Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

NVC41 - ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH VẺ VANG

 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng qua đi nhưng tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của chiến thắng Điện Biên Phủ thì ngày càng tỏa sáng. Nếu chúng ta nêu cao tinh thần yêu nước, có ý chí quyết tâm và tinh thần sáng tạo thì việc khó mấy chúng ta cũng làm được.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đặt dấu chấm hết cho chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta và bán đảo Đông Dương. Nếu không có Điện Biên Phủ thì không thể có Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Thắng lợi của chín năm kháng chiến trường kỳ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần to lớn bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo ra các tiền đề, điều kiện để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vươn tới giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng XHCN miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện mang tầm vóc thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn cầu. Bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, sức sáng tạo chống ngoại xâm trước toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Bác Hồ. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn là chiến thắng của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự Việt Nam; là chiến thắng của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là thắng lợi của đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…”. Cùng với nhân dân cả nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua vô vàn gian nan, thử thách, chiến đấu kiên cường, bền bỉ, sáng tạo, góp phần quyết định làm nên chiến thắng...

Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào giai đoạn lịch sử mới chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Với đường lối cách mạng đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu hết sức quan trọng. Sự phát triển vượt bậc của đất nước đã tạo ra những động lực lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nhân loại đã bước qua những thập niên đầu của thế kỷ 21. Tuy giành được những thành tựu rất đáng tự hào và phía trước có những thời cơ mới mở ra nhưng Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khơi dậy niềm tự hào dân tộc, kế thừa và phát huy cao độ những bài học quý báu của chiến thắng. Tình hình thế giới và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cho toàn dân, chúng ta phải đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để xứng đáng với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Quân đội ta phải được giáo dục, huấn luyện chu đáo cả về bản lĩnh chính trị, lòng trung thành, tinh thần cảnh giác cách mạng; cả tư tưởng và tổ chức; cả trình độ kỹ thuật, nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị - công nghệ quân sự... Có như vậy chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội mới không ngừng được nâng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên của nhân dân.

70 năm nhìn lại chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong hòa bình nhắc nhở chúng ta phải ra sức phấn đấu để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ cha, anh. Dù phía trước còn nhiều nguy cơ, thách thức nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống Điện Biên Phủ không ngừng được phát huy, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Điện Biên Phủ mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam./.

 

NVH40 - Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ

 

Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng cá nhân và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, phần tử xấu đã “điên cuồng” chớp thời cơ để thêu dệt, xuyên tạc thông tin, làm sai lệch bản chất vấn đề để chống phá Đảng, Nhà nước.

Trên các trang nhóm phản động “Việt Tân”, “Dân làm báo”, “RFA”,… thường xuyên đăng tải các bài viết có luận điệu xuyên tạc, hướng lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”, “bất ổn chính trị”... Mục đích, thông qua việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên hòng hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, miễn nhiệm, từ chức là việc diễn ra bình thường, không chỉ ở Việt Nam, mà ở nhiều nước trên thế giới, không phải đến bây giờ mới có. Việc từ chức của cán bộ hoàn toàn không thể và không phải do bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có thể ép buộc, áp đặt vô căn cứ. Đảng và Nhà nước ta đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ căn cứ pháp lý đối với việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ.

Vấn đề miễn nhiệm, từ chức đã được đặt ra trong các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước, cụ thể tại Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Mục tiêu của việc miễn nhiệm cán bộ vừa đáp ứng nguyện vọng của cá nhân, vừa góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đảm bảo đúng quy định.

Qua đây, mỗi người dân chúng ta càng nhận thấy rõ hơn bản chất và thủ đoạn của các đối tượng chống đối là không thay đổi. Từ đó, cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết lên án, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

NVH40 - Luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công với cách mạng

 

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nhất là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã dâng hiến tuổi thanh xuân, hy sinh xương máu hoặc hoặc phải mang thương tật suốt đời; hàng vạn Mẹ Việt Nam anh hùng hoặc thân nhân các gia đình thương bệnh binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng… đã phải chịu đựng sự mất mát, tổn thất to lớn không gì có thể bù đắp được… !

Đó là những điều, những chân lý không thể chối cãi được, do đó trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm chăm lo cho các gia đình thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng… với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”; "Ðền ơn đáp nghĩa"… 

Tuy vậy, với bản chất phá hoại, vơi luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị… chẳng những không tỏ lòng thành kính, tri ân các anh hùng, liệt sĩ và đồng bào đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc mà luôn tìm những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công để đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video với nội dung vu cáo “chính quyền không quan tâm”, “người có công bị bỏ rơi”… 

Cùng với đó, họ đánh đồng sự hy sinh thiêng liêng, cao cả của những anh hùng giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước với những kẻ phản cách mạng, những kẻ làm tay sai cho thực dân, đế quốc, những kẻ ác ôn, có nợ máu với nhân dân, đồng bào…với mục đích sâu xa là xuyên tạc sự thật, đổi trắng thay đen, phủ định những cống hiến của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh …trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công với cách mạng.

Thực tế trong suốt 77 năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác “đền ơn, đáp nghĩa”, đối với người có công với cách mạng, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Nghị quyết Đại hội XIII đã khẳng định: “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”.

Cùng với đó, không ngừng hoàn thiện, bổ sung thể chế, chính sách ưu đãi đối với người có công và thân nhân người có công, bảo đảm mỗi người có công đều được hưởng chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước.

Quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nhất là đối với thế hệ trẻ về lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc và sự chiến đấu, hi sinh anh dũng các thế hệ cha anh. Tích cực chăm lo người có công bằng các chính sách cụ thể như: Chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế, ưu tiên giao đất sản xuất, hỗ trợ cải thiện về nhà ở, đất ở, các chương trình dạy nghề, tạo việc làm; thực hiện chính sách về giáo dục, đào tạo; mở rộng hệ thống cơ sở dịch vụ và sự nghiệp phục vụ thương binh; đẩy mạnh tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ; xây dựng và tu bổ, tôn tạo hàng nghìn nghĩa trang liệt sĩ… 

Hiện cả nước có trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm giải quyết chế độ trợ cấp một lần cho 6 đến 8 nghìn trường hợp, đưa trên 580 nghìn lượt người có công đi điều dưỡng định kỳ. Mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng được quy hoạch tổng thể, rộng khắp trong cả nước với 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nhân sự đủ để đáp ứng cơ bản yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công, nhất là thương binh nặng. Tính đến năm 2022, cả nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên khắp cả nước. Tất cả Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống luôn được chăm lo đời sống bằng nhiều việc làm cụ thể như tặng quà, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới nhà tình nghĩa; được các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời...

Sự quan tâm, vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong công tác “đền ơn, đáp nghĩa” đã góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công với cách mạng, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Đồng thời, là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động đối với sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân./.

 

 

NVH40 - Phản bác luận điệu xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận

 

Ngày 7/11, trên trang mạng phản động “Việt Nam thời báo” đăng tải và phát tán “Báo cáo biểu đạt toàn cầu năm 2023” của tổ chức Hiến chương 19 (Article 19) có nội dung xuyên tạc quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Các phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc cho rằng: “Việt Nam đang ở trong tình trạng khủng hoảng về tự do ngôn luận”, đòi Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận như là điều kiện tiên quyết của quyền phát triển cho người dân Việt Nam

Cần khẳng định ngay rằng, đây là chiêu trò cũ rích nhằm phát tán tin giả, tin sai sự thật, quy chụp, xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam; đồng thời chúng lôi kéo một bộ phận công dân thiếu hiểu biết để lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có những hành động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như: Làm, tàng trữ, phát tán tài liệu chống phá, lật đổ Nhà nước; xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác; họ tiếp tục cổ súy cho những cái gọi là “giá trị dân chủ” theo kiểu phương Tây, bịa chuyện, nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, kích động hằn thù dân tộc, tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền văn hóa xấu độc.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân được bảo đảm một cách vững chắc bằng luật pháp. Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân; điều đó được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí 2016 đã ghi: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí,…”

Thực tiễn trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định và nỗ lực bảo đảm, thực thi tốt nhất quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Xác định đây là giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo số liệu thống kê, năm 2022 Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Đội ngũ các cơ quan báo chí, nhà báo đã và đang có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đi đầu trong đấu tranh với các tệ nạn xã hội; phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; đấu tranh, vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; tích cực đề xuất, phản biện một cách khoa học về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; góp tiếng nói vào việc xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; làm cầu nối hữu nghị để mở rộng quan hệ của Việt Nam với bè bạn quốc tế…

Tuy nhiên, tự do ngôn luận của công dân phải trên cơ sở của pháp luật, tránh việc sử dụng quyền tự do ngôn luận bừa bãi gây hậu quả nghiêm trọng; mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân đều bị nghiêm cấm và có chế tài xử lý nghiêm khắc. Do đó, việc tìm hiểu và thực hiện nghiêm túc pháp luật về tự do ngôn luận là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân. Đối với các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền các thông tin chính thống, tích cực, nhận diện và đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, kích động gây mất an ninh trật tự. Đồng thời cần kịp thời phát hiện, điều tra để xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận để xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước và của tổ chức, cá nhân; không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng, bôi xấu chế độ, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, hòng gây mất niềm tin, gieo rắc sự hoài nghi, chống phá Nhà nước, chống phá chế độ, hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế./.

 

NVH40 - Sự xuyên tạc, kích động thâm hiểm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

 

Thứ nhất, đường lối, chính sách, các chiến lược, kế hoạch... phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay đều khẳng định rất rõ ràng, biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; lợi ích quốc gia trên biển là vấn đề trọng yếu, thường xuyên và lâu dài của Việt Nam. Ngay từ thời điểm đang phải dồn toàn lực để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dù khó khăn trăm bề, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã kịp thời đưa lực lượng, phương tiện đi giải phóng các đảo từ tay chế độ cũ, thể hiện tầm nhìn trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Trong suốt những năm qua, Việt Nam luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tất cả lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển Việt Nam đã được luật pháp quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định. Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã nhiều lần phát ngôn công khai, khẳng định rõ lập trường, quan điểm nêu trên.

Hệ thống quan điểm của Đảng ta về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Điều đó được thể hiện rõ qua các văn kiện của mỗi kỳ đại hội Đảng. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Trong đó, Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề trên biển hiện nay.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn ưu tiên dành mọi nguồn lực tốt nhất cho nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển, đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh tại địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân yên tâm bám biển, làm giàu từ biển. Nhiều ngành kinh tế biển được chú trọng như khai thác dầu khí, vận tải biển, điện gió ngoài khơi, du lịch biển, đảo, phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học... Tất cả hoạt động kinh tế biển đó thể hiện tính chất của nền quốc phòng toàn dân, thực hiện sách lược gắn kinh tế với quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

 Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.

Thứ ba, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Đảng, Nhà nước ta thực hiện triết lý “Ngoại giao cây tre” mà bản chất là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt. Mục tiêu lớn nhất là tránh được xung đột, không để xảy ra chiến tranh, giữ gìn môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng đồng thời bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc với quyết tâm cao nhất. Chúng ta biết nhu, biết cương, biết thời thế, biết thực lực, biết mình, biết người, biết tiến, biết lui đúng lúc, hợp thời. Đó cũng là thực hiện triết lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Lạt mềm buộc chặt” mà ông cha ta đã đúc rút từ các bài học đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của nước ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn.

Thứ tư, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng kiểm ngư vững mạnh, với trang bị, phương tiện ngày càng đồng bộ, hiện đại đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các lực lượng nêu trên luôn có tinh thần, quyết tâm cao, kiên quyết, kiên trì, kiên cường thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, không có chuyện “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”... như kẻ xấu xuyên tạc, vu cáo.

Thứ năm, Đảng, Nhà nước quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Công tác tuyên truyền đã thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự quản lý thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, tạo đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Do đó, những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo rõ ràng là xuất phát từ những mưu đồ đen tối, âm mưu kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới, cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời.

 

NVH40 - Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

 

Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa.


Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên, nhưng đều bị từ chối.


Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại. Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người.


Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà””.


Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung.


Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận, với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.


Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình.


Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.


Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam.

 

 

NVG40 - KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN NHỮNG Ý KIẾN DỰA TRÊN QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI LỊCH SỬ

 

Liên quan đến vấn đề về hòa giải, hòa hợp dân tộc, tôi có đọc bài phỏng vấn ông Vũ Minh Giang được báo Công Lý của TAND Tối cao đăng ngày 29/4/2019, với tiêu đề đã được sửa đổi “GS.TSKH Vũ Minh Giang: Đại đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tôi không đồng ý với ý kiến của ông, bởi vì ông đặt sai vấn đề. Trước hết phải nhìn nhận thực chất vấn đề, tại sao „chiến tranh diễn ra trên đất Việt Nam hết sức khốc liệt“. Nguyên nhân sâu xa là: Đế quốc Mỹ muốn biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới; Bằng sức mạnh của vũ khí tối tân và sự tiếp tay của bè lũ tay sai, phe „diều hâu“ của Hoa Kỳ muốn đè bẹp khát vọng thống nhất non sông của chúng ta; Nhưng những người Việt yêu nước chân chính đã không chịu khuất phục trước vũ lực và cương quyết „đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào“ và „dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn“. Cho đến giờ phút này, nhiều thế lực chính trị trong và ngoài nước vẫn không chịu từ bỏ mưu đồ lật đổ Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những thủ đoạn đen tối của họ là tạo ra một làn sóng chống đối và hòai nghi trong dân chúng thông qua luận điệu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa xét lại lịch sử. Bằng nhiều cách tinh vi họ muốn làm xói mòn từng bước lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Ðảng.

Xin nói thêm, ở phương Tây, Chủ nghĩa xét lại lịch sử được hiểu là những nỗ lực muốn sửa đổi sự nhìn nhận lịch sử đã được chính trị, xã hội và khoa học công nhận bằng cách trình bày, giải thích và / hoặc diễn giải một số sự kiện theo cách khác biệt so với khoa học lịch sử đương đại. Ở các nước nói tiếng Đức, thuật ngữ này đề cập đến sự giả mạo lịch sử có chủ đích và giả khoa học. Đại diện của những nỗ lực này thường xem mình là "người xét lại" và họ cũng được gọi như vậy. Tuy nhiên, thuật ngữ Chủ nghĩa xét lại ban đầu xuất phát từ lịch sử dân chủ xã hội Đức và không giới hạn trong việc diễn giải lại lịch sử. Ở các nước nói tiếng Anh thì khác, thuật ngữ này được dùng cho sự diễn giải lại lịch sử trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm mới.

Có thể cho rằng, ý kiến của GS.TSKH Vũ Minh Giang trong bài phỏng vấn phát biểu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa xét lại lịch sử. Tác hại của quan điểm này là có thể gây ra sự hiểu nhầm về nguồn gốc của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam trong mấy thế kỷ qua. Bởi vì chúng ta và cha anh đã vượt Trường Sơn để ra trận không phải vì chúng ta thích chém giết kẻ thù mà bởi vì kẻ thù buộc chúng ta phải cầm súng để tự vệ. Sự tàn bạo và dã man chính là bản chất của đội quân xâm lược và vì tiền những kẻ đánh thuê đã quên đi tình yêu thương đồng loại.

Cần nhấn mạnh, nhiều nhà khoa học và chính trị gia ở ngay phương Tây gần đây cũng chỉ rỏ, tại sao các nước phương Tây tiến hành những cuộc chiến đẫm máu trong mấy thập kỷ trên toàn thế giới, trong đó có cuộc xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chống lại người dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Thí dụ, từ giữa tháng ba 2019, ở Đức người đọc có thể mua cuốn sách của ông Jürgen Todenhöfer, một Luật gia, Nhà báo Đức nổi tiếng, cựu dân biểu Quốc hội Đức (CDU), THÓI ĐẠO ĐỨC GIẢ TUYỆT VỜI – CHÍNH TRỊ VÀ TRUYỀN THÔNG ĐÃ PHẢN BỘI CÁC GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO, tên tiếng Đức Die große Heuchelei - Wie Politik und Medien unsere Werte verraten. Nhà xuất bản giới thiệu cuốn sách: „Chính sách đối ngoại của phương Tây dựa trên một sự dối trá to lớn: Các can thiệp quân sự trên toàn thế giới đã phục vụ trong nhiều thế kỷ không phải vì nhân quyền hay các giá trị và mục tiêu cao cả khác, mà luôn luôn vì lợi ích kinh tế hoặc địa chiến lược…“ và „Tác giả Jürgen Todenhöfer kêu gọi phương Tây, cuối cùng hãy giữ đúng lời hứa hàng thế kỷ là sẽ làm gương về nhân quyền, thay vì chỉ theo thói đạo đức giả hoặc ức hiếp các dân tộc khác và lạm dụng nền văn hóa của họ. Ở đâu, nơi đó vì lợi ích, thì phương Tây nên nói một cách rõ ràng. Chính sách cho đến ngày hôm nay của thói đạo đức giả và coi thường lợi ích của các dân tộc và nền văn hóa khác đã phá tan tính hợp pháp và uy tín của phương Tây và làm suy yếu nền dân chủ …“. Trong một statut đăng hôm 30-4-2109 trên trang FB cá nhân, tôi có giới thiệu chi tiết hơn cuốn sách này và tác giả.

Đoàn kết dân tộc là cần thiết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng điều đó không có nghĩa là quên lịch sử hoặc viết sai lịch sử. Tôi tin rằng, thời gian tới, những thế lực thiếu thiện chí hoặc thù địch với Việt Nam sẽ sử dụng ý kiến của GS.TSKH Vũ Minh Giang để xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đường lối hòa giải, hòa hợp dân tộc. Còn với vấn đề xét lại lịch sử, tôi muốn nhắc lại suy nghĩ của tôi đã thể hiện trong bài Những quan điểm sai trái trong nghiên cứu lịch sử, báo Nhân Dân đã đăng trên mục Bình luận - Phê phán hôm 20-03-2014, trong đó có đoạn: “… Dù động cơ trong sáng thì khi xét lại lịch sử vẫn phải thận trọng, cần nhìn nhận vấn đề trong hoàn cảnh cụ thể, có quan điểm lịch sử, cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật. Với người đọc cũng vậy, cần tỉnh táo để nhận biết đúng sai, để không bị chi phối rồi hoài nghi về quá khứ, hoang mang về tương lai đất nước. Riêng với luận điệu của các thế lực thù địch, và các hành vi lợi dụng “xét lại lịch sử” để kích động hận thù dân tộc, tôi nghĩ Nhà nước và các nhà nghiên cứu cần có biện pháp thiết thực, kịp thời lên tiếng phê phán quan điểm sai trái để vừa giữ gìn sự lành mạnh của môi trường tri thức, vừa điều chỉnh nhận thức chung của xã hội”.

 

 

 

NVG40 - Bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 

56 ngày đêm kiên cường chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của quân viễn chinh Pháp. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung có ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Kháng chiến kiến quốc, dựa vào sức mình là chính

Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh một chân lý thời đại: Một dân tộc dù nhỏ, nếu quyết tâm, đoàn kết chiến đấu và có một đường lối đúng thì có thể đánh bại bất cứ cuộc chiến tranh xâm lược nào. Đó là đường lối kháng chiến kiến quốc đã khơi dậy và phát huy sức mạnh của "thế trận lòng dân".

Về tính chất cuộc kháng chiến, Đảng ta khẳng định: Đây là cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa, có tính chất toàn dân, toàn diện, lâu dài. Trung ương Đảng chủ trương liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động, thực dân Pháp, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, công lý và hòa bình. Phương châm kháng chiến: Tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện “kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính”.

Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất là chiến lược toàn dân kháng chiến. Đảng tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc, phát huy sức mạnh của toàn dân và khối đoàn kết toàn dân tộc tham gia kháng chiến với những biện pháp đa dạng, phong phú, phù hợp. Từ đó làm cho quần chúng nhân dân trên khắp cả nước xác định trách nhiệm và quyết tâm đứng lên cứu nước.

Đường lối kháng chiến của Đảng là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc; là sự vận dụng lý luận chiến tranh cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm nước ngoài vào điều kiện Việt Nam. Đường lối đó là ngọn cờ dẫn dắt và là động lực chính trị, tinh thần đưa quân, dân ta tiến lên chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngày càng phát triển, giành thắng lợi vẻ vang.

Sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, Nhà nước dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh, Mặt trận Việt Minh, Liên Việt và các đoàn thể cách mạng đã tập hợp rộng rãi khối đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt, trên mặt trận quân sự, Quân đội và nhân dân Việt Nam lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh lớn của thực dân Pháp, tiêu biểu là Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954), buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra giai đoạn mới cho lịch sử dân tộc, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hướng đến mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước.

Chuẩn bị toàn diện ở tiền tuyến và hậu phương

Thực hiện quyết tâm: “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”, công tác dân vận được tổ chức chặt chẽ nhằm huy động tối đa các nguồn lực phục vụ Mặt trận Điện Biên Phủ. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã được huy động ở mức cao nhất.

Quân và dân ta ở khắp các địa phương trong cả nước, từ Tây Bắc, Liên khu 3, Tả Ngạn, đến Bình Trị-Thiên, Liên khu 5, Bắc Tây Nguyên, Sài Gòn-Gia Định, Nam Bộ... đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và nhân dân, buộc thực dân Pháp phải phân tán chủ lực. Các lực lượng thanh niên, phụ nữ từ thành thị đến nông thôn, từ vùng núi đến đồng bằng tích cực tham gia nhiều cuộc đấu tranh chính trị, phá tề, trừ gian. Đây là những hoạt động phối hợp kịp thời của cả nước, tác động tích cực tới chiến trường Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng lưới đường giao thông chiến lược hầu như chưa có; miền Tây Bắc mới được giải phóng, kinh tế chậm phát triển. Vì thế, bảo đảm hậu cần, y tế, kỹ thuật cho chiến dịch lớn, dài ngày gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong trận quyết chiến chiến lược. Khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” được nhân dân hưởng ứng cả ở vùng tự do cũng như ở nhiều vùng tạm bị chiếm.

Các đoàn dân công lên đường với tinh thần hăng hái, phấn khởi được tổ chức chặt chẽ, hiệu quả với niềm tin nhất định thắng lợi. Nhờ đó, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đã đóng góp hơn 260.000 dân công (với hơn 14 triệu ngày công), hơn 25.000 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Bộ đội và dân công đã sử dụng gần 21.000 chiếc xe đạp thồ, được gọi với tên “binh chủng xe đạp thồ” hoạt động trên cung đường dài hàng nghìn ki-lô-mét. Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên Phủ là điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử, trở thành nhân tố quan trọng bảo đảm cho chiến dịch toàn thắng.

Cùng với việc tích cực chuẩn bị cho chiến trường chính, ở hậu phương, trong lĩnh vực kinh tế tại vùng mới giải phóng, Đảng ta tiến hành chủ trương triệt để giảm tô, thực hiện cải cách ruộng đất. Từ tháng 4-1953 đến 7-1954, Đảng đã lãnh đạo tiến hành 5 đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất. Chủ trương kịp thời đó đã động viên được các tầng lớp nhân dân ở vùng tự do, vùng mới giải phóng và sau lưng địch, thậm chí cả cán bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhân lên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tích cực dồn sức người, sức của bảo đảm sự toàn thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp cũng như trong thời gian diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ đã thành công trong việc vận động nhiều địa chủ, tư sản dân tộc cùng con em, gia đình họ tham gia kháng chiến. Điều này là một minh chứng khẳng định rõ, muốn bảo đảm và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thì phải khơi dậy, phát huy những lợi ích chính đáng của từng cá nhân, từng tầng lớp, từng giai cấp để tạo ra khối đoàn kết thật vững chắc, sự đồng thuận của tuyệt đại đa số nhân dân.

Mở rộng và tăng cường sức mạnh Mặt trận Dân tộc thống nhất

Để phát huy sức mạnh tổng hợp, Đảng ta chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiến công địch trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược, thống nhất toàn dân, làm cho Mặt trận Dân tộc thống nhất ngày càng vững chắc và rộng rãi.

Xây dựng bộ máy kháng chiến vững mạnh, thống nhất quân-dân-chính trong toàn quốc, phát triển các đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến toàn dân. Phải cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta, chống lại thực dân phản động Pháp. Coi trọng xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Nhà nước và Mặt trận Dân tộc thống nhất vững mạnh.

Ngày 3-3-1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức của đẩy mạnh cuộc kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Mặt trận Liên Việt là vũ khí chính trị không thể thiếu, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc...”. Thực tiễn thành tựu của đất nước qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là minh chứng sinh động về xây dựng “thế trận lòng dân”.

Qua đó đã khơi dậy, quy tụ được lòng yêu nước, ý chí quyết tâm cao của toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới, tinh thần của Điện Biên Phủ anh hùng 70 năm trước giờ đây vẫn hiện hữu. Trong đó, việc phát huy tinh thần đại đoàn kết, “thế trận lòng dân” trong đẩy lùi dịch bệnh, phòng, chống thiên tai, chung sức, đồng lòng, giúp nhau vượt qua khó khăn... tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc.

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trước hết cần phải phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Trong quá trình đó, MTTQ Việt Nam đóng vai trò nòng cốt tập hợp, vận động thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, tôn giáo, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số... làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hành dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; phát động và triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, MTTQ Việt Nam đã và đang triển khai nhiều hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, như: Thực hiện Đề án vận động hỗ trợ làm nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo ở các tỉnh Tây Bắc; tổ chức các hoạt động tôn vinh, tri ân các anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ... Điều này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và nhân dân trong cả nước.

Qua đó, tạo được sự tin tưởng của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, làm cơ sở củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.

NVE40- BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BIỂU ĐẠT

 

Gần đây, trên một số đài báo thiếu thiện chí và các trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài, các thế thực thù địch, phản động vẫn rêu rao rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”; hạn chế nghiêm trọng tự do báo chí, tự do Internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, “giới hạn” quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân “có tiếng nói đối lập, ôn hòa...”. Cần phải khẳng định ngay rằng đó là một sự xuyên tạc, vu khống trắng trợn.

Như chúng ta đã biết dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí thường xuyên lợi dụng để chống phá Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa, họ cũng không thể phủ nhận được thực tế, không thể xuyên tạc được sự thật.

Đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán. Không chỉ là quyền cần phải bảo đảm mà Việt Nam còn xác định đó là một động lực cho sự phát triển của xã hội. Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó quyền tự do ngôn luận được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác... Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền…

Cũng cần khẳng định thêm Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân; là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chủng loại thông tin trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Việt Nam ngày càng phong phú và cập nhật hơn do nguồn cung cấp thông tin nhiều và đa dạng hơn. Hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Các phiên họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, nhất là các buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp trên truyền hình. Nhiều chương trình đối thoại, tranh luận, trả lời, thăm dò ý kiến… với nội dung phong phú, đa dạng về mọi vấn đề đã được đăng tải, truyền thanh và truyền hình rộng rãi.

Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận và thông tin ở Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí (bao gồm 138 báo và 670 tạp chí); 72 đài phát thanh, truyền hình; 666 cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện; 9.812 đài truyền thanh cấp xã…

Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là Internet. Chính phủ Việt Nam chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet… Đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Ngoài ra, số lượng người dùng mạng xã hội để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng… cũng đạt con số hơn 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số… Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, mạng xã hội cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ.

Thế nhưng bất chấp những thành quả ấy, các tổ chức, cá nhân thù địch và một số trang mạng, đài báo thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận. Đáng lưu ý họ ngộ nhận rằng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt là quyền tuyệt đối. Họ cố tình lờ đi trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong quá trình thực thi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt ở Việt Nam không phải là quyền tự do vô hạn định, vô tổ chức mà phải theo khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp “có tiếng nói đối lập, ôn hòa…” mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tung hô thực chất họ đã lợi dụng, lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước; phát tán những luận điệu, tài liệu phản động gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, kích động gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân... nhằm phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Họ bị các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, điều tra và truy tố là do đã vi phạm pháp luật.

Chúng ta cần khẳng định sự phát triển toàn diện kinh tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam thời gian qua đã cho thấy những cáo buộc rằng các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “giới hạn” quyền tự do biểu đạt của người dân mà các thế lực thù địch, phản động rêu rao là hồ đồ, vô căn cứ. Những giọng điệu lạc lõng bóp méo, xuyên tạc sự thật ấy là nhằm mưu đồ xấu. Thế nhưng họ sẽ không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển và là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó./.

 

NVE40- ĐẤU TRANH LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO

 

Biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, phần máu thịt không thể tách rời và có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, kích động, chống phá chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Yêu cầu đặt ra là phản bác và đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam. Vùng biển, đảo nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ được phân bố theo chiều dài bờ biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ biển Đông… Với tiềm năng kinh tế biển hết sức to lớn, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo vị thế chiến lược quốc phòng - an ninh vững chắc của đất nước.

Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đầy cam go, quyết liệt của dân tộc đã chứng minh vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng của công cuộc phòng thủ quốc gia từ hướng biển. Đảng ta xác định, biển, đảo của Việt Nam có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4, khóa X nêu rõ: “… phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, cả nước đã hướng về biển đảo, chúng ta quán triệt phương châm: kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài đã lợi dụng các trang mạng xã hội: facebook, Youtube, Twitter, Zalo… xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo; lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông phát tán tài liệu, hình ảnh, video hòng bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động dư luận. Mục đích của chúng nhằm khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, vu khống trắng trợn rằng: Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; còn tung luận điệu xảo trá, vu cáo “chính quyền Việt Nam làm ngơ về biển Đông”... Chúng đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó đánh vào tâm lý hoài nghi của người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn. Chúng bất chấp sự thật, các thế lực thù địch đã không từ thủ đoạn nào để công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách quốc phòng nói chung, chủ trương “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta nói riêng đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; “không liên minh quân sự”, “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Biển Đông, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc… Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thời gian qua, đồng thời cũng là luận điệu nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Do đó, cần nhận diện, bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, xuyên tạc, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Để xây dựng nước Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; đồng thời, tiếp tục nâng cao vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo đảm an ninh biển, đảo trong tình hình mới mỗi cán bộ Đảng viên quân nhân trong quân đội  cần thực hiện tốt một số nội dung sau: Tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức chính trị, hành động cách mạng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đặc biệt là bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu của các thế lực thù địch chống phá ta. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về chủ quyền biển, đảo nhằm góp phần nâng cao nhận thức đúng, tuân thủ pháp luật. Thường xuyên nắm bắt tình hình dư luận xã hội, thông tin liên quan đến các vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam, đặc biệt là tình hình biển Đông để kịp thời phản bác, bóc trần, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng, với những hành vi lợi dụng internet và các trang mạng xã hội nhằm xuyên tạc, kích động dư luận chống phá Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

 

NVD40 - Cần hiểu cho đúng, nói cho rõ về chính sách đối với người có công ở Việt Nam trước những luận điệu xuyên tạc cảu các thế lực thù địch

 

77 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thực hiện tốt công tác chính sách thương binh, liệt sỹ và người có công, tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của thương binh, liệt sỹ và người có công với đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước bằng mọi thủ đoạn đã xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người có công nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Mỗi năm vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7), toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta có nhiều hoạt động thiết thực nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Cũng trong thời gian này, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện những luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chính sách thương binh, liệt sỹ, hòng bôi xấu Đảng, Nhà nước, chế độ, nhằm làm giảm lòng tin giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch là đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với người ngã xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc. Cùng với đó, chúng cho rằng, nền kinh tế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương binh, liệt sỹ; cho rằng đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không riêng gì thương binh, liệt sỹ. Chúng còn phủ định giá trị của độc lập, thống nhất Tổ quốc; tung nhiều chiêu bài xuyên tạc lịch sử gây hoang mang, giao động trong các thế hệ người Việt, phai nhạt tình cảm với người có công.

Đặc biệt, chúng lợi dụng những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương để viết bài, đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách ưu đãi đối với người có công. Những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch đối với chính sách người có công, những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc này rất nguy hại, tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân, nhất là những người dân nhẹ dạ, làm suy giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta trong thực hiện chính sách thương binh, liệt sỹ và người có công.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và lời dạy của Bác Hồ kính yêu, suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách thực hiện tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm lo gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng. Trong các Văn kiện Đại hội của Đảng đều nêu rõ nhiệm vụ: “Thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng…” (Đại hội VI). “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân…” (Đại hội VII)… Đến Đại hội XII, Đảng ta yêu cầu: “Thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công; giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập của người lao động; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội…”.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên… Cân đối ngân sách để tiếp tục thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công; nâng cao các công trình “đền ơn đáp nghĩa”.

Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, ngày 27/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 25/01/2016 về tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công.

Theo số liệu, hiện cả nước có trên 9,2 triệu người có công được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi. Hằng năm, Nhà nước dành hơn 32.000 tỷ đồng từ ngân sách để thực hiện chính sách ưu đãi người có công; Chủ tịch nước dành gần 900 tỷ đồng tặng quà cho các đối tượng người có công nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7)…

Đến nay, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Các hoạt động “Đền ơn, đáp nghĩa” tổ chức rộng khắp, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương. Nhiều chương trình lớn như: “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, “Nhà tình nghĩa”, “Sổ tiết kiệm tình nghĩa”, “Chăm sóc bố, mẹ liệt sỹ già yếu neo đơn, con liệt sỹ mồ côi”, “Phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng”… đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trở thành phong trào tự nguyện, tự tâm trong các tầng lớp nhân dân, thể hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

 

NVD40 - Phản bác luận điệu xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam

 

Trên các trang mạng phản động luôn phát tán các nội dung xuyên tạc quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Các phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc cho rằng: “Việt Nam đang ở trong tình trạng khủng hoảng về tự do ngôn luận”, đòi Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận như là điều kiện tiên quyết của quyền phát triển cho người dân Việt Nam

Cần khẳng định ngay rằng, đây là chiêu trò cũ rích nhằm phát tán tin giả, tin sai sự thật, quy chụp, xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam; đồng thời chúng lôi kéo một bộ phận công dân thiếu hiểu biết để lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có những hành động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như: Làm, tàng trữ, phát tán tài liệu chống phá, lật đổ Nhà nước; xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác; họ tiếp tục cổ súy cho những cái gọi là “giá trị dân chủ” theo kiểu phương Tây, bịa chuyện, nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, kích động hằn thù dân tộc, tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền văn hóa xấu độc.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân được bảo đảm một cách vững chắc bằng luật pháp. Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân; điều đó được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí 2016 đã ghi: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí,…”

Tuy nhiên, tự do ngôn luận của công dân phải trên cơ sở của pháp luật, tránh việc sử dụng quyền tự do ngôn luận bừa bãi gây hậu quả nghiêm trọng; mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân đều bị nghiêm cấm và có chế tài xử lý nghiêm khắc. Do đó, việc tìm hiểu và thực hiện nghiêm túc pháp luật về tự do ngôn luận là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân. Đối với các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền các thông tin chính thống, tích cực, nhận diện và đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, kích động gây mất an ninh trật tự. Đồng thời cần kịp thời phát hiện, điều tra để xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận để xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước và của tổ chức, cá nhân; không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng, bôi xấu chế độ, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, hòng gây mất niềm tin, gieo rắc sự hoài nghi, chống phá Nhà nước, chống phá chế độ, hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...