Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

NVC40 - CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC VIỆC TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY

 

Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về bản chất vấn đề nhằm gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng đã lập ra hàng nghìn trang mạng xã hội, nhất là các nền tảng xã hội Facebook và YouTube để truyền tải thông tin xuyên tạc tới quần chúng nhân dân. Một mặt, chúng vẫn tái diễn luận điệu vu khống cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe phái”. Mặt khác, chúng tích cực lan truyền các thông tin suy diễn vô căn cứ, lập ngôn, cắt ngọn thông tin, lấy hiện tượng để xuyên tạc bản chất. Chúng cố tình bẻ cong luận điệu, nguỵ tạo luận cứ, luận chứng, nhằm lèo lái công chúng hiểu sai lệch bản chất vấn đề. Theo kiểu “một cán bộ giấu tên cho biết”, “theo giới thạo tin”, “nguồn tin bên lề”, hướng lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của “bất ổn chính trị”. Mục đích, thông qua việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên hòng hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

Đơn cử như trong thời gian vừa qua, việc cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác của các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, Chủ tịch nước cho thấy công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta đang thực hiện đúng phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bất kể người đó là ai và đang giữ chức vụ gì. Khi cán bộ có sai lầm, khuyết điểm, vi phạm và không còn đủ uy tín thì việc thôi giữ chức vụ cũng là điều hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, qua lăng kính đánh giá của các đối tượng xấu, chúng nhào nặn, tô vẽ, biến tướng gây nhiễu loạn dư luận, kích động sự hoài nghi, hoang mang, dao động trong xã hội. Trước đó, không cần biết lý do xin từ chức là gì, chỉ cần lãnh đạo các nước trên thế giới tuyên bố từ chức, giới “dân chủ” sẽ ngay lập tức ca ngợi, cho rằng đó là hành động văn minh, tiến bộ, dân chủ là “văn hóa từ chức” và ca thán cho rằng “không biết khi nào ở Việt Nam mới có lãnh đạo xin từ chức”. Nhưng khi lãnh đạo trong nước xin từ chức thì những kẻ này lại vu khống, xuyên tạc

Trước sự nguy hiểm của hoạt động trên, trước hết, cần khẳng định rằng, việc miễn nhiệm, từ chức là việc diễn ra bình thường, không chỉ có ở Việt Nam, mà ở nhiều nước trên thế giới, không phải đến bây giờ mới có. Việc từ chức của cán bộ hoàn toàn không thể và không phải do bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có thể ép buộc, áp đặt vô căn cứ. Đảng và Nhà nước ta đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ căn cứ pháp lý đối với việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ. Vấn đề này đã được đặt ra trong các Nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước. Theo đó, Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ quy định nguyên tắc, thẩm quyền, căn cứ, quy trình xem xét việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; áp dụng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Quy định 41 nêu nguyên tắc: “1. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 2. Cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu nêu cao trách nhiệm trong việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. 3.Kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ. Không thực hiện việc cho từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm”. Quy định 41 cũng nêu rõ 6 căn cứ xem xét miễn nhiệm cán bộ, 4 căn cứ xem xét từ chức. Như vậy, miễn nhiệm, từ chức là công việc bình thường trong công tác cán bộ từ cổ chí kim, từ đông sang tây, phù hợp quy luật vận động và phát triển của xã hội.

 Đảng và Nhà nước ta thực hiện miễn nhiệm, từ chức trong cán bộ theo đúng quy định, nguyên tắc. Người dân cần nhận thức rõ quan điểm này để từ đó giữ vững lập trường chính trị, không để các thế lực xấu dẫn dắt, lợi dụng để cố tình xuyên tạc, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Những luận điệu cho rằng đó là việc “củng cố quyền lực” hay “thâu tóm quyền lực cá nhân” chỉ là một chiêu trò của một số cá nhân chống phá nhằm bôi nhọ danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hạ thấp uy tín của Đảng. Một khi toàn Đảng đã thống nhất, lòng dân đã thuận thì không một thế lực nào, một thủ đoạn nào có thể làm thay đổi được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

 

NVC40 - Đấu tranh chống lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để cổ súy cho “dân chủ tư sản” ở nước ta hiện nay

 

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá đối với Việt Nam, thì chiêu bài” dân chủ, nhân quyền để cổ súy cho dân chủ tư sản luôn là những vấn đề mang tính chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng xuyên tạc nhằm gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự xã hội và tiến tới âm mưu xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vậy thực chất nền “dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà nước ta xây dựng khác như thế nào với “dân chủ tư sản” mà bọn chúng đang cổ suýt ?

Trong quá trình lịch sử của tư tưởng dân chủ, C.Mác là người đầu tiên đánh dấu bước phát triển mới có tính cách mạng trong nhận thức về dân chủ. Năm 1985, khi nghiên cứu về Nhà nước Phổ, Các Mác đã viết dân chủ theo tiếng Đức là chính quyền của nhân dân. Ông nhấn mạnh rằng: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa. Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy; không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”[1]

Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” V.I.Lênin cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước[2] và ông cũng khẳng định chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ hơn “gấp triệu lần” bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử.

Tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại về dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân,…[3]

Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những tư tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước[4]

Do đó bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện là chế độ do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện bằng Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, chính sách và được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện và cơ chế bảo đảm cho nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội và những công việc trọng đại của nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền lực gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ.

Về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa khác biệt về “chất” so với dân chủ tư sản – đó là nền dân chủ của đông đảo nhân dân trong xã hội, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện, trước hết và chủ yếu thông qua nhà nước của mình.

Đối với dân chủ tư sản chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số giai cấp tư sản nắm quyền lực về kinh tế và chính trị trong xã hội tư sản. Do dó nền dân chủ tư sản không phục vụ cho công nhân và nhân dân lao động, trái lại các thiết chế dân chủ tư sản lập ra chủ yếu nhằm phục vụ lợi ích và quyền lực cho giai cấp tư sản, bóc lột và áp bức giai cấp vô sản- số đông trong xã hội.

Do đó thật nực cười cho những kẻ quay lưng lại với quê hương, Tổ quốc khởi xướng, kêu gọi người dân trong nước và ngoài nước tham gia “chiến dịch tranh đấu cho tự do – dân chủ – nhân quyền” với mục đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước không có “dân chủ”, người dân không có “nhân quyền”. Nên nhớ rằng đối với bọn chúng, "đấu tranh dân chủ" không phải là mục đích mà là chiêu bài, là nghề kiếm sống, là hưởng lợi từ tiền hỗ trợ của các hội đoàn chống cộng ở hải ngoại như tổ chức khủng bố Việt Tân./.

Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, thực hiện thành công mục tiêu “tối thượng” của cách mạng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng đề ra, thì việc phân biệt và đấu tranh với chiêu trò lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để cổ súy cho quan điểm dân chủ tư sản là trách nhiệm của mọi cá nhân, mọi tổ chức ở nước ta hiện nay.



[

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

NVE41 - XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của sự tổng hòa giữa niềm tin, trí tuệ dân tộc, và sứ mệnh lịch sử. Từ mốc son 03/02/1930, cả dân tộc đoàn kết, bền lòng chiến đấu, dựng xây dưới sự lãnh đạo của Đảng, lập nên những kỳ tích vang dội: đất nước đã nở hoa độc lập, dân tộc kết trái tự do, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng rằng: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đặc biệt là công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới - “không gian mạng”. Khái niệm mới này được sử dụng phổ biến thời gian gần đây ở Việt Nam, là một phần tất yếu của đời sống xã hội hiện đại; được hiểu là “mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian”.

Sự ra đời nhanh chóng của Facebook, Zalo, Youtube, Twitter, Tiktok, Instagram, Linkedin, Zingme, Google,..… - các nền tảng kết nối cộng đồng đã xóa nhòa ranh giới giữa không gian thực và ảo, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của con người, tự nhiên đi vào đời sống xã hội, trở thành một phần tất yếu không thể phủ nhận. Bên cạnh những thông tin tích cực được tuyên truyền, lan tỏa, các thông tin xấu, độc như những vi rút được thế lực thù địch nuôi cấy công phu, dần thâm nhập và sinh sôi trong cộng đồng, gặm nhấm các “tế bào xã hội”, gây nhiễu động, rối loạn đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.

Về đối tượng: Đối tượng được nhằm đến là những người dân ít thông tin, trình độ nhận thức thấp kém, một bộ phận giới trẻ thiếu kinh nghiệm sống, hiểu biết hạn chế, một số ít cán bộ, đảng viên có biểu hiện do dự, dễ lôi kéo, thao túng.

Thế trận lòng dân - thế trận của sự đoàn kết, đồng tâm, nhất đồng ý chí và hành động vì mục tiêu chung: đấu tranh, phản bác các quan điểm, sai trái thù địch trên không gian mạng, thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, phát huy vai trò của các lực lượng nòng cốt, đội ngũ cán bộ tuyên giáo, các chuyên gia, cơ sở đào tạo chuyên ngành; thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu, trang bị kiến thức, kỹ năng về vấn đề diễn biến hòa bình, các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó chú trọng việc đấu

Hai là, giữ vững trận địa tư tưởng với tinh thần mỗi cán bộ, đảng viên là một chiến sỹ, mỗi tổ chức đảng là một pháo đài tiên phong.

Ba là, củng cố bộ máy tổ chức, phát huy vai trò nòng cốt của các tổ chức đảng, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội tại cơ quan, đơn vị.

Bốn là, trên trận địa thông tin: cần sự vào cuộc tích cực của các cơ quan báo chí, xuất bản và trách nhiệm của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ mạng, cơ

 

 

NVH41 - Đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về chính sách người có công

 

Thời gian gần đây, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã tán phát nhiều bài viết chứa đựng nội dung vu cáo, xuyên tạc khi cho rằng: “Đảng, Nhà nước ta đã lãng quên, không quan tâm đến thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng”; “Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là không cần thiết, vô nghĩa”.

Nguy hiểm hơn chúng còn kêu gọi, tập hợp những người bất mãn, cơ hội để lập ra các hội, nhóm cựu chiến binh, từ đó tuyên truyền, kích động, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin tham gia, gây mất an ninh trật tự.

Những luận điệu xuyên tạc trên tuy không mới nhưng rất nguy hiểm, mục đích làm suy giảm lòng tin của một bộ phận những người nhẹ dạ, cả tin trong quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; làm xói mòn thuần phong, mỹ tục, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể thấy rằng, trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và vận động toàn dân tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”. Nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công đã được ban hành; các chế độ ưu đãi từng bước được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Đảng và Nhà nước. Các địa phương, đơn vị tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như xây nhà tình nghĩa, lập Quỹ đền ơn đáp nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc bố mẹ, con liệt sĩ…

Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân đối với liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng. Sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá, vì vậy việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng là nghĩa vụ, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

Thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ ta, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa…

Việc cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận công lao, xương máu của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng là sự phản bội, vô ơn, bạc nghĩa. Trân trọng quá khứ, tri ân và hành động hiếu nghĩa với các thế hệ đi trước là đạo lý, là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc.

Do vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải hết sức tỉnh táo, nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn thấp hèn đó của chúng, bảo vệ vững chắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công với cách mạng.

NVH41 - Phản bác những luận điệu xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam

 

            Trong chiến lược chống phá Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung vào chống phá Đảng, chế độ và hệ tư tưởng. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ của chúng. Gần đây, nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và không ít trang web trong và ngoài nước rêu rao rằng: ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”; Hà Nội “bắt bớ nhiều blogger”, v.v. Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), v.v. Trong báo cáo năm nay, mặc dù không thể không thừa nhận Việt Nam đã có “tiến bộ về dân chủ, nhân quyền”, nhưng vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước vi phạm “tự do báo chí”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”, v.v. Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế. 


          Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng còn tác động đến Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên,... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Một số phần tử còn tác động vào các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ, Anh, Canađa,… tổ chức điều trần, hội thảo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam nhằm tác động Liên hợp quốc ra nghị quyết bất lợi đối với nước ta. Trên lĩnh vực báo chí, một số đối tượng còn thành lập các câu lạc bộ, các diễn đàn trên mạng dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

          Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2023 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (gọi tắt là Báo cáo) cho rằng Chính phủ Việt Nam đã: “...không tôn trọng các quyền này và một số luật đặc biệt xâm phạm quyền tự do ngôn luận. Chính phủ cũng tiếp tục sử dụng các điều khoản rộng rãi về an ninh quốc gia và chống phỉ báng trong luật để hạn chế quyền tự do ngôn luận”; “Chính phủ tiếp tục hạn chế các bài phát biểu chỉ trích cá nhân các nhà lãnh đạo chính phủ hoặc đảng, thúc đẩy đa nguyên chính trị hoặc dân chủ đa đảng hoặc đặt câu hỏi về các chính sách về các vấn đề nhạy cảm”; “Kiểm duyệt hoặc hạn chế nội dung đối với các thành viên của báo chí và các phương tiện truyền thông khác, bao gồm cả phương tiện truyền thông trực tuyến...”. Đây là những nhận định sai sự thật, thiếu khách quan trong Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

          Trước hết, cần khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật

          Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về tự do ngôn luận, tự do báo chí, Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã khẳng định người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và được pháp luật bảo đảm thực hiện. Các Hiến pháp sau này đều kế thừa và phát triển nội dung của Hiến pháp năm 1946, năm 1959 về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

          Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật liên quan như: Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng và nhiều văn bản pháp luật khác tiếp tục thể chế hóa quyền này. Cụ thể:

          Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

          Luật Báo chí năm 2016 quy định tại Điều 10 về Quyền tự do báo chí của công dân: Sáng tạo tác phẩm, cung cấp, phản hồi, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in, phát hành báo in; Điều 11 về Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân quy định công dân có quyền: phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức, cá nhân.

          Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng khẳng định tại Khoản 1, Điều 3 và Khoản 1, Điều 8: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”; “Công dân có quyền: a) Được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; b) Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin”;

          Điều 167 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về “Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân”...

          Bên cạnh đó, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin... cũng được quy định rõ trong Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

          Từ ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để người dân được thụ hưởng. Tính đến tháng 6-2023, Việt Nam có 127 cơ quan báo, 677 cơ quan tạp chí (trong đó 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 71 cơ sở truyền thanh, truyền hình hoạt động độc lập; 666 cơ sở truyền hình - truyền thanh cấp huyện; 9.959 đài truyền thanh cấp xã (trong đó 1.757 đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông, 1.386 đài của xã nông thôn, miền núi); 57 nhà xuất bản. Số lượng lao động trong lĩnh vực báo chí ước khoảng 71.830 người (tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2022); Tỷ lệ người dùng internet đạt 78,59% (vượt mục tiêu kế hoạch năm 2023, năm 2023 là 76%)(1); 253 cơ quan báo chí tham gia hoạt động thông tin đối ngoại, 59 văn phòng báo chí Việt Nam thường trú tại nước ngoài, 137 phóng viên Việt Nam thường trú tại nước ngoài trong năm 2022(2); số người được cấp thẻ nhà báo là 11.958(3).

          Đảng và Nhà nước ta bảo đảm mọi công dân Việt Nam thực hiện tốt nhất quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình thông qua các sản phẩm báo chí, thông tin. Ngoài báo chí phổ thông, nhiều cơ quan báo chí trung ương và địa phương còn xuất bản ấn phẩm phục vụ dân tộc thiểu số hay người khuyết tật. Ví dụ, Đài Truyền hình Việt Nam phát đồng thời hình ảnh người dẫn chương trình ký hiệu dành cho người khuyết tật, nhiều đài phát thanh - truyền hình dành chuyên kênh phát thanh, truyền hình bằng nhiều thứ tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số... Bên cạnh các cơ quan báo chí trong nước, tại Việt Nam còn có nhiều hãng truyền thông quốc tế hoạt động như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Asia, Rossiya Segodnya... Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực học hỏi, tiếp thu, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia trên thế giới để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân. Đây là những minh chứng khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước tôn trọng và ngày càng bảo đảm.

          Thứ hai, tự do ngôn luận, tự do báo chí được xem là nguyên tắc cơ bản cho một nền dân chủ, tuy nhiên không vì thế mà quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không có giới hạn nhất định

          Trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là quyền tuyệt đối, tự do vô chính phủ.

          Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã khẳng định tại Điều 19: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

          Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789 ghi nhận: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ phải chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia... bị hình sự hóa ở các nước như Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ...

          Ngay tại Hoa Kỳ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện ở chỗ Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn mà không bị xem là vi hiến.

          Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thông tin không đúng sự thật, gây hoang mang trong dư luận, xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác... Các hành vi nghiêm cấm này được quy định cụ thể trong các văn bản: Luật báo chí năm 2016 (Điều 9), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 (Điều 3), Luật An ninh mạng năm 2018 (Khoản 3, Điều 16); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 331).

          Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người, được pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, quyền tự do nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng đều phải trong khuôn khổ cho phép và không bị nghiêm cấm bởi luật pháp. Những thành tựu về mặt pháp lý, cũng như thực tiễn thời gian qua là minh chứng sinh động phản bác luận điệu xuyên tạc trong Báo cáo cho rằng Việt Nam “không tôn trọng” hay “xâm phạm” quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

          Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bất chấp những thành tựu không thể phủ nhận của Việt Nam để xuyên tạc, bóp méo những nỗ lực trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Báo cáo đã liệt kê các vụ việc như: Đinh Văn Hải và Nguyễn Duy Linh đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Bến Tre kết án về tội “Truyền bá thông tin, phát tán tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước”; Nguyễn Hoài Nam bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”; Bộ Thông tin và Truyền thông đã phạt báo Pháp luật Việt Nam 325 triệu đồng và đình chỉ giấy phép hoạt động do đăng “thông tin sai sự thật”, “nội dung giật gân”,“suy diễn vô căn cứ”, “thiếu chuyên nghiệp”;... Báo cáo đã sử dụng những thuật ngữ như: “một số nhà phê bình nổi tiếng trên mạng xã hội”, “streamer”, “nhà phê bình lớn tiếng”, “Tiếng nói của Truyền hình Sự thật”... để cổ xúy cho những cá nhân, tổ chức đang “đấu tranh” cho cái gọi là tự do ngôn luận, tự do báo chí kiểu phương Tây và cho rằng những vụ việc này là điển hình về việc vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam.

          Trên thực tế, các đối tượng mà Báo cáo liệt kê, dẫn chứng đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để tán phát tài liệu, tuyên truyền, chia sẻ các bài viết, thông tin có nội dung xấu độc và đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam về các hành vi phá hoại an ninh quốc gia, gây mất an toàn xã hội, kích động bạo lực, ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân, vi phạm đạo đức, lối sống, truyền thống, văn hóa, lịch sử đất nước, con người Việt Nam.

          Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, chúng ta cần:

          Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông và công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí chống phá Việt Nam. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông, ở cả bốn khâu: Định hướng phát triển; định hướng nội dung; công tác cán bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát. Đặc biệt coi trọng công tác rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý báo chí; thực hiện nghiêm các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông. 

          Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về báo chí, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng trong công tác chỉ đạo, quản lý trên lĩnh vực này. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp; các chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe những biểu hiện vi phạm. Hiện nay, mạng xã hội đang có tác động lớn đến xã hội, nhất là mạng YouTube (của Google). Được biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đã  nhiều lần làm việc với đại diện của Google, yêu cầu bóc những tin bài sai sự thật, nhưng hiệu quả vẫn còn thấp, còn nhiều tin bài xấu, không phản ánh trung thực tình hình Việt Nam. Biện pháp căn bản là quán triệt, tuyên truyền từ người xem, người nghe, người đọc, nhẹ dạ cả tin, không nghe, không tin những tin bài đó.

          Ba là, cán bộ làm công tác báo chí phải làm tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ðể làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”. Do đó, mỗi nhà báo cần không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tự giác học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, thực hiện tốt Luật Báo chí và các quy định của pháp luật trên lĩnh vực báo chí; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay, đã và đang xuất hiện tình trạng báo chí viết bài không để chuyển tải nội dung tư tưởng, chính trị, văn hóa chính thống, mà vì “câu view” “câu like” và mong muốn có nhiều người đọc,  nhiều like, được nhiều view. Bởi vậy, báo chí không chỉ phòng ngừa xu hướng này mà còn đưa ra những giải pháp kỹ thuật ngăn chặn.

          Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực báo chí, truyền thông. Qua đó, chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc ở các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên, nhà báo để có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đặc biệt, qua công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo, quản lý đối với những người không đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại, qua nhiều kênh và nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú làm cho cộng đồng quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Qua đó, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần đấu tranh hiệu quả các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

          Tự do ngôn luận báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội về các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Một xã hội không có tự do ngôn luận, báo chí, như có người nói - đó là “một xã hội đã chết lâm sàng”. Tự do ngôn luận, báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Mọi luận điệu xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam cần phải bị bác bỏ, lên án.

NVH41 - Bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động thâm hiểm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển để chống phá Đảng, Nhà nước

 

        Vừa qua, mượn cớ một số tàu thuyền nước ngoài có hành vi xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã đẩy mạnh các hoạt động kích động, tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước…

          Họ trắng trợn xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta có liên quan về vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam và lợi ích quốc gia của nước ta trên biển. Họ quy chụp, vu cáo rằng, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta “không dám đối đầu với bọn cướp biển”; “nhu nhược, hèn nhát”, “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”. Một số đối tượng còn cho rằng, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta vì “đường lối ngoại giao cây tre” nên không dám “dùng lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển để giải quyết tranh chấp, bất đồng, sự khác biệt trên biển”, “lúc nào cũng chỉ muốn đối thoại, đàm phán hòa bình” nên để nước ngoài “… lấn tới, ngang ngược, làm mưa làm gió trên Biển Đông”, “liên tục gây rối, quấy phá quần đảo Trường Sa”, “chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa” nhưng “Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng, không dám nói gì”; “thật lãng phí tiền thuế của dân khi chi hàng tỷ đô la mua tàu ngầm ki-lô, nuôi quân đội…”

          Từ đây, các đối tượng ra sức xuyên tạc sự thật về mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước có biển; tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tâm lý bài nước này, thân nước kia.. kích động tinh thần chống đối Đảng, Nhà nước; hạ thấp vị thế, vai trò, sức mạnh của Quân đội; phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc..

          Họ kêu gọi Đảng, Nhà nước ta phải từ bỏ chính sách “bốn không”, đòi Đảng ta “thực hiện liên minh quân sự” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển… Với sự suy diễn rằng, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục còn bảo thủ, còn cố chấp thì chẳng những Việt Nam không giữ được chủ quyền biển, đảo mà còn mất Tổ quốc; Đảng không thể giữ được chế độ XHCN” … 

          Đó thực sự là những luận điệu xuyên tạc, kích động công cuộc, nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang tiến hành một cách đồng bộ, bài bản, bởi:

          Thứ nhất, những tư tưởng, đường lối, chính sách, văn kiện, chiến lược, kế hoạch… phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay đều khẳng định rất rõ ràng, biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; lợi ích quốc gia trên biển là vấn đề trọng yếu, thường xuyên và lâu dài của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tất cả các lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển Việt Nam đã được luật pháp quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định. Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã phát ngôn công khai, khẳng định rõ lập trường, quan điểm nhiều lần như vậy rõ ràng thì không có chuyện chúng ta “nhu nhược, hèn nhát”, “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”… như các đối tượng chống đối xuyên tạc, vu cáo…!

          Thứ hai, suốt trong những năm qua, đặc biệt là những năm gần đây, chưa bao giờ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lơ là, sao nhãng nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, chúng ta luôn thấm nhuần quan điểm “giữ nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ lúc nước chưa nguy…” Đảng, Nhà nước luôn ưu tiên giành mọi nguồn lực tốt nhất cho nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển đảo. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, thống nhất đất nước, dù khó khăn trăm bề, dù phải dồn toàn lực để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta cũng đã tính toán đưa người, quân đội, phương tiện… đi xây và chiếm giữ các đảo. Đồng thời dù đất nước khó khăn đến mấy, vẫn khai thác, mở rộng, củng cố và xây dựng hạ tầng các biển đảo của Việt Nam đang kiểm soát. Bài học về bảo vệ chủ quyền biển, đảo, nhất là bài học “xương máu” về bảo vệ các đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô lin… và nhiều đảo khác luôn nhắc nhở chúng ta “không bao giờ được nổ súng trước”; nhưng không bao giờ nhân nhượng, không bao giờ thỏa hiệp …Cùng với đó, Đảng phát triển chiến lược “chiến tranh nhân dân” trên biển, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân an tâm bám biển, phát triển kinh tế biển; làm giàu từ biển…

          Thứ ba, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện triết lý “ngoại giao cây tre” mà thực chất là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt. Mục tiêu lớn nhất là tránh được xung đột, không để xảy ra chiến tranh; giữ gìn, bảo vệ được lợi ích quốc gia – dân tộc, chúng ta phải biết nhu – cương; biết thời – thế và biết thực lực; biết mình – biết người; biết tiến – biết lui đúng lúc, hợp thời…là rất cần thiết. Đó cũng là triết lý nhân sinh “lấy bất biến ứng vạn biến”, “lạt mềm, buộc chặt” mà ông cha ta đã đúc rút từ bài học đấu tranh dựng nước và giữ nước…

          Thứ tư, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng kiểm ngư vững mạnh, với trang bị, phương tiện ngày càng đồng bộ, hiện đại đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các lực lượng nêu trên luôn có tinh thần, quyết tâm cao, kiên quyết, kiên trì, kiên cường thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, không có chuyện “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”... như kẻ xấu xuyên tạc, vu cáo

          Thứ năm, Đảng, Nhà nước quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Công tác tuyên truyền đã thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự quản lý thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, tạo đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

          Do đó, những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thực sự là những mưu đồ đen tối với âm mưu kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới…cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời./.

NVI41 - CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Từ lâu, khối đại đoàn kết dân tộc đã trở thành một trong những nền tảng sức mạnh vững chắc đảm bảo cho sự thắng lợi lâu dài và bền vững của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Hiểu được điều đó, các thế lực thù địch, chống phá luôn tìm mọi cách để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong số những thủ đoạn chúng đang sử dụng thì thủ đoạn dùng việc chia rẽ vùng miền qua các từ lóng đang là một trong những cách thức rất phổ biến chúng đang sử dụng rất nhiều trên không gian mạng.

Ngày nay, khi mạng xã hội ngày càng phát triển thì việc lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá Nhà nước ta diễn ra càng phổ biến. Đặc biệt chúng lợi dụng vào việc phát triển này để đưa ra các cách thức nhằm kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết của người dân các vùng miền khác nhau.

Chúng ta đều biết đất nước ta vốn là một đất nước với sự đa dạng về văn hoá. Văn hoá mỗi vùng miền lại có sự khác biệt nhất định. Ban đầu, nhiều người sử dụng mạng xã hội đăng tải các hình ảnh về phong tục văn hoá của địa phương mình như một cách để thể hiện góc nhìn đời sống. Lâu dần xuất hiện trào lưu so sánh hình ảnh tập quán khác nhau giữa hai vùng miền. Và rồi gần đây trào lưu này biến tướng. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy một chủ đề được đăng tải trên mạng xã hội thì bên dưới phần bình luận là sự xuất hiện của những cụm từ mang tính miệt thị này đều đồng loại xuất hiện từ hàng loạt các tài khoản ảo, ẩn danh. Các từ lóng bắt đầu xuất hiện. Chúng ta có thể kể đến các từ như “Parky”, “Cali”, … Xin đặc biệt nhấn mạnh đến hiện tượng từ lóng “Parky”.  Từ “Parky” dần trở thành một trong những từ rất phổ biến trên các bình luận của những tài khoản ẩn danh. Từ này vốn là một từ không có nghĩa, nhưng cách đọc của nó khá gần âm với từ “Bắc Kỳ” nhằm chế giễu những người dân Bắc Việt Nam.  Hay từ “Cali” là từ bắt nguồn từ danh từ gọi tên một tiểu bang của Mỹ, dùng để chỉ những người có các hành vi phản động, chống phá nước nhà, dấy lên sự phân biệt vùng miền trên mạng xã hội.

Những từ lóng này ngày càng phổ biến trên các không gian mạng và dần trở thành một phương tiện nhằm đả kích, gây mất đoàn kết dân tộc. Trong khi đó một bộ phận người dùng mạng xã hội có tư tưởng lệch lạc, thiếu hiểu biết dẫn đến bị kích động đã đi theo trào lưu này. Họ nghĩ đơn giản việc sử dụng những từ này như một trò tiêu khiển mua vui, giải trí mà không hề hay biết đằng sau nó là sự kỳ thị, chia rẽ vùng miền tiềm ẩn những nguy hại khôn lường. Trào lưu này không chỉ phản ánh văn hoá ứng xử của một bộ phận người dùng mạng xã hội, sự thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức mà nguy hiểm hơn là có thể ẩn chứa âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động sự thù hằn, mâu thuẫn vùng miền. Tình trạng này nếu không chấm dứt sẽ làm tổn hại đến sức mạnh đoàn kết dân tộc và gây ra các hệ lụy khác trong xã hội.

Mọi người, nhất là giới trẻ cần tỉnh táo, nâng cao nhận thức. Hãy thận trọng trước những âm mưu thâm độc của bọn chống phá, thù địch, phản động. Khối đại đoàn kết dân tộc mãi mãi là một báu vật của dân tộc Việt Nam giúp dân tộc ta vượt qua bao thử thách. Chính vì vậy, việc bảo vệ khối đại đoàn kết chính là trách nhiệm của mỗi người dân yêu nước. Hãy yêu nước từ những việc nhỏ nhất như dùng mạng xã hội một cách thông minh và tỉnh táo hơn.


NVI41 - KÊNH ĐÀO PHÙ NAM (FUNAN TECHO CANAL) VÀ NHỮNG THÔNG TIN SAI LỆCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Vừa qua vào ngày 08/8/2023, Campuchia đã gửi thông báo đến Ủy hội Sông Mekong về dự án kênh đào từ sông Bassac tới khu vực cảng biển ở tỉnh Kampot-Kep bên bờ Vịnh Thái Lan. Chính phủ Campuchia đặt tên kênh đào này là “Funan Techo Canal” (tạm dịch là “Kênh đào Đế chế Phù Nam”) do Campuchia hợp tác với Trung Quốc xây dựng dự kiến trong 04 năm với chiều dài 180km, chi phí ước tính 1,7 tỷ USD.

Việc xây dựng kênh đào Funan sẽ tạo ra một tuyến đường thủy từ biển đi thẳng vào Thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia mà không cần phải đi qua Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam như trước đây. Việc xây dựng kênh đào Funan theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà khoa học cũng sẽ có nhiều tác động đến Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực nói chung, đặc biệt là các quốc gia có dòng sông Mê Công chảy qua. Chính vì vậy, ngay sau khi Chính phủ Campuchia thông báo về dự án, Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Bộ Tài nguyên & Môi trường, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thu thập thông tin chi tiết về dự án, triển khai đánh giá tác động xuyên biên giới của dự án tới vùng ĐBSCL của Việt Nam và báo cáo trước ngày 25/10/2023 để làm cơ sở trao đổi với Chính phủ Campuchia.

Trước tình hình trên, trên không gian mạng đã xuất hiện hàng ngàn bài viết, video, bình luận về dự án kênh đào Funan và những tác động đến vùng ĐBSCL của Việt Nam. Trong đó, không ít các bài viết thông tin một chiều, chưa kiểm chứng, sai sự thật,… gây hoang mang dư luận, nhiễu loạn thông tin, thậm chí nhiều bài viết gây tư tưởng thù hằn dân tộc, kích động quần chúng nhân dân yêu cầu Nhà nước Việt Nam có biện pháp mạnh để gây sức ép với Chính phủ Campuchia ngừng triển khai dự án, truyền bá tư tưởng “cấm vận Cam, bài Tàu, thân Mỹ” để giành lấy quyền lợi cho Việt Nam.

Điển hình như bài viết “Kênh đào Funan ở Campuchia: chiếc đinh cuối cùng đóng vào quan tài Đồng bằng Sông Cửu long” trên trang Đài Á Châu tự do - RFA đã đưa ra những thông tin cho rằng nếu kênh đào Funan hoàn thành sẽ là dấu chấm hết cho ĐBSCL, gây ra tác hại nặng nề cho đời sống, kinh tế, an ninh lương thực của Việt Nam. Nhiều trang thông tin, đối tượng phản động, chống phá đã đăng tải lại bài viết và thu hút chục ngàn bình tiêu tiêu cực, trái chiều, như: “Con trai HunSen chơi khăm VN, có TQ hậu thuẫn để chống lại VN”; dân tộc Khmer và Campuchia vẫn ấp ủ âm mưu diệt Việt Nam để cướp lại miền Tây Nam Bộ; bà con miền Tây nhanh chóng bán hết đất đai, nhà cửa vì kênh đào Funan sẽ làm biển xâm lấn, ngập mặn, hạn hán, ngày tàn của VN đã đến; Việt Nam cần “bắt tay” với Mỹ để “chống lại” Campuchia và Trung Quốc; Đảng ta lại tiếp tục “quan ngại sâu sắc”, người khổ nhất vẫn là nhân dân, cần có “biện pháp mạnh” đối với Campuchia;… Những bài viết, bình luận tiêu cực trên khắp các nền tảng mạng xã hội kết hợp với thực trạng vùng ĐBSCL đang đối mặt với mực nước lũ đầu nguồn thấp, mưa ít kết hợp với hiện tượng El Nino sẽ gây khô hạn và xâm lấn mặn gay gắt vào mùa khô càng làm quần chúng nhân dân thêm lo lắng, hoang mang, đồng thời gây tranh cãi, dư luận trái chiều trên mạng xã hội.

Theo nhận định của một số chuyên gia, nhà khoa học thì kênh đào Funan có khả năng là một dự án “viễn tưởng”, lấy ví dụ thực tế kênh đào Pinglu mới nhất của Trung Quốc sát Việt Nam dài 135km trị giá 10,2 tỷ USD đồng thời đòi hỏi nguồn nhân lực và kỹ thuật tân tiến để xây dựng, do đó nếu Campuchia xây kênh đào 180km thì ước tính phải mất ít nhất 13 tỷ USD, gấp gần 8 lần so với ước tính ban đầu và chiếm một nửa GDP của Campuchia và khả năng thu hồi vốn thấp, trong khi đó việc xây cao tốc chỉ tiêu tốn 1/5 số tiền trên. Chính vì vậy, đây là “bài toán” kinh tế đặt ra cho Chính phủ Campuchia trước khi triển khai dự án để tránh dính vào “bẫy nợ” như một số quốc gia trên thế giới. Là quốc gia láng giềng trong khu vực Đông Nam Á, với biện pháp ngoại giao “cây tre” mềm dẻo, linh hoạt, việc nghiên cứu tác động của dự án kênh đào Funan đối với Việt Nam cũng như các quốc gia dọc lưu vực sông Mê Công là cơ sở để Việt Nam minh chứng, trao đổi, đàm phán với Chính phủ Campuchia cân nhắc trước khi đưa ra quyết định.

Trong thời gian này, quần chúng nhân dân cần tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cảnh giác, “tỉnh táo” trước “ma trận” thông tin trên không gian mạng, lắng nghe từ nhiều phía, nhất là các trang thông tin chính thống của nhà nước để tránh vướng vào “bẫy” tin rác trên mạng xã hội.

NVC41 - KHÔNG MẮC MƯU CỦA ĐỊCH, KHÍ PHÁCH CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG

 

1. Trong bối cảnh quốc tế đặc biệt phức tạp hiện nay, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhân dân ta vẫn nhất quán khẳng định lập trường, quan điểm, mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, của đồng chí Tổng Bí thư; phản ánh tính đúng đắn, sáng tạo và sự nhất quán về đường lối đổi mới, đi lên CNXH mà Đảng ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII. Đồng thời, khẳng định rõ tình đoàn kết, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đảng ta đã xác định để xây dựng quốc gia Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thế nhưng, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tổ chức một số hội nghị bất thường để giải quyết các công việc phát sinh nhằm sớm ổn định tình hình, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới; ban hành các quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội; một số người lại nghĩ sai trái về điều ấy, cố tình đồn thổi, đẩy tình hình đi sang hướng khác, gây bất lợi cho Đảng. Họ xuyên tạc rằng, “Việt Nam đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng”, “chính trị rối ren”, “con đường đi lên CNXH chỉ còn lại lời nói”, “Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu”, “không thể thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vì nội bộ Đảng đang đấu đá nhau”... Hơn thế, một số người còn cho rằng, “Việt Nam đã “quay xe”, quyết định đi theo Mỹ và phương Tây”, “đã lựa chọn con đường TBCN”, “sắp gia nhập EU và khối NATO để khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế” và các nguy cơ khác.

Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không”, bởi “Việt Nam đã chọn phe”, “đi theo Mỹ và phương Tây”. Nhiều người còn cho rằng, quyết sách của Việt Nam là hợp lý vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đích thân mời Tổng Mỹ J. Biden đến thăm Việt Nam vào nửa đầu tháng 9 năm 2023. Do đó, “Việt Nam đã quên quá khứ”; “chỉ hướng đến tương lai”, không còn coi Mỹ là “kẻ thù truyền kiếp”.

2. Những câu chuyện nêu trên thật khôi hài và nực cười, là sự bịa đặt xảo trá, mang tính chủ quan, chỉ là ý kiến của một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Nó chỉ dựa vào một vài sự kiện cụ thể có thật để đồn thổi, khuếch đại, biến “con muỗi thành con voi”, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán ngán về CNXH do Đảng ta lãnh đạo.

Điều nguy hiểm nhất là nó xuất hiện trước ngày Đảng ta tổ chức Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để bàn nhiều vấn đề quan trọng về bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, chuẩn bị các Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây là những quan điểm sai trái nhằm chỉ trích, xuyên tạc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta một cách cực đoan về CNXH, phủ nhận hệ giá trị tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Qua đó, tạo ra dư luận xấu về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, làm nhụt ý chí phấn đấu của quân và dân ta. Sự thâm thù, nguy hiểm của các luận điểm sai trái nêu trên là nó được tán phát vào trước và sau lúc Đảng, Nhà nước ta tổ chức các hội nghị thường niên để bàn luận và ban hành quyết sách mới nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm 2024 - năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

3. Lấy cớ và thổi phồng một số hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang chĩa “nòng súng” vào việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của của Đảng và nhân dân ta. Cùng với đó, họ lợi dụng sự kiện có thật là Tổng thống J. Biden đến thăm Việt Nam cũng như nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước để đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta.

Phải nói cho rõ rằng, ở Việt Nam không bao giờ có chuyện “quay xe”, “đổi hướng”, “đổi màu”; các thế lực thù địch đừng hòng lợi dụng sự kiện nêu trên để phá hoại niềm tin của nhân dân ta vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Rõ ràng, việc phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sự thất bại cay đắng của các thế lực thù địch và bọn theo đuôi kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã nhận diện rõ bộ mặt thật của các thế lực phản động. Đằng sau chiêu trò “ném đá giấu tay” là mưu đồ đen tối: chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, bóp méo tính ưu việt của CNXH ở Việt Nam; cản trở nhân dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; lái nước ta đi theo con đường TBCN có lợi cho kẻ xấu.

Cần nói cho rõ rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ có tính lịch sử và nguyên tắc của nó; có lợi cho hai nước, hai dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta đã đổ máu, hy sinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược để bảo vệ vững chăc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nên mới có được thành quả cách mạng ngày nay. Những việc làm của Đảng ta đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân.

4. Ai đó cho rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ… là Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu, đi theo con đường TBCN là vô căn cứ, hoàn toàn không đúng. Đó là mưu toan bóp méo sự thật đầy tính vu khống, cáo buộc cần phải loại bỏ.

Những người tuyên bố “giã từ CNXH” để đi theo CNTB, đi theo con đường của “các nước lớn”, “các nước phát triển” ở phương Tây đã trải qua với hy vọng Việt Nam mau chóng trở thành “con hổ, con rồng châu Á” chỉ là ý muốn chủ quan của họ; nó hoàn toàn sai lầm, xa lạ với Việt Nam. Đối với nhân dân ta, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Ai đó cố tình kiếm cớ, viện dẫn chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ cùng với việc hai nước nâng cấp từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện để xuyên tạc bản chất của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đương nhiên, họ đã đi ngược lại lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Nhận thức rõ bối cảnh hiện thời là rất phức tạp, nhưng trước sau như một, Đảng, Nhà nước ta, Quân đội ta đã và đang làm mọi cách với nhiều biện pháp khả thi, tốt nhất, chắc chắn nhất để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiến lên. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân Việt Nam không bao tin vào sự đồn nhảm, sự xuyên tạc, bôi đen sự thật của các thế lực thù địch và đương nhiên không giờ tha thứ cho “những kẻ chọc gậy bánh xe”, chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH, phát triển đất nước vì hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta.

Tán phát quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật là vi phạm Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam, kẻ xấu nhất định sẽ bị trừng trị đích đáng. Vượt lên trên hết thảy mọi khó khăn, phức tạp, quyền tối cao quyết định vận mệnh quốc gia, sự thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước ta./.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...