 đến 9-1), đoàn công tác của Thủ tướng Lào (từ ngày 6 đến 7-1), đoàn công tác của Thủ tướng Cộng hòa Séc (từ ngày 20 đến 22-4)… Việc đoàn cấp cao của các nước đến Việt Nam và của Việt Nam đi nước ngoài đã góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ đối tác giữa các bên, thúc đẩy sự hợp tác ngày càng sâu sắc, toàn diện, mang lại lợi ích cho đất nước.

Trong chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến Trung Quốc, nhiều nội dung quan trọng đã được các bên trao đổi. Ngoài việc tiếp xúc, làm việc, hội đàm với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nhân Đại Trung Quốc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và đoàn đại biểu còn tiến hành nhiều hoạt động như: thăm, gặp bà con kiều bào; tiếp, thăm các tập đoàn lớn của Trung Quốc… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình nhấn mạnh: Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, luôn mong muốn và sẵn sàng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, thực chất. Đây là những nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục phát huy mối quan hệ láng giềng “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Nói về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Thời gian qua, các hoạt động ngoại giao song phương và đa phương của nước ta diễn ra hết sức sôi động và hiệu quả. Nối tiếp những kết quả đã đạt được những năm trước, năm 2024, công tác đối ngoại tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta triển khai đồng bộ trên tất cả trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, ngoại giao nghị viện. Đây là minh chứng khẳng định thực lực của Việt Nam được bạn bè quốc tế coi trọng; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những kẻ đang xuyên tạc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước suy cho cùng cũng chỉ là những kẻ tiểu nhân, hẹp hòi, chống phá đất nước, cần phải lên án, đấu tranh, phản bác.

 

NVH40 - Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

 

Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ...

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.

Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng.

Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”.

Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ.

Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Lợi dụng chính các hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng chống phá công tác cán bộ của Đảng.

Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm,những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng lại càng được lợi dụng triệt để.

Trên thực tế, trong công tác cán bộ thời gian vừa qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Những sai phạm trong thực hiện quy trình cán bộ liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… vẫn còn xảy ra một số cơ quan, đơn vị gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Những hạn chế này có nguyên nhân là bởi một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm…

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhận thức và năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu kém và trong nhiều trường hợp còn chịu sự chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dẫn đến sai sót trong việc thực hiện các quy trình của công tác cán bộ.

Đặc biệt, đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm bị xử lý, kỷ luật là do chính họ không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tổn hại đến lợi ích của đất nước, nhân dân. Đó tuyệt đối không phải là sai lầm của chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ… như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền.

Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn…

Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ…

Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”.

Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị - xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

 

NVE40- ĐẤU TRANH LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ KINH TẾ VIỆT NAM

 

Với những âm mưu thủ đoạn chống phá Việt Nam các thế lực thù địch đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vục trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các thế lực thù địch, thế lực xấu vu khống rằng vì Đảng Cộng sản lãnh đạo nên đã gây ra biết bao khó khăn gian khổ và đau khổ cho người dân Việt Nam và thay vì tạo ra thiên đường trên mặt đất những chính sách của Đảng đã biến đất nước thành địa ngục trần gian. Chúng phủ nhận thành tựu kinh tế của Việt Nam, vu cáo thông tin kinh tế mà Việt Nam đưa ra là những con số chung chung, “muốn làm đẹp mặt cho chính quyền hơn, muốn bảo vệ thành tích cho Đảng nhiều hơn là cái chuyện chăm lo cho người dân”. Mới đây, phản động Việt Tân tung ra luật điệu xuyên tạc trên mạng: “Việt Nam đang rơi vào thời kỳ nguy hiểm cả về chính trị lẫn kinh tế - xã hội, trong một thế giới đầy rẫy hỗn loạn và bấp bênh”. Những kẻ chống phá còn trắng trợn kích động nhân dân: “Thay vì kêu gọi bỏ Tết cổ truyền để thoát nghèo. Chúng ta nên bỏ Đảng thì thoát nghèo nhanh hơn!”.

Song, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có đủ cơ sở để vạch rõ sự xuyên tạc, chống phá trên của các thế lực thù địch, thế lực xấu và khẳng định chắc chắn chúng sẽ thất bại như đều đã từng thất bại trước sự kiên quyết, kiên trì của chúng ta.

Trên thực tế, năm 2023 nền kinh tế Việt Nam đã có được những kết quả tích cực, toàn diện. Chỉ xin dẫn chứng một vài số liệu sau: GDP quy mô 430 tỷ USD, tăng trưởng đạt 5,05%, cao gấp 1,5 lần so với mức tăng trưởng 2,9% của kinh tế toàn cầu. Riêng trong hoạt động du lịch năm 2023 đã có 12,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng gấp 3,4 lần so với năm 2022. GDP bình quân đầu người ở Việt Nam trong năm đạt 4.284 USD, bước vào ngưỡng thu nhập trung bình cao. Văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng, hoạt động đối ngoại đều có tiến bộ đáng phấn khởi.

Không chỉ trong năm 2023, mà trong suốt quá trình đổi mới, chúng ta cũng đã có được những thành tựu hết sức to lớn. Nhân dịp kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2 /1930 - 3/2/2024) Tổng Bí thư đã có bài viết quan trọng “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”. Trong bài viết, Tổng Bí thư đã khẳng định nhờ thực hiện đường lối đổi mới mà nền kinh tế nước ta bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt chặng đường 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% năm. Từ năm 2008, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Điểm nổi bật là trong các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội Đảng, Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến đời sống mọi mặt của các tầng lớp nhân dân, như tinh thần mà Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xác định: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”.

Có thể khẳng định rõ ràng về thực tế đất nước theo đúng như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định: “Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên”; trong đó: “Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Chính sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự gắng sức, đồng lòng của toàn dân là yếu tố nội sinh dẫn đến những thắng lợi nêu trên của đất nước ta, qua đó củng cố thêm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ. Đó cũng là cơ sở để chúng ta tiếp tục tin tưởng vững chắc vào Đảng, vào tương lai tươi sáng của dân tộc, khẳng định thêm quyết tâm thực hiện thành công bài học kinh nghiệm, giải pháp quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã chỉ ra: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”./.

 

NVE40-BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Đảng, nhà nước ta quan tâm đó là một nơi cung cấp nguồn thông tin để Đảng, Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đất nước thế nhưng gần đây, trên một số đài báo thiếu thiện chí và các trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, các thế thực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; hạn chế nghiêm trọng tự do báo chí, tự do Internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, “giới hạn” quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân “có tiếng nói đối lập, ôn hòa...”. Cần phải khẳng định ngay rằng đó là một sự xuyên tạc, vu khống trắng trợn.

Thực tế cho thấy chúng ta chẳng lạ gì dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí thường xuyên lợi dụng để chống phá Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa, họ cũng không thể phủ nhận được thực tế, không thể xuyên tạc được sự thật.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán. Không chỉ là quyền cần phải bảo đảm mà Việt Nam còn xác định đó là một động lực cho sự phát triển của xã hội. Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, tự do biểu đạt của người dân. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Cùng với đó quyền tự do ngôn luận trên báo chí được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác...

Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền… Không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”… Có thể khẳng định rằng, hệ thống pháp luật Việt Nam về báo chí, phát thanh, truyền hình ngày càng được hoàn thiện theo hướng bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do biểu đạt của nhân dân.

Có thể khẳng định báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân; là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa tin nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chủng loại thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Việt Nam ngày càng phong phú và cập nhật hơn do nguồn cung cấp thông tin nhiều và đa dạng hơn. Hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, nhất là các buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp trên truyền hình. Nhiều chương trình đối thoại, tranh luận, trả lời, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa dạng về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh và truyền hình rộng rãi.

Như chúng ta thấy hiện nay trước sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí (bao gồm 138 báo và 670 tạp chí); 72 đài phát thanh, truyền hình; 666 cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện; 9.812 đài truyền thanh cấp xã…Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là Internet. Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet… Đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Ngoài ra, số lượng người dùng mạng xã hội để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng… cũng đạt con số hơn 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số… Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ.

Thế nhưng bất chấp những thành quả ấy, các tổ chức, cá nhân thù địch và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đáng lưu ý họ ngộ nhận rằng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt là quyền tuyệt đối. Họ cố tình lờ đi trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong quá trình thực thi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet, tự do biểu đạt ở Việt Nam không phải là quyền tự do vô hạn định, vô tổ chức mà phải theo khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do Internet trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp “có tiếng nói đối lập, ôn hòa…” mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tung hô thực chất họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; phát tán những luận điệu, tài liệu phản động gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, kích động gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân... nhằm phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Họ bị các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, điều tra và truy tố là do đã vi phạm pháp luật.

Thực tế sự phát triển toàn diện kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam thời gian qua đã cho thấy những cáo buộc rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “giới hạn” quyền tự do biểu đạt của người dân mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao là hồ đồ, vô căn cứ. Những giọng điệu lạc lõng bóp méo, xuyên tạc sự thật ấy là nhằm mưu đồ xấu. Thế nhưng họ sẽ không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển vì vậy mỗi chúng ta cần nhận thức đúng đắn vấn đề này tích cực đấu tranh bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó./.

 

NVE40- VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGHỊ QUYẾT SỐ 18-NQ/TW HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA XII)

 

Trước những yêu cầu phát triển mới của đất nước ngày 25-10-2017, Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (gọi tắt là Nghị quyết 18). Đây là Nghị quyết quan trọng, không những giải quyết căn cơ những bất cập về tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị trong quá trình đổi mới, mà còn thể hiện được ý Đảng hợp với lòng dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

 Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại triệt để lợi dụng Nghị quyết 18, lái quan điểm, mục tiêu, giải pháp đúng đắn, khoa học, phát triển của Đảng sang hướng khác. Chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả chỉ là cách làm theo kiểu giật gấu vá vai, chưa đi vào nguyên nhân gốc của sự cồng kềnh trong bộ máy, mà thực chất Nghị quyết 18 đưa ra là để triệt hạ nhau. Chúng vu cáo Nghị quyết là để cổ súy, phục vụ  cho lợi ích nhóm, tạo kẽ hở để người có chức, có quyền trục lợi. Chúng loan tin rằng Nghị quyết không mang tính xây dựng và Đảng sẽ đổ vỡ, tan rã khi quyết liệt thực hiện Nghị quyết 18... Đó là nhận định đầy hằn thù, hết sức sai lầm, thiển cận.

Thực tế chúng ta thấy rằng, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là việc Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện từ lâu, chứ không phải đến bây giờ mới tiến hành. Và trong quá trình đó đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy đất nước vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào quyết tâm chính trị của Đảng trong xây dựng bộ máy chính quyền theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo, trùng lặp... Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý và thiếu đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Bên cạnh đó, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo, dư thừa cán bộ cũng đang làm gánh nặng cho nguồn ngân sách...

Khẳng định kết quả đạt được và thực trạng đặt ra, để đất nước phát triển bền vững, Đảng ta xác định, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả không chỉ là vấn đề đặt ra từ thực tiễn mà nằm trong tổng hòa các mối liên kết, quan hệ từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng trong phát triển bền vững đất nước. Đây là một nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. 

Vì vậy trước những tác động khách quan, chủ quan và yêu cầu thực tiễn, có mặt cấp bách khi tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Nghị quyết 18 coi trọng, bảo đảm tính đổi mới, tổng thể, hệ thống, đồng bộ, liên thông; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; đổi mới tích cực, mạnh mẽ, nhưng không nôn nóng từ cực này nhảy sang cực kia; gắn đổi mới bộ máy tổ chức với đổi mới phương thức lãnh đạo, với tinh giản biên chế và cải cách tiền lương; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, người lao động... là bước đi chặt chẽ, khoa học, phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới. Là Nghị quyết mà ý Đảng đã nói đúng lòng dân. 

Bên cạnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là công nghệ thông tin, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế mở đã và đang tác động phương pháp quản lý điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi phải kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn nhưng phải đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả mới gần dân và thích ứng với điều kiện mới. Có thể thấy, Nghị quyết 18 đã đánh dấu sự đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, những bước đi rất cân nhắc, kỹ càng, tiến hành thận trọng và quyết liệt.

Có thể khẳng định việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là một trong những đòi hỏi tất yếu khách quan, hết sức cần thiết hiện nay trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động lại không chịu thừa nhận những chủ trương, đường lối, bước đi đúng đắn của Đảng và nhân dân ta mà lại hằn học, ra sức bóp méo, kích động. Do đó, chúng ta phải lên án, bài trừ các luận điệu kích động, chống phá của các thế lực, phản động./.

 

NVD40 - Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

 

“Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Đó là nội dung chính của Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 271A (III), ngày 10-12-1948. Hơn 70 năm tồn tại, Tuyên ngôn vẫn còn nguyên giá trị, được đánh giá là bản tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả, đã, đang và sẽ còn là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại.

Với mỗi quốc gia, dân tộc, việc kế thừa, phát triển, vận dụng, tuân thủ các giá trị của Tuyên ngôn có sự khác nhau nhất định, do chi phối bởi đặc thù về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, ... Nhưng có một điểm chung bắt buộc là, các quyền tự do ấy, phải trong khuôn khổ pháp luật, như chính Điều 29 và 30 của Tuyên ngôn quy định.

Tự do ngôn luận là tự do phát biểu ý kiến của mình bàn bạc một công việc chung; là quyền của công dân được tham gia bàn bạc, thảo luận, đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung của xã hội.

Thực tiễn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, chúng ta luôn phải đối mặt với các phần tử và thế lực thù địch cả ở trong và ngoài nước, trên nhiều lĩnh vực, mặt trận khác nhau, trong đó có mặt trận tư tưởng, thông tin. Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, vu khống các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên mọi lĩnh vực, phủ nhận các thành tựu đã đạt được, kể cả những thành tựu được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Tự do ngôn luận mà các thế lực thù địch sử dụng là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại. Vì vậy, chúng ta càn phải nhận thức đúng đắn trước những luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do ngôn luận của các thế lực thù địch. 

Đối với Việt Nam chúng ta, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta.  

NVD40 - Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975

 

   Như chúng ta đã biết ngày lễ 30 tháng 4, tên chính thức là Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, “Ngày Chiến thắng”, “Ngày Thống nhất” là một ngày lễ lớn của dân tộc Việt Nam, đại thắng mùa xuân đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta.

   Mốc son lịch sử quan trọng đó đã được cả thế giới ghi nhận, nhưng với dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử nhằm tuyên truyền sai lệch, làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ hoài nghi, phai nhạt niềm tin đối với Đảng. Mục đích của chúng nhằm chia rẽ Đảng với Nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những ngày này khi cả nước đang nô nức tổ chức các hoạt động để kỷ niệm, tưởng nhớ công lao của các ông, cha đã không ngại hy sinh, gian khổ chiến đấu giành chính quyền, thống nhất đất nước để non sông thành một dãi, cũng có không ít cộng đồng người Việt hải ngoại, gồm những người đã từng phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà cùng các thế lực phản động, có tư tưởng chống chính phủ hiện tại của Việt Nam gọi đây là ngày “Tháng Tư đen”, “Ngày Sài Gòn thất thủ”, “Ngày Quốc Hận”, Ngày Quốc nhục”, “Ngày mất nước”. Thông qua các bài viết trên trang mạng xã hội, facebook,… như trên trang Việt Tân, Chân trời mới media,… với bài viết là những luận điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận những hy sinh xương máu của nhân dân hai miền Nam – Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, cho rằng, nhân dân miền Bắc cướp quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bầu cử, tự do ứng cử của nhân dân miền Nam và cả nước, đó là sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ chứ không phải là thắng lợi của Việt Nam; hay chiến tranh Việt Nam là cuộc “nội chiến” huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam – Bắc.

   Rõ ràng những luận điệu trên hoàn toàn là xuyên tác, nhằm phá hoại trận địa tư tưởng của ta, hòng làm mất đi lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN. 48 năm qua, chiến thắng 30/4 vẫn nguyên vẹn cảm xúc trong mỗi người dân Việt Nam. Nghĩ về chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn này, chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh tụ tiền bối, các anh hùng liệt sỹ.... Điều đó đang tiếp thêm động lực mới cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

NVC40 - CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG - MƯU ĐỒ KHÔNG THAY ĐỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng hiện nay.  Mặc dù thế giới đương đại trong nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, song chủ nghĩa Mác – Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học vẫn là một cơ sở lý luận quan trọng hàng đầu hướng dẫn nhận thức và cải tạo thế giới. Lý tưởng về một chủ nghĩa cộng sản đem lại công bằng, hạnh phúc, không còn áp bức, bóc lột vẫn là ước mơ, hoài bão của hàng triệu con người trên toàn cầu. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được ra đời từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cả trước đây và hiện nay. Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, sự lựa chọn nền tảng tư tưởng của Đảng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà mang tính khách quan, khoa học.

Thực tế lãnh đạo đất nước hơn 90 năm qua đã cho thấy, nhờ kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, giành những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi đó đã đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chưa có tiền lệ, có nhiều khó khăn phức tạp. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta không tránh khỏi những khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Đó cũng là điều bình thường của một Đảng cầm quyền. Vấn đề quan trọng là Đảng ta không bảo thủ, trì trệ; đã kịp thời tự kiểm điểm một cách nghiêm túc để nhận ra và kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, với mục tiêu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước hết là tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng đã lợi dụng và thổi phồng những hạn chế đó, rồi xuyên tạc, quy chụp nguyên nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội còn ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nên đã tạo ra những sai lầm lịch sử. Chúng còn tìm mọi cách để bôi nhọ, xuyên tạc nhân cách đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới vì những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Dù các thế lực thù địch có nói gì đi chăng nữa, thực tiễn luôn là thước đo chuẩn xác nhất để kiểm chứng sự đúng - sai học thuyết, đường lối lãnh đạo của các chính đảng. Những thành tựu rất đáng tự hào, khởi đầu từ Cách mạng Tháng Tám trong gần 80 năm qua, nhất là gần 40 năm đổi mới của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn, không ai có thể xuyên tạc, bác bỏ được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cũng không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Sự hưởng ứng tích cực, tự giác việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các chỉ thị của Bộ Chính trị khóa X, khóa XI của đảng viên, cán bộ và đông đảo đồng bào cả nước, Việt kiều ở khắp nơi trên thế giới là minh chứng cho sự lan tỏa và sức sống sâu rộng của tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội hiện nay.

Việc phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng cũng là điều được các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn ráo riết, điên cuồng thực hiện trong suốt những năm qua. Những đòi hỏi phi lý về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện “tam quyền phân lập”, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; thiết lập nền kinh tế tư nhân hóa tuyệt đối; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang..., là thủ đoạn nham hiểm không phải ai cũng có thể nhận biết được ngay. Sự chống phá đó ngày càng có sự phát triển, biến đổi về thủ đoạn; từ lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ về công nghệ thông tin, truyền thông, tăng cường hợp tác, mở cửa của Đảng, Nhà nước ta, đến lợi dụng ngay những khuyết điểm, sai lầm trong tổ chức quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng. Đáng chú ý là, bên cạnh các thế lực thù địch, các phần tử chống cộng cực đoan, gần đây còn có sự phụ họa của một số phần tử cơ hội chính trị, bất mãn và cả một số ít cán bộ, đảng viên bị chúng lợi dụng. Dù có cố tình che đậy như thế nào chăng nữa, nhưng mục đích, mưu đồ của chúng không hề thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những ý kiến như vậy đã được làm rõ từ lâu và đã bị thực tế lịch sử hoàn toàn bác bỏ. Dân chủ và sự phát triển, ổn định của một quốc gia không phụ thuộc vào đa đảng hay độc đảng mà phụ thuộc chủ yếu vào bản chất của đảng cầm quyền khi đảng đó đại diện và phục vụ cho ai là chủ yếu. Viện dẫn những điều cơ bản trên, để thấy rằng, thực tế cách mạng Việt Nam khẳng định, nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn còn nguyên giá trị, là “kim chỉ nam” dẫn dắt nhân dân ta tiến tới “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, thực hiện đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại.

 

NVC40 - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

 

Thời gian gần đây đã có không ít một số thành phần phản động đã đưa tin, bài lên các trang mạng xã hội nhằm tung ra những thông tin, luận điệu xuyên tạc phản động nhằm nói xấu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Hai nước Việt Nam và Lào có chung đường biên giới, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, uống chung dòng nước sông Mê Công. Lịch sử đấu tranh và phát triển của nhân dân hai nước đã khiến hai dân tộc Việt Nam và Lào thân thiết, gắn bó với nhau từ bao đời nay. Mối quan hệ keo sơn đó càng được phát triển và đậm nét hơn trong hơn tám thập niên qua, khi nhân dân hai nước cùng tiến hành sự nghiệp cách mạng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Tuy nhiên, cùng với những diễn biến và thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu vực hiện nay, các thế lực thù địch, phản động liên tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; “phi chính trị hóa” quân đội hai nước, tách sự lãnh đạo của Đảng với quân đội..., từ đó phá hoại và gây chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cũng như tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; phủ nhận ý nghĩa cao đẹp, nghĩa vụ quốc tế cao cả của quân đội Việt Nam với cách mạng Lào (?!) 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động còn sử dụng những chiêu bài của “cách mạng màu”, như lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, viện trợ kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh tâm lý... để can thiệp vào công việc nội bộ của hai nước nhằm chống phá chế độ chính trị và mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, âm mưu hướng lái hai nước đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Lợi dụng việc Việt Nam và Lào mở cửa hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc đường lối cũng như những thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế của hai nước… Họ ra sức lôi kéo, xúi giục, kích động người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên trái phép, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để hình thành tư tưởng ly khai, chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, tôn giáo, sắc tộc vùng biên giới hai nước…, gây mất trật tự trị an, phá vỡ sự ổn định về chính trị - xã hội hai nước.

Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tập trung khai thác những thách thức từ chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn đối với các vấn đề khu vực, những tác động của các vấn đề an ninh phi truyền thống và một số điểm không “song trùng” lợi ích quốc gia - dân tộc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau, gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ và chống phá tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, sắt son, hiếm có giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Những yếu tố làm nên giá trị quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Nối tiếp truyền thống của Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - biểu tượng của mối quan hệ vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước trong thời kỳ cùng kề vai sát cánh đấu tranh chống ách thống trị và xâm lược của thực dân, đế quốc, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày nay tiếp tục được xây dựng, phát triển trên nền tảng cùng chung ý thức hệ cũng như mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước cả ở Việt Nam và Lào đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Marxist - Leninist, có cội nguồn chung là Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào vẫn luôn duy trì mối quan hệ gắn bó mật thiết, hết lòng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dù tình hình mỗi nước hay bối cảnh quốc tế, khu vực, cũng như các mối quan hệ quốc tế của mỗi bên có nhiều thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam và Lào có chung hoàn cảnh, gần gũi về địa lý và điều kiện tự nhiên, có chung mục tiêu phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nếu không có sự nhất trí về quan điểm, tư tưởng, đường lối chiến lược thì hai nước khó có thể xây dựng được mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, sắt son, hiếm có như hiện nay. Hai nước cùng có chung mục đích, lý tưởng theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; có chế độ chính trị và nhà nước tương đồng, đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Lào từ 600 đến 700 suất học bổng đào tạo ngắn hạn và dài hạn. Hiện nay, có khoảng hơn 14.000 sinh viên Lào đang theo học tại các cơ sở giáo dục Việt Nam và 250 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Lào. Đây là những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển của mỗi nước và là cầu nối không thể thiếu trong việc duy trì, tăng cường hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Bên cạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam còn giúp đỡ Lào trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hệ thống trường học với tổng mức đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đồng bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam.

Hai nước xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất. Sự tương đồng giữa hai Đảng, hai bộ máy nhà nước và lý tưởng chung xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng tạo nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới.

Trong hơn 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định, quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả. Những bài học lịch sử của mối quan hệ mẫu mực Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; những tư tưởng chỉ đạo và nội dung hợp tác nêu trong bản Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác vẫn vẹn nguyên giá trị và là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tiến trình phát triển của mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được coi là lẽ sống, là tình nghĩa trước sau như một, dù khó khăn, gian nan đến mấy cũng không thể chia tách. Mối quan hệ đặc biệt hiếm có Việt Nam - Lào đang tiếp tục được vun đắp trên cơ sở vì lợi ích và mục tiêu chung của hai quốc gia, với tinh thần quốc tế trong sáng, đưa cách mạng hai nước từng bước vượt qua những thử thách, chông gai và là hành trang quý giá, là cơ sở vững chắc để các thế hệ hai nước hiện nay và mai sau tiếp tục phát huy tình đoàn kết, xây dựng mối quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác giữa hai nước “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./.

NVB40 - PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

 

Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục. Chúng cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, và kêu gọi các quốc gia không công nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước Việt Nam trong phát triển kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay.


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực tiễn qua hơn 37 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỷ USD vào năm 1989, thì đến năm 2023 đã đạt 430 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD, thì đến năm 2023 đã đạt 4.284 USD. Việt Nam trở thành một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới; là điểm sáng trên toàn cầu trong việc thực hiện thành công “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Những kết quả đó là minh chứng đanh thép phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: Tình trạng khủng hoảng, tham nhũng, thất nghiệp, lạm phát; gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội; cạn kiệt tài nguyên; ô nhiễm môi trường… Những hạn chế này bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự điều tiết và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên; đồng thời, bảo đảm tính ưu việt, nhân văn, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...