Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

NVH41 - Phản bác luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền con người với những "nhà hoạt động nhân quyền"

 

Nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Nhà nước ta, trên không gian mạng, các thế lực thù địch thường lấy vấn đề nhân quyền như một cái cớ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Lợi dụng Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tổ chức phản động Việt Tân tiếp tục xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam “Chính phủ Việt Nam không cho phép các tổ chức nhân quyền trong nước được thành lập và hoạt động. Nhà cầm quyền thường khẳng định việc vận động cho nhân quyền và dân chủ là hành động chống lại đảng và Nhà nước Cộng sản này”. Đây là luận điệu phiến diện, xuyên tạc, đưa ra với mục đích xấu nhằm phủ định những thành quả về nhân quyền mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được, kích động gây bất ổn xã hội ở Việt Nam.

Việt Tân cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền trong các lĩnh vực khác như bắt và giam giữ tùy tiện; tù nhân chính trị; sự độc lập của tư pháp, chúng tự vẽ ra các con số “chính quyền đã bắt giữ ít nhất 173 người hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, trong đó có 24 người đang bị tạm giam chờ xét xử, có 19 người bị bắt giữ và 26 người khác bị kết án vì thực thi các quyền. Điển hình như việc những ngày qua trên trang Facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục đăng tải các bài viết về nhân quyền ở Việt Nam và đòi thả tự do cho các đối tượng như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang,… những kẻ mà chúng tự phong là “nhà hoạt động nhân quyền”.

Có lẽ người dân đều chẳng mấy xa lạ khi nhắc đến những cái tên như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang, bởi từ lâu, các đối tượng trên đã được biết đến với hàng loạt các hành vi chống phá Nhà nước, công kích chính quyền, miệt thị đất nước. Thực chất đây đều là những kẻ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc thực thi quyền con người là một trong những mục tiêu quan trọng đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trên cơ sở Hiến pháp, các quy định về quyền con người tiếp tục được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Báo chí năm 2016…

Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979... và những đóng góp lớn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đặc biệt, ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77. Kết quả này không chỉ là minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam mà còn là lời khẳng định sự tín nhiệm của quốc tế đối với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Không chỉ riêng Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, người nào vi phạm pháp luật cũng sẽ bị xử lý nghiêm. Thực tế khách quan đã chứng minh không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “hoạt động nhân quyền”,“bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc có chủ đích theo một chiều, không phản ánh đúng hiện thực khách quan. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.

NVH41 - Cảnh giác trước thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” trong công tác đối ngoại, ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta

 

Trong gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” (trích phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 (19/12/2023).

Để xây dựng nền ngoại giao độc đáo với bản sắc riêng, Việt Nam đang tiếp tục kế thừa truyền thống, kinh nghiệm của các bậc tiền nhân, vận dụng sáng tạo tư tưởng, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổng kết, khái quát: trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách dân tộc Việt Nam.

Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, tăng cường sức mạnh dân tộc, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác.

Thế nhưng, các thế lực thù địch không chấp nhận được điều này, họ cố tình dùng những lời lẽ phiến diện, xuyên tạc nhằm chống phá về trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” của Đảng, Nhà nước ta. Một số tổ chức, cơ quan truyền thông nước ngoài như Việt Tân, BBC, VOA, RFA,… đã cố tình xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta; cho rằng trường phái “ngoại giao cây tre” là “ba phải”, “không có chính kiến, thiếu lập trường nhất quán”, “đu dây”, “bắt cá hai tay”, “không phù hợp” với thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Họ rêu rao: Ngoại giao cây tre thì đánh được ai; kiểu ngoại giao đó chẳng có tác dụng gì?...

          Và họ không quên cho rằng: Đảng ta với “đường lối ngoại giao cây tre” vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “trì trệ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của lịch sử…

Rõ ràng, các thế lực thù địch không chấp nhận được sự thật, nên cố tình bóp méo, bôi nhọ, hoặc cố tình phớt lờ thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong công tác đối ngoại. Họ cố tình quên đi một thực tế là: Qua trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đến nay, Việt Nam tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước trên thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 6 nước là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với gần 30 quốc gia khác.

Nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; đồng thời, góp phần đấu tranh với mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về đối ngoại, ngoại giao và trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; ngày 28/02/2024, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Hướng dẫn số 143-HD/BTGTW về triển khai đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng về nội dung tác phẩm “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

          Việc tuyên truyền, quán triệt nội dung tác phẩm  có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đưa nội dung tư tưởng lớn về đối ngoại, ngoại giao của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống; tiếp tục xây dựng nền ngoại giao toàn diện với 03 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng về nội dung tác phẩm “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” được triển khai đến từng chi bộ với các chuyên đề cụ thể; hình thức đa dạng, phong phú, sáng tạo, thiết thực, gắn với các đợt sinh hoạt chính trị về công tác xây dựng Đảng, các sự kiện chính trị, đối ngoại quan trọng của đất nước, của tỉnh Lâm Đồng và các cơ quan, đơn vị. Điều này góp phần triển khai hiệu quả công tác đối ngoại; đấu tranh phản bác với những luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của thế lực thù địch, cơ hội chính trị phá hoại mối quan hệ đối ngoại, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đó, củng cố lòng tin của Nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

 

 

NVH41 - Ý nghĩa của việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

 

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả rất quan trọng; tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị. Việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ góp phần quan trọng vào thành công của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. 

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần giữ vững thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần giữ gìn giang sơn gấm vóc và thành quả cách mạng. Để đất nước tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, Nhân dân luôn vững tâm tin theo Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, một trong những đòi hỏi cấp bách và xuyên suốt là phải đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm cho Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với niềm tin của Nhân dân. 

Bên cạnh đó, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần bảo đảm sự thịnh vượng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tham nhũng là hiện tượng tiêu cực xã hội, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là vấn nạn chung đã và đang đặt ra cho các quốc gia đều phải quan tâm và tiến hành đấu tranh quyết liệt, hiệu quả. Yêu cầu “nội sinh tự thân” đặt ra cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta phải có chiến lược phòng, chống tham nhũng một cách quyết liệt, hiệu quả để giữ gìn và phát triển thịnh vượng. Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc khẳng định quyết tâm chính trị và trách nhiệm đạo đức của chế độ xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng con người mới hướng đến chân, thiện, mỹ và xây dựng hệ giá trị quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị liêm chính, vững mạnh, nâng tầm vị thế quốc tế của Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khóa VII đã nhấn mạnh: “Tệ tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài. Những hiện tượng đó gây tác hại rất lớn, làm tổn hại thanh danh của Đảng”(2). Đến các kỳ Đại hội ĐBTQ khóa VIII, IX, X, XI, XII và nhiều Nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng đều khẳng định, tham nhũng có tác hại vô cùng to lớn, gây ra hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(3). Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận cụ thể hóa bằng các chính sách và pháp luật để thực thi đồng bộ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng hiệu quả. 

Sau hơn 38` năm đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: “Một trong những bài học lớn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là phải giữ vững và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ then chốt”(4); chống tham nhũng là “một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoạn kết toàn dân tộc”(5). Ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Để phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 11/7/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Quy định số 114-QĐ/TW ra đời rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay; quy định cụ thể trách nhiệm của cấp ủy, của thành viên cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo. 

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có ý nghĩa gắn kết đồng bộ với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và ngược lại. Hiện nay, chủ trương xây dựng Đảng trên năm phương diện cơ bản là chính trị; tư tưởng; đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng Đảng về chính trị đòi hỏi tất cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải thấm nhuần sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đưa các nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong các cuộc họp, sinh hoạt chuyên đề thường kỳ và coi đó là các tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên. Trong quá trình công tác, chú trọng chấn chỉnh, uốn nắn từ suy nghĩ, nhận thức để phòng, chống từ sớm, từ xa; xây dựng Đảng về tư tưởng góp phần cho mỗi cán bộ, đảng viên phải “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Trước đây, phòng, chống tham nhũng, lãng phí chủ yếu tập trung vào các hành vi như tham ô, đưa hối lộ, nhận hối lộ, chiếm đoạt, làm thất thoát tài sản nhà nước; thì nay mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước, gắn hành vi tham nhũng của cá nhân với tập thể lãnh đạo, quản lý và trách nhiệm của người đứng đầu; gắn phòng, chống tham nhũng với tiêu cực.  

Để có đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự liêm chính, việc trước tiên phải xây dựng Đảng về đạo đức gắn với xây dựng hệ thống chính trị về đạo đức, góp phần cho mỗi tổ chức cơ sở đảng và đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện các chuẩn mực đạo đức cách mạng là: trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; lòng yêu thương con người; tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Phương châm rèn luyện với nguyên tắc: tu dưỡng đạo đức suốt đời, bền bỉ và nêu gương với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần “thức tỉnh” cán bộ có ý thức, cầu thị, không ngừng trau dồi, rèn luyện bản thân và từ đó hình thành nhu cầu tự thân trong việc hoàn thiện mình để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác được giao tại cơ quan, đơn vị.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở Việt Nam

Hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực càng quyết liệt, mạnh mẽ thì đòi hỏi càng cao về vai trò điều hành, quản lý của Nhà nước và hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành vấn đề thường trực tác động tích cực vào nếp nghĩ, tác phong, hành vi công tác của mỗi cán bộ, đảng viên. Từ suy nghĩ đến hành động sẽ phải chuẩn mực, đúng chức trách nhiệm vụ, đúng quy trình, đáp ứng niềm tin yêu về chính quyền phục vụ, chính quyền vì Nhân dân. Mọi hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đều có ý nghĩa “phòng là chính”, có ý nghĩa răn đe và có ý nghĩa hoàn thiện, khắc phục những khâu yếu kém trong quy trình xử lý tội phạm tham nhũng. Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; từ đó để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính, nên cần phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; phải tăng cường giáo dục kỷ luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và giám sát chặt chẽ để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, nhớ điều cấm, giữ giới hạn. 

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, nên đã đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm như đặc quyền, đặc lợi, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, hẹp hòi, cục bộ… Vì vậy, Người luôn yêu cầu cán bộ cách mạng phải có đức và tài, trong đó, “đạo đức là gốc”. Do đó, trong giáo dục, bồi dưỡng cán bộ nhà nước thì phải luôn coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị để mỗi người biết liêm sỉ, trọng danh dự và tự “miễn nhiễm” trước những cám dỗ quyền lực, vật chất. Tuy nhiên, cán bộ có đạo đức thì cũng không hẳn là mãi mãi trong sáng, nếu không thường xuyên trau dồi, rèn luyện thì dễ dẫn đến sa vào chủ nghĩa cá nhân - đó chính là sự suy thoái về đạo đức, lối sống.

Vì vậy, cần đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng, trau dồi về đạo đức cách mạng, kỹ năng và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng lý tưởng và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ. Trọng tâm là tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn với các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu khóa XIII; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; gắn với đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự trau dồi - tự phê bình - tự rèn giũa mình để luôn có lý tưởng và nhân cách của người cách mạng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay./. 

NVB40 - CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM

 

Ngày 02/02/2023, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 96-QĐ/TƯ về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Sau đó, ngày 23-6-2023, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 96/2023/QH15 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Thực hiện Quy định số 96-QĐ/TW và Nghị quyết số 96/2023/QH15 sẽ đem lại những phản ánh chính xác, khách quan trong việc đánh giá, bố trí, điều động và thực hiện chính sách đối với cán bộ, từ đó góp phần quan trọng trong việc đánh giá đội ngũ cán bộ của Đảng ta.

Tuy nhiên, ngay sau khi ban hành và trong quá trình thực hiện Quy định 96 và Nghị quyết số 96, trên các trang RFA, các trang blog, một số trang mạng xã hội đã đăng tải các thông tin với quan điểm chống phá việc lấy phiếu tín nhiệm của Đảng ta như: “Phức tạp hóa vấn đề lấy phiếu tín nhiệm, vì sao?”“Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm: Nên hay không?”“Lấy phiếu tín nhiệm: chiêu trò mị dân?”

Và gần đây, ngày 03/5/2024, trên trang blog Đối Thoại, đối tượng Lê Quốc Dân tán phát bài “Ông Nguyễn Phú Trọng và trách nhiệm chính trị”, nội dung xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, hạ thấp vai trò công tác lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

Đồng thời, các thế lực thù địch, phản động ra sức phủ nhận lịch sử, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và không ngừng xuyên tạc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng khi cho rằng việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là việc “thanh trừng”, “xử lý các sinh mệnh chính trị thoái hóa không trung thành”, không đơn thuần là việc “xây dựng Đảng” mà là việc “loại trừ phần tử phe cánh, nội bộ trong Đảng”.

Không dừng lại ở đây, chúng mặc nhiên quy chụp có chủ đích giữa kết quả lấy phiếu tín nhiệm với các cá nhân có tên trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo các cấp thời gian qua để “cường điệu hóa” sự suy thoái của một bộ phận cán bộ đảng viên, vấn nạn tham nhũng trong Đảng ta là bản chất tất yếu của một Đảng lãnh đạo.

Thực chất, luận điệu nêu trên là nhằm đánh tráo khái niệm, xuyên tạc bản chất của Quy định số 96-QĐ/TW và Nghị quyết số 96/2023/QH15. Qua đó nhằm thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, hệ thống chính trị. Đây không phải là một điều mới mẻ trong các luận điệu chống phá Đảng của các thế lực phản động, bởi lẽ, trước mỗi quyết định của Đảng có tính xây dựng và tổ chức Đảng, nhất là về công tác cán bộ thì các thế lực thù địch luôn lấy việc bài xích chủ trương, đường lối của Đảng và tìm mọi cách, tận dụng mọi thời cơ, mọi sự kiện trong công tác cán bộ để lồng vào đó thông điệp bôi bẩn, suy diễn, sặc mùi chống phá với âm mưu sâu xa, nham hiểm của chúng là làm xói mòn, mất niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thực tiễn trải qua hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của cán bộ và công tác cán bộ, Người chỉ rõ:“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”“Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”. Cán bộ và công tác cán bộ không những là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, mà còn là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta. Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng về cán bộ cần phải được coi là rường cột trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh hiện nay.

Do đó, việc ban hành và thực hiện có hiệu quả Quy định số 96-QĐ/TW, Nghị quyết số 96/2023/QH15 và các văn bản có liên quan đã khẳng định Đảng ta ngày càng gương mẫu, trong sạch và luôn tuân thủ nhất quán nguyên tắc: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu, nhất là người được lấy phiếu tín nhiệm… thể hiện quyết tâm của Đảng ta trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công tác cán bộ.

Đồng thời, đó cũng chính là minh chứng sống động và thuyết phục nhất, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua; góp phần tạo động lực, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

NVB40 - BẢNG XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ - NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, CŨ MÒN

 

Tự do báo chí là vấn đề phức tạp, vừa trừu tượng, vừa cụ thể và có sự độc lập tương đối với các lĩnh vực khác của đời sống. Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân. Các thế lực thù địch tìm đủ mọi lý lẽ mơ hồ hòng tấn công, xuyên tạc thực tế tự do báo chí, áp đặt quan niệm về tự do báo chí của các nước tư bản vào nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam. Song, cả phương diện lý luận và thực tiễn đã khẳng định rõ quyền tự do báo chí trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Lâu nay, các tổ chức như Phóng viên không biên giới (RSF); các đài BBC, RFA, RFI, VOA tiếng Việt và một số tổ chức, cá nhân phản động luôn tìm cách xuyên tạc, bịa đặt về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Mới đây, RSF đã công bố cái gọi là báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2024”, trong đó xếp Việt Nam hạng 174 trong tổng số 180 quốc gia. Ngày 05/4/2024, trên trang Đối thoại phát tán bài “Báo cáo 2024 của RSF: Việt Nam trong nhóm bảy nước đội sổ về tự do báo chí”, nội dung xuyên tạc, vu cáo chính quyền “đàn áp và kiểm duyệt” báo chí, “bỏ tù có hệ thống” những “nhà báo” cất tiếng trên mạng xã hội; “hạn chế” quyền tự do tiếp cận thông tin của người dân; đồng thời phủ nhận những giá trị tự do, dân chủ ở Việt Nam.

Có thể thấy, đây là chiêu trò cũ rích nhằm phát tán tin giả, tin sai sự thật, quy chụp, xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Những thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

Đầu tiên, chúng ta phải khẳng định: Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Về pháp lý: Tự do ngôn luận được hiến định tại Điều 10 trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946): “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành (năm 2013) tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018 đều có những quy định cụ thể về tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Kể từ năm 1945 đến nay, Đảng ta đã nghiên cứu, đề xuất, thực hiện nhiều chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn để phát triển hệ thống báo chí Việt Nam, bên cạnh chú trọng các yếu tố về số lượng, chất lượng, chủng loại, Đảng ta quan tâm đào tạo đội ngũ nhà báo, tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiến tiến, bắt kịp với thời đại… nhằm giúp cho mọi người có thể tự do tiếp nhận các thông tin dễ dàng, nhà báo có đầy đủ điều kiện để tự do lao động sáng tạo.

Thực tiễn về tự do báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì mà RSF đưa ra. Hiện nay, Việt Nam có hơn 800 cơ quan báo chí in và điện tử, hơn 70 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình. Cả nước có hơn 40.000 người hoạt động trong cơ quan báo chí, trong đó có hơn 17.000 người được cấp Thẻ Nhà báo. Việt Nam được thế giới ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất thế giới với hơn 68 triệu người (chiếm 70% dân số). Điều này đã thể hiện rất rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của cả hệ thống báo chí và truyền thông. Những thành tựu trên đã minh chứng sinh động cho sự tự do báo chí ở Việt Nam.

Ngoài ra, thực chất RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Về bảng đánh giá tự do báo chí World Press Freedom Index hằng năm được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá, xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể nào về tình hình báo chí. Đồng thời, tổ chức này cũng không sử dụng bất kì báo cáo nào của Chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Trái lại, việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam lại thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp, do đó thông tin không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Chính vì vậy, mức độ tin cậy trong bảng đánh giá tự do báo chí được RSF đưa ra hầu như không có.

Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân đều bị nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc theo các điều luật đã quy định. Điều này thường bị các thế lực thù địch xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước ta “đàn áp và kiểm duyệt” báo chí, “bỏ tù có hệ thống” những “nhà báo” cất tiếng trên mạng xã hội… Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của nhân loại, chưa bao giờ có “tự do báo chí tuyệt đối” hay “tự do báo chí không giới hạn”. Nếu ai đó tin rằng có tự do báo chí tuyệt đối, tự do báo chí cho mọi người thì hoặc là họ ngây thơ về chính trị, hoặc cố tình phủ nhận sự thật. Ở những nước có nền truyền thông phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Anh thì tự do báo chí cũng đều phải tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực và luật lệ nhất định của nước đó. Ví dụ ở Mỹ, nền báo chí bị hạn chế bởi giới quân sự. Người dân Mỹ không được tiếp cận thông tin về tình trạng của người dân vô tội ở các nước Mỹ tấn công quân sự…

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Thực tiễn đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Đề nghị các đồng chí tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, nâng cao tinh thần cảnh giác, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng, bôi xấu chế độ, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, hòng gây mất niềm tin, gieo rắc sự hoài nghi, chống phá Nhà nước, chống phá chế độ, hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế./.

 

 

 

 

NVI41 - XÁC LẬP VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC

 

Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của Internet và mạng xã hội cùng với các sản phẩm di động thông minh trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã góp phần hình thành, thúc đẩy và làm thay đổi phương thức giao tiếp, giúp con người trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện.

Lợi dụng vào đó, các thế lực thù địch, phản động cũng có những chiêu thức, thủ đoạn mới tuyên truyền những thông tin xấu, độc hại chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước ta. Mục đích có tính chiến lược của các thế lực là chống phá Đảng ta mà trước hết là tấn công vào nền tảng tư tưởng, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện mục đích đó, chúng dùng đủ mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt theo phương thức “mưa dầm, thấm lâu” thích ứng với mọi tình hình, mọi đối tượng, mọi thời điểm khác nhau để chống phá. Thông qua các phương tiện thông tin để truyền bá tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, gây rối xã hội. Đặc biệt họ còn đưa ra ý kiến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước, với dân tộc. Theo đó họ đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Thực chất đây là âm mưu "diễn biến hòa bình" và luận điệu này không có gì mới mà vẫn với chiêu thức mượn danh "dân chủ", “đổi mới chính trị, cải cách hành chính” để gây rối như chúng đã thực hiện trong các cuộc “Cách mạng màu” ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trước đây. Chúng ta không khó để nhận ra âm mưu của hành động này là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho ý đồ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Cần nghiêm túc khẳng định rằng các thế lực chống phá này là những người “ấu trĩ” không hiểu hoặc cố tình không hiểu tính logic lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nên mới đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cần khẳng định ngay rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam hoàn toàn không phải bằng con đường tranh cử mà bằng chính năng lực hoạt động thực tiễn, bản lĩnh và trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc và được Nhân dân giao phó. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam hơn 90 năm qua luôn gắn với năng lực lãnh đạo và bản lĩnh chính trị của Đảng. Đó là một sự lựa chọn đúng đắn, nghiêm túc của lịch sử dân tộc Việt Nam mà Nhân dân ta đã ghi nhận vai trò, sứ mệnh đó một cách rõ ràng, khách quan và công bằng.

Ngày 01/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình Nhà Nguyễn ươn hèn đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng, ngày 06 tháng 6 năm 1884 đã ký hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Pa-tơ-nốt) xóa bỏ hoàn toàn những biểu hiện quyền lực còn lại của nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập, chịu sự “Bảo hộ” của thực dân Pháp. Đến đây, chế độ phong kiến Việt Nam với ý nghĩa là một vương triều độc lập đã sụp đổ, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Chủ nghĩa yêu nước đã thôi thúc phong trào Cần Vương và các phong trào cứu nước theo tư tưởng tư sản nhưng đều lần lượt thất bại do chưa xác định đúng đối tượng, lực lượng cách mạng và phương thức đấu tranh để tìm ra con đường và cách thức giải quyết nhiệm vụ của lịch sử dân tộc đang đặt ra: độc lập và dân chủ. Dân tộc Việt Nam chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách đô hộ của thực dân, phong kiến. Thiếu ngọn đuốc soi đường nên những phong trào yêu nước như con thuyền không lái, khát vọng cháy bỏng độc lập cho dân tộc nhưng không có được một đảng tiền phong với một hệ tư tưởng tiên tiến dẫn đường nên đều thất bại, bị đàn áp dã man, bị dìm trong bể máu, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước.

Khi người con ưu tú của dân tộc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng Việt Nam đã tìm được kim chỉ nam dẫn đường. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa đến việc thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó là minh chứng lịch sử để khẳng định rằng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng Mácxít chân chính mới đủ bản lĩnh chính trị tiếp thu, phát triển những tư tưởng lớn của thời đại - tư tưởng độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, lãnh đạo nhân dân đập tan xiềng xích áp bức, giành độc lập dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Các đảng phái chính trị tuy không đủ năng lực để đảm đương sứ mệnh tìm ra con đường giành độc lập cho dân tộc nhưng lại muốn tranh giành quyền lực. Trước tình thế thực dân Pháp với âm mưu “muốn cướp nước ta một lần nửa”, trước vận nước "ngàn cân treo sợi tóc", Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trên tinh thần đoàn kết đã chủ trương mở rộng thêm 70 ghế trong Quốc hội cho các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách không qua bầu cử nhằm tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc trong mặt trận chống ngoại xâm. Nhưng trước cuộc chiến đấu vô cùng khó khăn gian khổ, các đảng phái đó đã không đủ bản lĩnh để cùng nhân dân chống ngoại xâm mà họ hoặc là chạy theo Tây, hoặc là “cuốn gói” theo Tưởng. Chỉ có Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy sức mạnh của toàn dân tộc, phá thế bao vây của các thế lực thù trong, giặc ngoài; thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh; vừa kháng chiến vừa kiến quốc; đẩy mạnh kháng chiến toàn diện trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao…Đảng ta đã động viên sức mạnh toàn dân tộc bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp để tổ chức cả nước thành một mặt trận toàn quốc kháng chiến. Đường lối kháng chiến đúng đắn đó của Đảng thể hiện sự sáng tạo, độc lập, tự chủ và là ngọn cờ dẫn dắt, động viên, tổ chức nhân dân ta đấu tranh giành thắng lợi. Từ chiến thắng Điện Biên Phủ, đến thắng lợi của Hiệp định Giơ-ne-vơ và đỉnh cao là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu sự hoàn thành một cách vẻ vang cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước do duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam – Người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước lại bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận; chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc xảy ra... Những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp cũng bộc lộ ngày càng gay gắt; mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Đất nước đứng trước những khó khăn, thách thức mới và dần lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Trước thực tế đó, việc đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng để phát triển là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, trước hết phải thay đổi cơ bản cách nghĩ, cách làm, đưa ra những lời giải đáp cho những vấn đề mới của thực tiễn đặt ra. Sự lựa chọn duy nhất đúng là tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội với những cách thức mới, những quan niệm mới mà thực chất là đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta để đưa đất nước tiến lên. Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8-1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất "bung ra" là bước đột phá đầu tiên của quá trình đó nhằm khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, phá bỏ rào cản, mở đường cho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển. Đây được xem là khâu “đột phá” trong đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội VI (tháng 12/1986) đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với quan điểm“Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”, đã đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong khi nhiều nước xã hội chủ nghĩa có lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội dài hơn lần lượt sụp đổ, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đứng vững là nhờ đổi mới đúng đắn. Chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; kinh tế tăng trưởng; nhiều vấn đề xã hội bức xúc từng bước được giải quyết; các chương trình an sinh xã hội ngày càng được quan tâm và đầu tư; an ninh - quốc phòng được tăng cường và giữ vững; hội nhập quốc tế có hiệu quả; quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ tài tình trong lãnh đạo dân tộc chống ngoại xâm mà còn thực sự xứng đáng là người lãnh đạo xây dựng đất nước trong thời bình, ngay cả khi bối cảnh quốc tế có những biến động khôn lường. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại”. Cố nhiên, cội nguồn sâu xa của mọi thành tựu mà đất nước ta đạt được là nhờ nhân dân tin ở Đảng và bằng lao động sáng tạo của mình, nhân dân biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và trưởng thành trong cuộc đấu tranh của nhân dân, có mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Qua thực tiễn hoạt động đã chứng minh một cách khách quan là nhân dân nhìn thấy ở Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là người có đủ phẩm chất, năng lực để nhân dân giao phó sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dân thấy được sự thống nhất hữu cơ giữa lợi ích của mình và lợi ích của Đảng vì Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Thực tế, lịch sử dân tộc ta, nhân dân đã xác lập và trao cho Đảng quyền duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Như vậy, xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự lựa chọn khách quan, tất yếu và là sự lựa chọn đúng đắn, nghiêm túc của lịch sử dân tộc mà không phải do ai đó áp đặt cho xã hội. Dù là đạo luật gốc thì Hiến pháp cũng không thể xác lập vai trò đó của Đảng một cách khiên cưỡng, duy ý chí, mà Hiến pháp chỉ là sự ghi nhận một thực tiễn chính trị - xã hội đã được xác lập trong thực tế lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì là sự phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nên không một thế lực nào buộc chúng ta phải loại bỏ Điều 4 khỏi Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

NVI41 - RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT "LIÊM", "CHÍNH" - YẾU TỐ NỀN TẢNG XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

 

Xây dựng và rèn luyện phẩm chất “Liêm”, “Chính” của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới là một trong những yếu tố nền tảng nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

“LIÊM”, “CHÍNH” - PHẨM CHẤT QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trên phương diện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Liêm” là “trong sạch, không tham lam”, “luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”, không “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng...”(1). Người có đức “Liêm” là tự trọng, biết phải trái, đúng sai và hổ thẹn khi trót làm điều xấu; biết tự răn mình để tránh điều xấu, để tâm trí luôn trong sáng. Không có đức “Liêm” thì con người sẽ bị tha hóa trầm trọng về nhân cách. Người có đức “Chính” là người ngay thẳng, công tâm, luôn dũng cảm đứng lên đấu tranh để bảo vệ lẽ phải; hành động quang minh chính đại, trong lòng không có chút tư lợi nào. “Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng phải Chính mới là người hoàn toàn”(2). “Chính” là bản chất con người cần hướng tới, giống như cây có gốc rễ vững vàng, uy vũ không thể quy phục, phú quý cám dỗ không dễ khuất phục, nghèo khổ không làm nhụt chí tiến thủ. Do đó, “Chính” là đức khó thực hiện nhất trong “tứ đức” (Cần, Kiệm, Liêm, Chính), là kết quả tất yếu của Cần, Kiệm, Liêm và là biểu hiện hoàn thiện về nhân cách con người.

Liêm - Chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực đối với người cán bộ, đảng viên trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày dựa trên sự tuân thủ đạo đức công vụ, đạo đức cá nhân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn thực hành Liêm - Chính thì cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ trên ba phương diện: Đối với mình, “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”(3); Đối với người, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới”; Đối với công việc “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”, “việc phải thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc trái thì dù nhỏ mấy cũng tránh” với tinh thần “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh”.

RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “LIÊM”, “CHÍNH” ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4). Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”(5).

Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ. Xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ trước hết phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức. Xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự Liêm- Chính. Bởi, Liêm - Chính là phẩm chất quan trọng nhất trong nhân cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên có Liêm - Chính là “gốc rễ” quan trọng nhất để xây dựng Đảng Liêm - Chính, “là đạo đức, là văn minh”. Như vậy, xây dựng phẩm chất Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là nền tảng bảo đảm an ninh tư tưởng chính trị và hạt nhân để xây đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, đồng thời phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng, là cơ sở bảo đảm bản chất “đạo đức, văn minh” tốt đẹp của Đảng.

Giai đoạn hiện nay, chúng ta đang quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp nhằm xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân. Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay tất yếu phải xây dựng được một nền chính trị liêm khiết và một nền công vụ liêm chính. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nền công vụ hiện hành, không chỉ trên phương diện cải cách hành chính, tổ chức bộ máy hay hiện đại hóa trang thiết bị làm việc mà nhất thiết phải bắt nguồn từ việc “Liêm - Chính hóa” đội ngũ cán bộ, đảng viên thực thi công vụ. Do đó, xây dựng và thực hành Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là điều kiện, yêu cầu tất yếu khách quan của việc xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân.

Mặt khác, trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay cũng đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng văn hóa Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 nêu rõ: “Từ 2012-2022, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng với hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý...”. Đây là những con số nhức nhối về sự “bất liêm”, “bất chính” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; bên cạnh những thiệt hại, hậu quả về mặt kinh tế - xã hội, còn gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến trình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra “phổ biến, khó kiểm soát” là do những yếu kém, hạn chế, bất cập trong quản lý kinh tế - xã hội của nền công vụ. Chính vì thế, trên bình diện quốc gia - dân tộc, xây dựng được một nền công vụ Liêm - Chính, nền văn hóa Liêm - Chính còn là cách định hình giá trị và đảm bảo trước thế giới về một quốc gia hòa bình, văn minh tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ”. Theo đó, mức độ Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong Đảng mà trực tiếp của mỗi cán bộ, đảng viên chính là thước đo, tiêu chí đánh giá trình độ văn minh, sự phát triển văn hóa tiến bộ của một dân tộc, vì Đảng ta là Đảng cầm quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp thực thi nền hành chính công vụ.

ĐỂ XÂY DỰNG, RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “LIÊM”, “CHÍNH” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trước hết, trong Đảng và cả về mặt nhận thức xã hội, cần quán triệt và khẳng định rõ Liêm - Chính là phẩm chất “gốc”, chuẩn mực, thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức lối sống, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là trụ cột trong quá trình điều hành, quản lý và phát triển quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(6), “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(7); “Đảng làm tốt là do các chi bộ đều tốt, chi bộ tốt là do đảng viên tốt”. Theo đó, trong tình hình hiện nay, uy tín của Đảng phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng mà trên hết, trước hết là đức Liêm - Chính của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải xác định việc rèn luyện, tu dưỡng và thực hành Liêm - Chính như một yêu cầu, nguyên tắc đạo đức bắt buộc, phải thực hiện thường xuyên trên 3 khía cạnh: đối với mình, đối với người và đối với công việc.

Trong bối cảnh đất nước mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng, nền kinh tế thị trường diễn ra hết sức sôi động, đan xen cả mặt tích cực lẫn tiêu cực; cùng với đó là sự du nhập các yếu tố văn hóa ngoại lai, những cám dỗ tiền tài vật chất, lối sống xa hoa, hưởng thụ, phô trương, thực dụng... đã và đang tạo nên những “cạm bẫy ngọt ngào” mà ở đó người cán bộ, đảng viên nếu không giữ vững đạo đức cách mạng, không rèn luyện phẩm chất Liêm - Chính sẽ rất dễ đánh mất mình, dễ tha hóa biến chất, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”. Cho nên, xét đến cùng, phẩm chất Liêm - Chính chính là thước đo thể hiện năng lực, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, xác định xây dựng phẩm chất Liêm - Chính trong cán bộ, đảng viên là yêu cầu vừa cấp thiết, cơ bản, vừa kiên trì, thường xuyên, lâu dài; là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay.

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất đã không thắng nổi “những viên đạn bọc đường” mà sa ngã, biến chất, đánh mất sự chính trực, liêm khiết; lạm dụng chức quyền, sa vào tham ô, tham nhũng, tiêu cực... trong đó không ít cán bộ cấp cao và nhiều người trong số đó có học hàm học vị cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất là do những cán bộ, đảng viên này thiếu tu dưỡng rèn luyện, thiếu “gốc” đạo đức, thiếu “rễ” văn hóa… dẫn đến hành động “bất Liêm”, “bất Chính”. Bên cạnh đó cũng cần đặt vấn đề, đó là những sai phạm, vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên không phải chỉ diễn ra trong “một sớm một chiều”, thế nhưng tại sao không được ngăn ngừa, phát hiện từ sớm? Phải chăng chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng đủ tốt, đủ nghiêm minh, đủ sức răn đe? Phải chăng chúng ta còn chủ quan, lơ là trong nhìn nhận đúng vị trí, vai trò phẩm chất Liêm - Chính trong cán bộ, đảng viên; còn thiếu kịp thời đề ra những giải pháp quyết liệt, triệt để nhằm xây dựng, hình thành văn hóa Liêm - Chính trong Đảng, trong bộ máy công quyền?

Bối cảnh mới đòi hỏi trong quản trị Đảng, quản trị quốc gia, điều hành Chính phủ, thực thi công vụ… phải luôn đặt công tác kiểm tra - giám sát - thi hành kỷ luật Đảng ở vị trí quan trọng cùng với hệ thống quy định về Liêm - Chính - bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, tiếp tục củng cố, bổ sung những chế tài đủ sức răn đe, ngăn ngừa; bắt buộc cán bộ phải rèn luyện, thực hành Liêm - Chính; tiếp tục việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, quy định pháp luật trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm cho phẩm chất Liêm - Chính thực sự trở thành thước đo về đạo đức và sự tuân thủ pháp luật của cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, làm tốt nhiệm vụ tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước; xây dựng niềm tin và lý tưởng; khơi dậy khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Kiên trì, tích cực bồi dưỡng, bồi đắp từ gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin lý tưởng cộng sản chân chính, tốt đẹp là một trong những giải pháp quan trọng để giúp cán bộ, đảng viên vượt qua được mọi sự cám dỗ, giữ được Liêm - Chính. Bởi, chỉ khi trang bị đầy đủ, sâu sắc thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, xây dựng được khát vọng lớn lao thì tầm vóc, trí tuệ của cán bộ đảng viên mới mở rộng mở hơn, tầm nhìn bao quát hơn, từ đó hình thành nên bản lĩnh, ý chí kiên định, vững vàng trước những thử thách, khó khăn; vượt qua được những hạn hẹp của thói hư vinh, lòng ham muốn vật chất tầm thường, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống; giữ vững được phẩm chất chính trị của người cộng sản chân chính.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải “định vị bản thân”, xây dựng động cơ học tập và làm việc đúng đắn, nêu cao tinh thần trách nhiệm, thượng tôn pháp luật, giữ vững nguyên tắc của Đảng.

Liêm - Chính là những giá trị khó thực hiện nhất trong các “đức” làm người, đòi hỏi sự tự giác, rèn luyện và bản lĩnh, nỗ lực tự thân rất cao ở mỗi người, nhất là trong tình hình hiện nay. Do đó, để phẩm chất Liêm - Chính thể hiện thành văn hóa, ý thức, ứng xử, hành động trong thực thi công vụ thì cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải luôn nêu cao ý thức học tập, trau dồi năng lực công tác, nâng cao tinh thần trách nhiệm. Đồng thời định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý có chất lượng, hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn công tác.

Cán bộ, đảng viên khi thực hành công vụ là đang sử dụng quyền lực Nhà nước, do Đảng và nhân dân giao phó. Vì thế, phải thực hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức, hành động theo pháp luật nhằm phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Trong mỗi việc làm, mọi hoàn cảnh đều đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời phải có ý thức quản lý chặt chẽ, nghiêm túc đời sống sinh hoạt hằng ngày của bản thân, gia đình. Từ đó, phẩm chất Liêm - Chính được hình thành, bồi đắp qua mỗi ngày, mỗi việc làm, hành động của cán bộ, đảng viên một cách tự nhiên như mọi hành vi ứng xử văn hóa và những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam./.

NVD41 - Không thể đánh tráo bản chất, bôi đen Chiến thắng 30/4/1975

 

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng cứ mỗi dịp 30/4, khi nhân dân cả nước kỷ niệm, ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tái diễn điệp khúc xuyên tạc về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975 cũng như bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. 

Tái diễn những luận điệu sai trái, xuyên tạc


30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại - ngày hội thống nhất non sông, Bắc Nam một dải. Đó là thắng lợi vẻ vang của toàn thể dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh bại những thế lực thực dân, đế quốc hùng mạnh. Vẫn luận điệu cũ, một bộ phận người Việt vốn từng ở bên kia chiến tuyến trở lại điệp khúc ta thán về cái gọi là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen”, “ngày tắm máu”…

Vì cho đến hôm nay, họ vẫn không nhìn thẳng để công nhận một sự thật lịch sử, đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, là cuộc chiến tranh vệ quốc, bảo vệ giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông. Gần nửa thế kỷ hòa bình, xây dựng đất nước ngày càng thịnh vượng, phát triển, dân tộc ta với tinh thần hòa hiếu gác lại quá khứ chứ không bao giờ phủ nhận, lãng quên quá khứ. 


Di chứng, hậu quả chiến tranh, sự hy sinh, mất mát sau chừng ấy năm chiến tranh kết thúc thì ở nhiều làng mạc, thôn xóm vẫn còn hiện hữu.


Để làm nên chiến thắng đó, quân và dân Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, làm nên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đi đến thắng lợi cuối cùng, non sông Việt Nam thu về một mối. Đó là thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của 30 năm chiến tranh giải phóng, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta. Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự kế tục và phát triển cao độ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và của cuộc kháng chiến chống Pháp, là thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đó là chiến thắng không thể phủ định và để có chiến thắng đó, nhân dân ta đã phải chiến đấu trường kỳ, hy sinh biết bao xương máu.


Thế nhưng, các thế lực thù địch vẫn không nhìn thẳng vào sự thật, luôn cố tình đánh tráo, xuyên tạc bản chất, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975. Những ngày gần đây, chúng đăng tải nhiều bài viết, video, hình ảnh sai lệch, xuyên tạc trên Internet, các trang mạng xã hội, tìm cách phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân cả nước. Hàng trăm bài viết kèm các hình ảnh phản cảm dưới tiêu đề “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” được chia sẻ, lan truyền trên mạng xã hội để hướng lái dư luận, đánh tráo bản chất chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Cùng với đó, chúng ca ngợi chế độ dân chủ, tự do và kinh tế phát triển dưới thời chính quyền Sài Gòn; đòi vinh danh chế độ Việt Nam Cộng hòa, thậm chí có ý kiến còn đòi chia đôi lại đất nước giống như trước năm 1975. Từ đó, các đối tượng phủ định ý nghĩa Chiến thắng 30/4/1975, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng; bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động hận thù, ly khai; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân; làm giảm ý chí quyết tâm, đóng góp xây dựng đất nước của nhân dân, trong đó có đồng bào ta sống xa Tổ quốc; cố tình đả kích, phủ nhận chính sách và nỗ lực hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta… Một số bài viết cố tình xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đại thắng mùa xuân 1975 của chúng ta là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh”; vu cáo đây là cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc, “không có kẻ thua, người thắng, chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”; cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “không cần thiết” và hoàn toàn “có thể tránh khỏi”… Không dừng ở việc xuyên tạc trên mạng xã hội mà số đối tượng chống đối mới đây còn xây dựng một bộ phim được gọi là “Cảm tình viên” (The Sympathizer) được quay tại Thái Lan, tái hiện lại Việt Nam thời kỳ trước năm 1975. Nội dung kể về hành trình của một người tình báo cộng sản nằm vùng trong bộ máy nguỵ quân, sau ngày giải phóng tiếp tục hoạt động tình báo, sau đó theo đám phản động lưu vong về nước. 


Nhân vật này có sự thay đổi nhận thức khi vào trong trại cải tạo, lung lạc tinh thần và cuối cùng trốn chạy sang Mỹ vì cho rằng chỉ có tư tưởng của Mỹ mới tiến bộ, nhân văn. Với nội dung xuyên tạc như vậy, bộ phim được công chiếu ngay sát thời điểm kỷ niệm chiến thắng 30/4, với ý đồ tiêu cực, xuyên tạc chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Chúng còn tổ chức những buổi hòa nhạc kệch cỡm, kêu gọi ủng hộ “ngày quốc hận”, tổ chức tưởng nhớ những người lính Việt Nam Cộng hòa, phủ nhận toàn bộ công lao của quân và dân ta…


Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người

Ngày 30/4/1975 không phải là “ngày quốc hận” mà là ngày quốc gia độc lập, thống nhất non sông, ngày mở ra một trang sử mới hào hùng cho dân tộc Việt Nam. Đó là khát vọng của nhân dân cả nước, thống nhất Bắc – Nam để chung sức đồng lòng xây dựng giang sơn gấm vóc. Vì vậy, nói ngày 30/4/1975 là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” thể hiện suy nghĩ thù hận, bóp méo bản chất, ý nghĩa thiêng liêng của ngày thống nhất non sông, quan điểm đó đi ngược lại với dòng chảy của lịch sử.


Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của quân và dân ta. Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam - Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã cho quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng suốt 21 năm ròng rã. Đến ngày 30/4/1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai mươi năm, dân tộc ta đã đi qua cuộc trường chinh muôn vàn gian khổ, gánh chịu bao mất mát, hy sinh để giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Đấy là chân lý thời đại, là cái "dĩ bất biến" của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt xung đột.


Thắng lợi đó khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; một biểu tượng sáng ngời của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế, cũng chính là chiến thắng của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã trải qua hơn 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt.


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng đúc kết những kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học xác định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam; phát huy sức mạnh thời đại; vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng, phương thức tiến hành chiến tranh toàn dân và nghệ thuật quân sự chiến tranh toàn dân, xây dựng và phát triển lý luận chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam. Bài học về sự chủ động, nhạy bén, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược chiến tranh cách mạng và nghệ thuật nắm bắt thời cơ, giành những thắng lợi quyết định. Đồng thời, phải luôn luôn chú trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mọi hoàn cảnh, nâng cao sức chiến đấu và phát huy năng lực lãnh đạo của Đảng.


Lâu nay, chúng ta đón nhận những người từ bên kia chiến tuyến trở về với tinh thần gác lại quá khứ, chung tay xây dựng đất nước. Quan điểm hòa hợp, hòa giải bằng tinh thần bao dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước. Nhưng chung tay hoà hợp không có nghĩa là xoá nhoà lịch sử, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc. Chiến thắng 30/4/1975 là mốc son lịch sử, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhiều nước trên thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh. Mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị đều không thể làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa lịch sử.  


Đại thắng mùa xuân 30/4/1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc to lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc và điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc. Đánh giá tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4, Đại hội lần thứ IV của Đảng ta đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Do đó, mỗi người khi tham gia mạng xã hội cần tỉnh táo, nâng cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật của các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá Đảng, Nhà nước.


 



NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...