Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2024

NVE41 - KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

 

Sứ mệnh lịch sử (SMLS) toàn thế giới của giai cấp công nhân (GCCN) hiện đại là phát kiến vĩ đại của C.Mác. Bằng cái nhìn duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng về sứ mệnh của GCCN trong toàn bộ học thuyết của mình, song tập trung nhất là ở lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học.

Tuy nhiên, thời gian qua, một số người nhận thức chưa đầy đủ hoặc sai lệch về SMLS của GCCN, thậm chí, nhiều đối tượng còn cố tình xuyên tạc, phủ nhận SMLS của GCCN với ý đồ không lành mạnh.

Có ý kiến cho rằng vị thế của công nhân ở nhiều nước không có gì khác so với thế kỷ 19-tức là công nhân “làm thuê, không có quyền định đoạt sản xuất và phân phối”... Hoặc cũng có nhận xét rằng “hiện nay trên thế giới không thấy phong trào công nhân, chỉ thấy các phong trào xã hội”.

Gần đây, trong xu thế phát triển của thế giới với trình độ kinh tế tri thức và hướng tới cách mạng công nghiệp 4.0, cũng có ý kiến cho rằng, “trong kinh tế tri thức thì SMLS là của trí thức chứ không phải của công nhân”. Đây là một nhận thức không đầy đủ. Những phân tích sau đây có thể góp phần làm rõ hơn nhận thức liên quan đến vấn đề trí thức và SMLS của GCCN trong thời đại ngày nay.

Trí thức có vai trò rất quan trọng nhưng không thể thay thế sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Thứ nhất, cho dù tri thức, kiến thức khoa học có vai trò to lớn, nhưng phát triển hiện đại không vì thế mà không cần đến sản phẩm vật chất để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của mình (chẳng hạn ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, xây dựng, chữa bệnh...). Tất cả nhu cầu ấy lại chỉ có thể được thỏa mãn thông qua sản xuất vật chất và thường là thông qua sản xuất công nghiệp. Chỉ có sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp mới có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của gần 8 tỷ người trên thế giới hiện nay. Vì vậy, nhân loại hiện nay vẫn cần tới sản xuất vật chất và lao động của GCCN để tồn tại và phát triển.

Thứ hai, GCCN hiện đại đang được trí thức hóa, trí tuệ hóa trong các cuộc cách mạng công nghiệp. Yêu cầu khách quan của sản xuất, dịch vụ hiện đại và vận hành nền sản xuất công nghiệp hiện đại đòi hỏi GCCN không ngừng nâng cao năng lực lao động, làm chủ khoa học và công nghệ. Hiện nay, khoảng 40% công nhân của các nước G7 có trình độ đại học. Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (năm 2002), gần 70% công nhân Nhật Bản có trình độ đại học. Với trình độ như vậy, trên thực tế, người ta dùng khái niệm công nhân-trí thức để chỉ nhóm lao động trình độ cao này. Thế nên, quan niệm công nhân “là người lao động thừa hành, trình độ học vấn thấp” đã lạc hậu và bất cập với thực tế.

Thứ ba, SMLS của GCCN tự nó đã mang một hàm lượng tri thức rất lớn và bản thân GCCN cũng đang trí tuệ hóa, đang tạo ra một lớp trí thức-công nhân trong lực lượng lao động của mình. Họ là các chuyên gia, nhà khoa học và công nghệ đang hằng ngày hoàn thiện, phát triển để tăng năng suất lao động, bảo đảm các yêu cầu ngày càng cao về kinh tế-xã hội và môi trường. Xã hội gọi nhóm lao động này là trí thức-công nhân hay nguồn nhân lực trình độ cao. Theo đó, cả về lý luận và thực tiễn, SMLS của GCCN không xa lạ gì với tri thức, trí thức, khoa học hiện đại. Việc tách rời tri thức với quá trình thực hiện SMLS của GCCN là một cái nhìn phiến diện.

Thứ tư, trí thức là nhóm lao động sản xuất ra các giá trị tinh thần; còn công nhân là nhóm lao động sản xuất vật chất. Sản xuất vật chất, các quá trình kinh tế xét đến cùng, bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Tri thức và lao động của họ, có vai trò rất quan trọng trong phát triển hiện đại nhưng bao giờ cũng cần đến việc chuyển hóa những giá trị tinh thần đó vào thực tiễn.

Thứ năm, SMLS thực chất là sự nghiệp của một giai cấp đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo xã hội xây dựng một hình thái kinh tế-xã hội mới. Để làm tròn trách nhiệm ấy, đòi hỏi giai cấp có SMLS phải đạt được những yêu cầu, đặc điểm riêng. Điều đó tập trung ở 4 nội dung: Phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ xã hội, bao gồm cả về kinh tế (xu thế phát triển sản xuất) và chính trị (đại diện cho xu thế dân chủ hóa); phải là đại diện cho lợi ích chung của xã hội, các giai tầng và cả dân tộc; phải có một hệ tư tưởng riêng vừa phản ánh nhận thức về quy luật vận động đương thời, vừa thể hiện tính tiền phong về lý luận; phải có kết cấu, tổ chức chặt chẽ với một hạt nhân là chính đảng của giai cấp...

Một giai cấp muốn đảm nhận sứ mệnh xác lập một hình thái kinh tế-xã hội mới, nhất thiết phải đáp ứng các điều kiện trên. Đội ngũ trí thức không hội đủ các điều kiện ấy. Ngộ nhận về sự tăng lên của vai trò trí thức trong phát triển hiện đại đôi khi khiến người ta lãng quên những mối quan hệ, các đặc điểm và vị thế của trí thức trong tồn tại xã hội. Trí thức có công khái quát những tri thức lý luận và nâng cao trình độ nhận thức của phong trào công nhân. Trí thức có thể cùng với GCCN và nhân dân làm nên lực lượng của cách mạng XHCN. Thực hiện SMLS của mình, GCCN cần đến sự hợp tác của trí thức và tự mình nâng cao tri thức, kỹ năng lao động hiện đại. Nhưng đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng XHCN thì chỉ có GCCN mới đủ cơ sở, điều kiện, năng lực thực tế tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Cách mạng XHCN coi việc giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và để con người phát triển trong công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do là mục tiêu cao nhất. Sứ mệnh hàng đầu của GCCN là bằng phương thức lao động công nghiệp để sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, tốt hơn cho quá trình phát triển của nhân loại. Từ đó, họ tạo ra các tiền đề, điều kiện vật chất cho xã hội mới.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác và từ thực tiễn hiện nay, GCCN ở tất cả quốc gia với trình độ phát triển khác nhau vẫn đang tiếp tục thực hiện SMLS của mình với nhiều trình độ, cách thức khác nhau. Thậm chí, dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, hiện nay, chính GCCN ở các nước TBCN phát triển, bằng việc làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại, bằng năng suất lao động cao lại đang đóng góp tích cực cho việc thực hiện nội dung kinh tế kỹ thuật của SMLS của GCCN.

Có thể khẳng định rằng, SMLS toàn thế giới của GCCN là một học thuyết về giải phóng và phát triển hiện đại do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin luận giải một cách khoa học, hệ thống. Đây là vũ khí tư tưởng của các đảng cộng sản, của GCCN trong cuộc đấu tranh với ý thức hệ tư sản và các thế lực thù địch với CNXH. Chúng ta cần luôn cảnh giác phát hiện và đấu tranh với những tư tưởng sai lầm, xuyên tạc để bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng của lý luận về SMLS của GCCN và qua đó, bảo vệ chế độ XHCN cần được xem là nhiệm vụ thường trực.

Ở Việt Nam, chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc rằng, thực hiện thành công sự nghiệp “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước nhanh và bền vững” để tạo ra cơ sở vật chất cho CNXH và “xây dựng GCCN hiện đại, lớn mạnh” cần được xem là những cơ sở hiện thực, phương hướng chính để làm rõ và khẳng định SMLS của GCCN Việt Nam đối với dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

NVC41 - CHỚ VÌ THẮNG LỢI MÀ CHỦ QUAN, KHINH ĐỊCH

 

“Phải luôn luôn cảnh giác, chớ vì thắng lợi mà chủ quan, khinh địch”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi bộ đội, đồng bào và cán bộ Tây Bắc, ngày 23-6-1965. Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam bước vào giai đoạn mới; quân và dân miền bắc quyết tâm đánh bại chiến dịch leo thang bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.

Lời dạy của Bác đã khẳng định những thành tích xuất sắc của quân và dân ta nói chung, quân và dân Tây Bắc nói riêng đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ và bắt sống một số phi công. Đây là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn cho đồng bào cả nước có thêm quyết tâm và nghị lực đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên mọi chiến trường; đồng thời, cũng là lời nhắc nhở, yêu cầu quân dân cả nước tiếp tục phát huy chiến công đã đạt được, phấn đấu thi đua đạt thành tích tốt hơn nữa trên tất cả các mặt công tác.

Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, bộ đội và nhân dân trong cả nước đã thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, không chủ quan, khinh địch; chủ động đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù, thi đua lao động sản xuất, giết giặc lập công, góp phần kiến quốc và thống nhất nước nhà.

Để tiếp tục động viên cán bộ, bộ đội và nhân dân miền Bắc quyết tâm đánh bại chiến dịch leo thang bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, đồng thời nhắc nhở mọi người không được chủ quan, coi thường địch, ngày 30-8-1965, Bác Hồ tiếp tục có “Thư khen đồng bào, cán bộ và bộ đội miền Bắc đã bắn rơi 500 máy bay Mỹ”. Trong Thư, Bác viết “Đồng bào, cán bộ và bộ đội ta không được vì thắng lợi mà chủ quan, cần luôn luôn nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi”.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất lớn, không chỉ động viên, khen ngợi quân và dân miền Bắc mà còn nhắc nhở quân và dân hai miền Nam - Bắc phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm hợp lực, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, cảnh giác cao; đồng thời, phải coi trọng việc phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau thi đua trong lao động sản xuất, trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn dân và toàn quân ta đã hăng hái chiến đấu đánh giặc lập công, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tình hình thế giới, khu vực, trong nước bên cạnh những thuận lợi, vẫn tiềm ẩm nhiều nguy cơ, thách thức khó lường. Các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Do vậy, học tập và làm theo lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Tình hình mới đòi hỏi Đảng ta càng phải vận dụng sâu sắc tư tưởng của Bác, chủ động có kế hoạch ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”…; quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đồng thời, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc./.

 

NVC41 - KIÊN QUYẾT QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 

Thực tiễn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trường tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam. Để đủ sức lãnh đạo đất nước và xã hội, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) nói riêng.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”. Đảng ta xác định đấu tranh chống CNCN vừa là một nội dung trọng tâm, vừa là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Trong mọi thời kỳ cách mạng, trước bất cứ nhiệm vụ gì, Đảng ta đều đặc biệt coi trọng và gắn chặt với cuộc đấu tranh chống CNCN. Nhằm giải quyết vấn đề về tư tưởng và tổ chức của Đảng, trong đó có nội dung liên quan đến CNCN, từ năm 1939, Đảng ta đã tổ chức đợt sinh hoạt “tự phê bình” sâu rộng. Đặc biệt, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ cụ thể 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng bắt nguồn từ CNCN. Đảng ta nhận thức rõ nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ đảng viên, làm tha hóa Đảng ta không gì khác là CNCN. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng xác định phải kiên quyết tuyên chiến với loại “giặc nội xâm” này. Vụ án Đại tá Trần Dụ Châu, Giám đốc Nha Quân nhu, vì CNCN mà phạm tội tham nhũng phải lĩnh án tử hình là ví dụ điển hình chứng minh cho tinh thần kiên quyết đấu tranh với CNCN trong Đảng.

Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đều có các văn kiện chuyên đề về đấu tranh chống CNCN. Đặc biệt, từ Đại hội VI đến nay, tinh thần kiên quyết đấu tranh chống CNCN của Đảng ta được thể hiện rất rõ nét. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm minh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định tinh thần “kiên quyết đấu tranh quét sạch CNCN trong toàn Đảng”. Tại Điều 3 của Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, Đảng ta cũng nêu rõ đảng viên không được vướng vào “… CNCN, cơ hội, vụ lợi…”.

Nhờ thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng nói chung và đấu tranh chống CNCN nói riêng mà năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta ngày càng được nâng lên. Đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định mục tiêu lý tưởng và con đường XHCN; phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu thực sự làm nòng cốt đi đầu trong công cuộc đổi mới và lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng. Nhiều tấm gương điển hình, tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng ta vẫn vững vàng chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt lên đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt qua gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra từ nhiệm kỳ khóa VII, trong đó có “nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội” vẫn hiện hữu, có mặt diễn biến gay gắt, phức tạp hơn. Đúng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ rõ điều bức xúc và đáng lo nhất hiện nay là tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, nhưng Đảng ta nhận định nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, trong đó có nguyên nhân vướng vào CNCN. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hành vi sai trái, tiêu cực. Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên ngang tầm với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch CNCN trong toàn Đảng”.

Mặt khác, trước bối cảnh mới đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; nền kinh tế phát triển chưa bền vững, khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động ảnh hưởng rất lớn, cùng với những hạn chế, yếu kém còn tồn tại khiến nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Có thể khẳng định đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị nói chung, đấu tranh kiên quyết với CNCN nói riêng không phải là ý muốn chủ quan của ai, mà là yêu cầu tất yếu của tình hình nhiệm vụ cách mạng.

Để tiếp tục đấu tranh chống CNCN đạt hiệu quả cao, trước hết chúng ta cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, nhằm không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường xây dựng XHCN. Đây là cơ sở, nền tảng để cán bộ, đảng viên xác định động cơ, mục đích rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu đúng đắn, vì lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc, trong đó có gia đình, cá nhân mình. Chỉ có trên cơ sở ý thức rõ điều đó, cán bộ, đảng viên mới nâng cao sức “đề kháng”, không mắc vào CNCN.

Trong tổ chức xây dựng và sinh hoạt đảng phải giữ vững các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn chặt với đề cao trách nhiệm cá nhân trong Đảng. Đồng thời, thường xuyên đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình nhằm phòng ngừa từ xa CNCN cũng như mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Mỗi đảng viên, từng tổ chức Đảng phải coi tự phê bình và phê bình như phương thuốc để phòng ngừa và chữa trị các căn bệnh mắc phải. Mặt khác, phải có cơ chế phát huy tai mắt của nhân dân trong xây dựng Đảng và tham gia đấu tranh chống CNCN. Trước hết là phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát cán bộ, đảng viên. Phát huy tốt vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong tuyên truyền cổ vũ, tôn vinh những tổ chức đảng, đảng viên điển hình, tiên tiến và phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện của CNCN. Dùng thông tin chính thống đẩy lùi những thông tin sai trái, xấu, độc, đề cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong cung cấp thông tin, định hướng dư luận, đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn lợi cuộc đấu tranh chống CNCN, chống tham nhũng, tiêu cực để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

 

NVB41 - CÁN BỘ PHẢI CỐ GẮNG HƠN MỌI NGƯỜI ĐỂ LÀM KIỂU MẪU

 

1. Với tư tưởng cán bộ là gốc của mọi công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ phải thực hiện tốt vai trò tiên phong, gương mẫu. Trong Thư gửi Quân đội quốc gia vào ngày 2-6-1949, Hồ Chí Minh viết: Sự thành công phần lớn là do các cán bộ, vì vậy mà các cán bộ phải luôn cố gắng hơn mọi người để làm kiểu mẫu cho mọi người. Theo Hồ Chí Minh: Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng, vì vậy cán bộ phải làm kiểu mẫu để cho nhân dân tin tưởng, làm theo. Người nêu rõ: Các cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, phải làm đầu tàu trong mọi việc, phải dìu dắt người chậm tiến để cùng nhau tiến bộ. Tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt, tiếp thu, triển khai tích cực, hiệu quả. Đảng xác định sự tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng đi lên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam chính là: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì Đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”. Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII cũng có quy định rõ về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”.

2. Vấn đề quan trọng đặt ra là cán bộ, đảng viên phải cố gắng hơn và làm kiểu mẫu về những nội dung gì? Theo Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tiên phong, gương mẫu phải biểu hiện trong mọi công việc, ở mọi lúc, mọi nơi; không chỉ với bản thân mà cán bộ, đảng viên còn phải gương mẫu và tuyên truyền, vận động, hướng dẫn để cơ quan, đơn vị, gia đình, bạn bè, người thân cũng làm được cùng với mình. Tháng 10-1951, Hồ Chí Minh từng dạy đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân: “Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi phẩm làm của riêng mới thật là Liêm”. Trong thời kỳ đổi mới, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên càng được Đảng ta quan tâm thực hiện. Ngày 9-5-2024, Bộ Chính Trị khóa XIII đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới. Tại Điều 5 của Quy định số 144, có quy định: “Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng, học tập suốt đời”, với các nội dung cụ thể: 1. Gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng; 2. Tích cực vận động thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3. Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm.

Hồ Chí Minh và Đảng ta đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp để cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu, trong đó nhấn mạnh việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Trong bài Phê bình đăng trên Báo Nhân dân ngày 12-7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm, là nhờ có phê bình và tự phê bình. Cho nên toàn thể đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu thật thà phê bình và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, vì Người cho rằng: Chủ nghĩa cá nhân không dám tự phê bình, không muốn người ta phê bình mình, không kiên quyết sửa chữa, vì vậy mà cán bộ, đảng viên sẽ thoái bộ, chứ không thể tiến bộ được.

3. Phòng, tránh các căn bệnh xấu trong nội bộ Đảng và đấu tranh với sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn là yêu cầu được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra với các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng”.

Vừa qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng mạng xã hội cố tình bịa đặt, xuyên tạc về đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Chúng vu cáo cán bộ, đảng viên của Đảng chỉ lo làm giàu bất chính, tham nhũng, tiêu cực, không có sự gương mẫu trước nhân dân. Đáng chú ý, thế lực xấu dùng thủ đoạn bịa đặt, cắt ghép những hình ảnh, thông tin cũ, sai sự thật để vu cáo mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ trong Quân đội. Đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái đó là nhiệm vụ quan trọng mà chúng ta phải kiên quyết, kiên trì tiến hành. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, xác định: Đây là một nội dung cơ bản, hệ thống, sống còn của công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

4. Muốn thật sự làm tốt vai trò tiên phong, gương mẫu, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện, phấn đấu từ lời nói đến việc làm; phải có sự hỗ trợ giúp đỡ của tổ chức đảng, của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: Đảng phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người cán bộ, đảng viên, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong nội bộ Đảng phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh, đồng thời hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Cùng với sự nghiêm túc, nỗ lực nêu gương của từng cán bộ, đảng viên thì các tổ chức đảng cần có sự nghiêm túc trong sinh hoạt chi bộ, sự nghiêm minh trong kỷ luật Đảng và sự chặt chẽ trong công tác kiểm tra của Đảng. Những năm qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm, nguyên nhân thành công của việc tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, là: Luôn luôn đề cao trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu; phát huy tinh thần dân chủ và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đồng thời, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng với sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, từ đó góp phần nâng cao vị thế cầm quyền và khẳng định vai trò lãnh đạo, đường lối đúng đắn của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ, tình cảm trước Đảng, trước nhân dân, từng cán bộ, đảng viên hãy đồng tâm, hiệp lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”./.

 

NVB41 - PHẢI CẦN, KIỆM TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI

 

1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cần phải thực hiện tốt cần, kiệm trong kháng chiến, kiến quốc. Người kêu gọi: “Mọi người, mọi ngành cố gắng thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, thì mai đây dân ta nhất định giàu, nước ta nhất định mạnh”.

Hồ Chí Minh phân tích cụ thể về cần, kiệm, cho rằng, người yêu nước thì phải thi đua cần, kiệm, vì kết quả của cần, kiệm giúp: Bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới. Người xác định phải thật sự nỗ lực trong thực hiện cần, kiệm, vì: “Sự chịu đựng và cố gắng ngày nay, sẽ biến thành kết quả tốt đẹp ngày sau”.

Là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở Quân đội và Công an chú ý đến vấn đề cần, kiệm. Người giao nhiệm vụ: “Quân đội và Công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm”. Cùng với thực hiện cần, kiệm, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Quân đội cần làm tốt việc quan tâm đến đời sống mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ và chỉ ra cần, kiệm chính là cơ sở quan trọng, là nguồn lực để thực hiện tốt nhiệm vụ này. Người căn dặn: Phải quản lý bộ đội tốt và trong mọi hoàn cảnh phải bảo đảm đời tốt sống vật chất và tinh thần cho bộ đội. Trên thực tế những năm qua, Quân đội đã sử dụng thiết thực, hiệu quả kết quả thu được từ cần, kiệm vào việc nâng cao đời sống cán bộ, chiến sĩ, xây dựng cơ quan, đơn vị, làm việc tình nghĩa, thực hiện công tác dân vận.

2. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội phải có nhiều cách làm rất thiết thực, cụ thể để thực hiện cần, kiệm trong xây dựng Quân đội. Ngày 11-7-1961, Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua toàn quân: “Thấm nhuần tinh thần làm chủ, cần, kiệm xây dựng Quân đội, phải tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, để tự cải thiện mức sống của mình và giảm nhẹ sự đóng góp của đồng bào”. Người cũng luôn nêu rõ những việc làm, cách làm cụ thể khi thực hiện cần kiệm của toàn dân, toàn quân. Tháng 6-1949, Hồ Chí Minh nhắc nhở: Các cơ quan tiết kiệm tiền công, của công, để đỡ tốn ngân sách; Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu; Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút; Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội, còn chiến sĩ thì “thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy”… Cũng theo Hồ Chí Minh cần có sự đồng bộ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cần với kiệm. Tháng 6-1957, Hồ Chí Minh yêu cầu Quân đội phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động, nâng cao ý thức tiết kiệm. Người nêu cụ thể: Cần, kiệm tức là phải tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và “Quản lý phải dân chủ, tài chính phải công khai. Sổ sách phải minh bạch”.

3. Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh trong cần, kiệm phải thực hiện tốt xây và chống, trong đó phải phòng, chống những biểu hiện sai phạm, tiêu cực, nhất là quan liêu, tham ô, lãng phí. Tháng 3-1959, Người chỉ đạo: “Phải cần, kiệm xây dựng Quân đội… Không nên đặt ra nhiều bàn giấy, nhiều máy chữ, tránh quan liêu, vô ích, không thiết thực, phải nhớ là cần, kiệm”. Ngày 15-6-1957, nói chuyện với các đơn vị Quân đội tại Quân khu IV, Hồ Chủ Tịch nhắc nhở: “Phải chống tham ô, lãng phí. Phải làm sao cho trong Quân đội không có tham ô, lãng phí”.

Thời gian qua, nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực chống phá thường xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo Quân đội chỉ gây tốn kém, lãng phí, cán bộ Quân đội ham làm giàu, vơ vét cho cá nhân mình, nhưng lại được bao che… Sự thật không phải như vậy. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất”, thực hiện hiệu quả cần, kiệm trong xây dựng, phát triển. Quân đội cũng tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Quân đội đã thực hiện tốt nhiệm vụ và mong muốn của Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, tin tưởng, kỳ vọng: “Trước đòi hỏi của tình hình mới, với điều kiện và khả năng của mình, hơn ai hết, Quân đội phải đi đầu trong đấu tranh phản bác mạnh mẽ hơn nữa đối với những quan điểm sai trái, thù địch, không chỉ trên báo chí, mà ngay trong nội bộ cũng như ngoài xã hội, tuyệt đối không để những quan điểm sai trái xuất hiện, tồn tại trong Quân đội”.

4. Xây dựng Quân đội nhân dân trong tình hình mới càng đòi hỏi phải thực hiện hiệu quả cần, kiệm. Quân đội nỗ lực hưởng ứng, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước về cần, kiệm; đồng thời, Quân Ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng có nhiều nghị quyết, quy định, trong đó có những nội dung về cần, kiệm và được toàn quân tích cực triển khai thực hiện. Như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quân đội cũng đã và đang tiến hành rất tích cực các phong trào thi đua, các cuộc vận động nhằm đem lại nhiều kết quả thiết thực từ việc thực hiện cần, kiệm. Điển hình là các phong trào thi đua: “Quân đội tham gia phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, “Đơn vị quản lý tài chính tốt”, “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”… và các cuộc vận động: “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”; “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”…

Thực tế thời gian qua cho thấy: Trong thực hiện cần, kiệm, Quân đội đều phát huy được sức mạnh đoàn kết thống nhất cùng tham gia của đông đảo cán bộ, chiến sĩ mà nổi lên là sự tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp. Quy định số 646-QĐ/QUTW ngày 6-11-2012 của Quân ủy Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp trong Quân đội” đã được triển khai rất tích cực, hiệu quả. Tinh thần này hiện đang tiếp tục được duy trì, phát huy với phương châm, khẩu hiệu, mục tiêu: Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo và Quân đội làm mẫu mực trong thi đua yêu nước để làm gương cho cả nước học tập, noi theo.

 

NVA41 - VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ

 

Thời gian qua, việc đảm bảo quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng ở nước ta đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng, được cộng đồng quốc tế công nhận. Tuy nhiên, bất chấp những thành quả ấy, các thế lực thù địch, phản động lại cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Các thế lực thù địch ra sức phê phán, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, là kẻ thù của tự do báo chí trên mạng. Các thế lực thù địch cho rằng: Nhà nước Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, ra các luật về hành vi phi bảng mang tính chất hình sự; “chính quyền, dưới chế độ cai trị độc đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, xiết chặt vòng kiềm tỏa các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm họp ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo”, hay “Chính phủ Việt Nam đã sử dụng lực lượng 47 với khoảng 10.000 chiến binh mạng nhằm chống lại cái mà Chính phủ Việt Nam gọi là lực lượng phản động trên mạng, tức những thông tin chỉ trích Chính phủ”,… Điển hình như vụ việc xảy ra vào năm 2018, trên trang mạng Dân luận và nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây đã tán phát “Bản lên tiếng về quyền được nói và nghe sự thật”. Văn bản này do những tổ chức xã hội mạng phi pháp và một số cá nhân tự xem mình là người “bất đồng chính kiến” ký. Điều đáng chú ý là có nhiều trang mạng và các cá nhân ở nước ngoài đã hùa theo “Bản lên tiếng...” mà về bản chất là sự xuyên tạc, phủ nhận quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet ở Việt Nam.

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Điều này được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và được thể chế hóa trong các bộ luật liên quan như Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018 và nhiều văn bản pháp luật khác. Cụ thể: Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Bên cạnh đó, Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.

Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến. Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí.

Thấy rằng, việc Việt Nam xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ nháp luật và được Nhà nước bảo hộ nhưng không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân là hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước. Luật pháp nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền tự do này để viết bài vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do ngôn luận, tự do báo chí cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật nhằm tránh hiện tượng bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân khác, đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội đã trở thành công cụ thể hiện quyền tự do ngôn luận của đông đảo người dân, điều này đặt ra nhiều vấn đề về xã hội và pháp lý, trong đó có việc quản lý thông tin trên không gian mạng hiện nay. Cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng việc thực hiện các quyền tự do nói chung, quyền tự do ngôn luận nói riêng phải luôn gắn chặt với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo thực hiện tốt quyền tự do cơ bản của con người, của công dân, trong đó có tự do ngôn luận, nhưng đi kèm với đó phải là kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Tạo mọi điều kiện tốt nhất để công dân thực hiện quyền tự do, trong đó, có tự do ngôn luận nhưng với những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để làm những điều trái luật, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác; gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc… thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

NVH40 - Tạo nền tảng vững chắc trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga

 

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam từ ngày 19 - 20/6/2024 của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã góp phần làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga, nhất là trong bối cảnh hai nước tích cực triển khai Tuyên bố chung về Tầm nhìn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đến năm 2030.


Chuyến thăm là một trong những bước triển khai cụ thể Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.  

Hợp tác phát triển sâu rộng trên các lĩnh vực

Sau hai ngày (19-20/6/2024) chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Nga Vladimir Putin góp phần khẳng định vị thế, uy tín của đất nước; đồng thời phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại góp phần tạo lập, gìn giữ hòa bình, huy động nguồn lực cho phát triển.


Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 30/1/1950 đến nay, mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và Nga hiện nay luôn vững bền theo năm tháng và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực. 


Quan hệ chính trị có độ tin cậy cao, thông qua các hình thức và cơ chế hợp tác chính trị đa dạng như trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là cấp cao thường xuyên, giúp Lãnh đạo hai nước trao đổi thông tin và kịp thời chỉ đạo phát triển quan hệ song phương. Hai bên đã thiết lập và triển khai hiệu quả nhiều cơ chế như họp Ủy ban Liên chính phủ, Đối thoại chiến lược, Tham vấn chính trị thường niên, góp phần tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác mọi mặt giữa hai nước. Việt Nam và Nga luôn ủng hộ và hợp tác chặt chẽ trong các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ARF...


Hợp tác kinh tế - thương mại phát triển tích cực, có những giai đoạn kim ngạch song phương tăng từ 10-15%/năm, là kết quả của việc ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu. Mặc dù chịu tác động của tình hình bất ổn của thế giới và khu vực, kim ngạch thương mại năm 2023 vẫn đạt hơn 3,6 tỷ USD. Về đầu tư, tính đến hết tháng 5 năm 2024, Liên bang Nga có 186 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 1 tỷ USD; trong khi đó Việt Nam có khoảng 25 dự án đầu tư tại Nga với tổng vốn đầu tư khoảng 3 tỷ USD. Điểm nhấn quan trọng trong hợp tác kinh tế giữa hai nước là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực năng lượng, dầu khí với các dự án lớn. Ngoài liên doanh Vietsovpetro là lá cờ đầu trong hợp tác dầu khí, hai bên đã có thêm những liên doanh khác đang hoạt động tích cực ở cả hai nước.


Hợp tác song phương trong các lĩnh vực như khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, du lịch, địa phương... ngày càng được mở rộng, trong đó hợp tác khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo giữa hai nước được đẩy mạnh và nâng lên tầm chiến lược.

Trong suốt chiều dài lịch sử hợp tác, các hoạt động giao lưu văn hóa đã đóng góp không nhỏ vào việc tạo dựng mối quan hệ bền chặt và gắn kết giữa nhân dân hai nước. Điều này không chỉ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị giữa hai dân tộc mà còn góp phần xây dựng một nền tảng vững chắc cho mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nga.


Đánh giá về sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi khẳng định, quan hệ song phương ngày nay kế thừa quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Liên Xô trước đây. Sau một thời gian bị gián đoạn hồi đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, bằng quyết tâm và nỗ lực của lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đã có những bước tiến mạnh mẽ, tiếp nối xứng đáng truyền thống quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc. Hai nước đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược vào năm 2001 và Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2012. Đến nay, hai nước có thể tự hào về những thành tựu đã đạt được khi quan hệ ngày càng phát triển toàn diện, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.


Nhìn lại chặng đường hợp tác tốt đẹp trong hơn những năm qua, Đại sứ Liên bang Nga tại Việt Nam Gennady Stepanovich Bezdetko khẳng định, kể từ khi thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, quan hệ truyền thống hữu nghị giữa Việt Nam và Liên bang Nga phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Liên bang Nga quan tâm ưu tiên thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược với ASEAN, trong đó luôn coi trọng và mong muốn củng cố hơn nữa quan hệ hữu nghị bền chặt với Việt Nam, một trong những đối tác then chốt của Liên bang Nga tại khu vực Đông Nam Á, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.

Tạo xung lực thúc đẩy hợp tác

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Tô Lâm, hội kiến với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Tổng thống Vladimir Putin cũng đã đặt hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng, liệt sĩ và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Vladimir Putin đã gặp gỡ với cựu sinh viên Việt Nam từng tốt nghiệp tại các trường đại học của Liên Xô và Nga.


Trong bầu không khí thân tình và hữu nghị, hai bên đã trao đổi sâu rộng về nhiều nội dung và phương hướng thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nga trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ và nhân văn. Hai bên cũng đã thảo luận về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm trên tinh thần tin cậy.


Tại Hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Nga Vladimir Putin bày tỏ vui mừng thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga tiếp tục phát triển tích cực, thể hiện nổi bật qua quan hệ chính trị - ngoại giao tốt đẹp, hợp tác kinh tế - thương mại được duy trì, hợp tác quốc phòng - an ninh được củng cố, hợp tác trên các lĩnh vực khác được thúc đẩy và quan hệ giữa các tổ chức xã hội và giao lưu nhân dân ngày càng hiệu quả. Trên cơ sở các thành quả đã đạt được, hai nhà Lãnh đạo đã trao đổi ý kiến sâu rộng, nhất trí về các phương hướng và biện pháp lớn nhằm tạo xung lực thúc đẩy hợp tác song phương trên toàn diện các lĩnh vực đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.


Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, theo đó sẽ thúc đẩy các chuyến thăm, trao đổi ở các cấp trên các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội, tích cực phát triển hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư, khoa học, kỹ thuật và củng cố hợp tác quốc phòng - an ninh; cùng nhau trao đổi, giải quyết một số khó khăn, tồn tại phù hợp với luật pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đối với lĩnh vực năng lượng và dầu khí, hai bên nhất trí tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp của hai nước thực hiện hiệu quả những dự án hiện có, đồng thời mở rộng các dự án đầu tư với sự tham gia của các công ty dầu khí quốc gia trên lãnh thổ hai nước. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng khác như nông nghiệp, giáo dục - đào tạo, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương hai nước. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao những đóng góp quan trọng của cộng đồng người Việt Nam tại Nga, là cầu nối quan trọng cho quan hệ giữa hai nước.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ truyền thống, Đối tác chiến lược toàn diện với Nga, là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình. Việt Nam ủng hộ nước Nga đóng góp tích cực vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, chính sách hướng Đông của nước Nga, đồng thời tin tưởng chắc chắn rằng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, vững mạnh có uy tín và vị thế ngày càng cao cũng phù hợp với lợi ích lâu dài của Nga ở châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới.

Hai bên đã ra Tuyên bố chung về làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga trên cơ sở thành tựu 30 năm thực hiện Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Nga.


Dịp này, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Vladimir Putin đã chứng kiến lễ trao đổi các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành hai nước được ký kết nhân dịp chuyến thăm, bao gồm: Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học; Chương trình hợp tác giai đoạn 2024-2025 giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Tư pháp Liên bang Nga; Bản Ghi nhớ về Lộ trình thực hiện Dự án Trung tâm Khoa học công nghệ hạt nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Tập đoàn Năng lượng nguyên tử Rosatom; Bản Ghi nhớ giữa Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ Nhiệt đới hỗn hợp Việt - Nga và Cơ quan Liên bang Nga về giám sát, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và an sinh con người về hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm để phòng, chống dịch bệnh; trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh Lô 11-2 cho Tập đoàn Zarubezhneft; Thỏa thuận hợp tác trao đổi khoa học giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Học viện kinh tế quốc dân và Hành chính công trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga (RANEPA); Thỏa thuận hợp tác giữa Đại học Hà Nội và RANEPA; Thỏa thuận hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Tổng hợp liên bang Viễn Đông (FEFU); Thỏa thuận hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Kinh tế cao cấp (HSE); Bản Ghi nhớ về hợp tác tại Việt Nam giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Công ty Cổ phần NOVATEK; Biên bản ghi nhớ giữa Công ty Cổ phần Quản lý BVIM và Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga (RDIF).


Theo Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam diễn ra chỉ ít lâu sau khi Tổng thống Vladimir Putin nhậm chức nhiệm kỳ mới, thể hiện sự đánh giá cao của nước Nga, cá nhân Tổng thống Vladimir Putin cũng như cộng đồng quốc tế về cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam qua 40 năm đổi mới, trên cơ sở kế thừa quá trình đấu tranh với nhiều nỗ lực của dân tộc ta qua nhiều thế hệ. Đồng thời, chuyến thăm khẳng định sự coi trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự trân trọng của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đối với cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - người có nhiều đóng góp đối với quan hệ hai nước.


Việc Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Việt Nam còn là thông điệp mạnh mẽ về sự tôn trọng lẫn nhau giữa hai quốc gia. Đây là một biểu hiện rõ ràng của tình hữu nghị và sự đoàn kết, qua đó góp phần nâng cao vị thế của cả hai nước trên trường quốc tế, vì lợi ích chung của cả hai dân tộc và vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

 

NVH40 - Cảnh giác với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc việc từ chức, miễn nhiệm trong công tác cán bộ hiện nay

 

Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về bản chất vấn đề nhằm gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.


Vấn đề nhân sự, nhất là nhân sự cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước từ lâu vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của dư luận. Đặc biệt, với những vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng, chính quyền, việc ai được bổ nhiệm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, vận mệnh của dân tộc. Do vậy, mọi sự thay đổi trong công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước đều nhanh chóng nhận được sự theo dõi của cộng đồng. Bên cạnh đó, việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước là một trong những hoạt động của công tác xây dựng Đảng, sắp xếp bộ máy Nhà nước. Thế nhưng, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, phần tử xấu đã bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.


Chúng đã lập ra hàng nghìn trang mạng xã hội, nhất là các nền tảng xã hội Facebook và YouTube để truyền tải thông tin xuyên tạc tới quần chúng nhân dân. Một mặt, chúng vẫn tái diễn luận điệu vu khống cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe phái”. Mặt khác, chúng tích cực lan truyền các thông tin suy diễn vô căn cứ, lập ngôn, cắt ngọn thông tin, lấy hiện tượng để xuyên tạc bản chất. Chúng cố tình bẻ cong luận điệu, nguỵ tạo luận cứ, luận chứng, nhằm lèo lái công chúng hiểu sai lệch bản chất vấn đề. Theo kiểu “một cán bộ giấu tên cho biết”, “theo giới thạo tin”, “nguồn tin bên lề”, hướng lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của “bất ổn chính trị”. Mục đích, thông qua việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên hòng hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.


Đơn cử như trong thời gian vừa qua, việc cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác của các đồng chí lãnh đạo Chính phủ, Chủ tịch nước cho thấy công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước ta đang thực hiện đúng phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bất kể người đó là ai và đang giữ chức vụ gì. Khi cán bộ có sai lầm, khuyết điểm, vi phạm và không còn đủ uy tín thì việc thôi giữ chức vụ cũng là điều hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, qua lăng kính đánh giá của các đối tượng xấu, chúng nhào nặn, tô vẽ, biến tướng gây nhiễu loạn dư luận, kích động sự hoài nghi, hoang mang, dao động trong xã hội. Trước đó, không cần biết lý do xin từ chức là gì, chỉ cần lãnh đạo các nước trên thế giới tuyên bố từ chức, giới “dân chủ” sẽ ngay lập tức ca ngợi, cho rằng đó là hành động văn minh, tiến bộ, dân chủ là “văn hóa từ chức” và ca thán cho rằng “không biết khi nào ở Việt Nam mới có lãnh đạo xin từ chức”. Nhưng khi lãnh đạo trong nước xin từ chức thì những kẻ này lại vu khống, xuyên tạc, quy chụp cho rằng đó là vì “đấu đá nội bộ”, “tranh giành quyền lực” ...


Một trong những phương thức hiệu quả nhất của các thế lực thù địch nhằm chống phá, xuyên tạc là sử dụng mạng Internet, nhất là lợi dụng các mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube... Bởi hiện nay, chúng ta có hơn 100 triệu dân và số người sử dụng điện thoại thông minh và các phương tiện thiết bị sử dụng mạng xã hội lên tới 70 triệu người. Đặc biệt, xu hướng tích hợp trí tuệ nhân tạo vào mạng xã hội đang bùng nổ, người xem chỉ cần xem, truy cập vào một trang xấu, độc thì ngay lập tức sẽ được gợi ý xem hàng trăm trang khác có nội dung tương tự. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện nay, có khoảng 63% người dùng đọc phải tin tức giả trên mạng, 200 kênh YouTube hàng ngày đăng tải hơn 300 video xấu, độc… Do đó, việc lan truyền thông tin xấu ngày càng nhanh hơn, nguy hiểm hơn, ngay lập tức tác động đến nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, từ đó gây hoài nghi vào hệ thống chính trị, vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gieo rắc sự hoang mang, tâm lý bi quan ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và dẫn đến tâm lý tiêu cực, phản kháng…


Mục đích cao nhất của các đối tượng này là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Thực chất các hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch, phần tử xấu là để gây chia rẽ nội bộ. Thông qua việc thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, qua đó, gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự… hòng hạ bệ uy tín cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân. Sau quá trình bị tác động bởi những thông tin xấu một cách thụ động thì người dân đã tìm đến các thông tin này một cách chủ động. Đây là việc cực kỳ nguy hiểm trong tình hình hiện nay.


Trước sự nguy hiểm của hoạt động trên, trước hết, cần khẳng định rằng, việc miễn nhiệm, từ chức là việc diễn ra bình thường, không chỉ có ở Việt Nam, mà ở nhiều nước trên thế giới, không phải đến bây giờ mới có. Việc từ chức của cán bộ hoàn toàn không thể và không phải do bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có thể ép buộc, áp đặt vô căn cứ. Đảng và Nhà nước ta đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ căn cứ pháp lý đối với việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ. Vấn đề này đã được đặt ra trong các Nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước. Theo đó, Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ quy định nguyên tắc, thẩm quyền, căn cứ, quy trình xem xét việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; áp dụng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Quy định 41 nêu nguyên tắc: “1. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 2. Cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu nêu cao trách nhiệm trong việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. 3.Kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ khi có đủ căn cứ. Không thực hiện việc cho từ chức đối với cán bộ thuộc trường hợp phải miễn nhiệm”. Quy định 41 cũng nêu rõ 6 căn cứ xem xét miễn nhiệm cán bộ, 4 căn cứ xem xét từ chức.


Hay tại Thông báo số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nêu rõ: “Việc bố trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có xuống" trong công tác cán bộ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện; góp phần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định…”. Qua chủ trương này cho thấy chính sách nhân văn, đạo đức của Đảng, Nhà nước ta khi tạo ra một hướng mở cho cán bộ vi phạm có cơ hội sửa chữa, phấn đấu rèn luyện.


Bên cạnh đó, cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị-xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.


Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, tồn tại trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị-xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn…


Như vậy, miễn nhiệm, từ chức là công việc bình thường trong công tác cán bộ từ cổ chí kim, từ đông sang tây, phù hợp quy luật vận động và phát triển của xã hội. Đảng và Nhà nước ta thực hiện miễn nhiệm, từ chức trong cán bộ theo đúng quy định, nguyên tắc. Người dân cần nhận thức rõ quan điểm này để từ đó giữ vững lập trường chính trị, không để các thế lực xấu dẫn dắt, lợi dụng để cố tình xuyên tạc, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Những luận điệu cho rằng đó là việc “củng cố quyền lực” hay “thâu tóm quyền lực cá nhân” chỉ là một chiêu trò của một số cá nhân chống phá nhằm bôi nhọ danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hạ thấp uy tín của Đảng. Một khi toàn Đảng đã thống nhất, lòng dân đã thuận thì không một thế lực nào, một thủ đoạn nào có thể làm thay đổi được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

 

NVH40 - Không thể chấp nhận những thứ “ngôn luận tự do” bất chấp cả luật pháp và đạo lý... trong xã hội văn minh

 

Có thể nhận diện, thống kê rất dễ dàng rằng, các phần tử thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để tạo dựng những thứ gọi là “tự do ngôn luận” theo cách hiểu ấu trĩ, hạn hẹp, đầy hằn học với mưu đồ xấu xa. Chúng dã tâm, chủ đích lựa chọn, lợi dụng những vấn đề nhiều người dân quan tâm, dễ gây bức xúc, dễ lan truyền rộng rãi trong xã hội để tạo dựng những kịch bản đen tối, chống phá bằng các bài viết, hình ảnh, video clip,... liên quan đến các vụ khiếu kiện đất đai, ô nhiễm môi trường, phản đối trạm thu phí BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) giao thông, tụ tập đông người núp dưới cái gọi là “hành động yêu nước”,... nhằm gây rối an ninh, trật tự, “bất tuân dân sự”, phá hoại các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ta; kích động, kêu gọi bạo động, lật đổ...


Lấy ví dụ cụ thể từ các vụ tụ tập phản đối tại các trạm thu phí BOT giao thông trong quý I-2019 tại nhiều địa phương trên cả nước. Trong các vụ này, rất nhiều người, trong đó có những người cầm đầu, cố tình liên tục “tường thuật trực tiếp”, thông qua tính năng livestream của mạng xã hội Facebook và xuyên tạc, nói xấu về hình thức đầu tư BOT, thậm chí cả về những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước... Điều này gây ra sự phản ứng lan truyền mạnh mẽ trên cộng đồng mạng, khiến nhiều trạm thu phí BOT phải “xả trạm” trong nhiều giờ để bảo đảm giao thông được thông suốt, an ninh, trật tự xã hội không bị rối loạn. Hùa vào góp sức, một số báo mạng nước ngoài, những phần tử chống đối ở hải ngoại, cũng như trong nước dưới vỏ bọc mỹ miều là “chống BOT bẩn” liên tục đăng tải những thông tin xuyên tạc, lệch lạc, sai trái,... nhằm mục đích phá hoại. Khi những đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt tạm giam, một số báo mạng điện tử nước ngoài thiếu thiện chí, nhất là những báo có phiên bản tiếng Việt và nhiều trang cá nhân trên mạng xã hội Facebook, YouTube,... đã chớp lấy để bình luận đầy hằn học, ác ý, cố tình hướng lái, lật ngược bản chất vấn đề, vu khống, kích động cộng đồng mạng phá hoại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, cản trở giao thông cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân...


Nhìn rộng hơn, thử điểm lại một số vụ tụ tập đông người kích động, chống đối ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Thuận, Nghệ An, Hà Tĩnh,... trong những năm gần đây, nhất là liên quan đến sự cố môi trường biển ở bốn tỉnh miền Trung để kêu gọi tụ tập đông người, biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, chống đối, phá hoại,... thì thấy càng rõ bộ mặt của tổ chức phản động Việt Tân và những mưu đồ đen tối của chúng. Chúng tuyển mộ, đào tạo, lợi dụng những người thiếu hiểu biết, cả tin, bất mãn, có những khúc mắc trong cuộc sống,... để làm thuê cho chúng, thông qua các việc, như tuyên truyền, lôi kéo, kích động các vụ tụ tập đông người và giăng khẩu hiệu phản đối, dùng loa các loại để gào thét vô lối, gây rối, đập phá trụ sở các cơ quan công quyền, nhà máy,... làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Tại các vụ, việc, nhiều phần tử cực đoan, chống đối, vi phạm pháp luật đã bị bắt để giáo dục, nhiều trường hợp bị khởi tố và tạm giam, bị kết án nghiêm minh, thích đáng...


Nhân dịp này, những phần tử chống đối, phá hoại, các thế lực thù địch, vu khống, bịa đặt trắng trợn, rằng “Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận”, “Bắt người nói xấu Đảng và tự do ngôn luận”, “Dân oan bị khước từ quyền tự do ngôn luận”, “Chuyện gì đang xảy ra với tự do ngôn luận ở Việt Nam”, “Việt Nam vẫn là quốc gia toàn trị, không có tự do ngôn luận”... Rõ ràng, chỉ thoạt nhìn vào tiêu đề các bài viết đó cũng thấy rõ sự bóp méo, xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam - một quyền mà ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công đã được chế định trong Hiến pháp năm 1946 và được pháp luật cụ thể hóa kịp thời, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước ta qua các thời kỳ, bắt nhịp với các bước tiến mang giá trị phổ quát của luật pháp quốc tế, đáp ứng yêu cầu chính đáng của đông đảo nhân dân...


Để bảo đảm tự do cho người này mà không phương hại đến tự do người khác, tất yếu phải có quy định của pháp luật. Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-1-2019, nhưng các thế lực thù địch lại rêu rao rằng Luật này “chống lại loài người”, “triệt tiêu dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “mất quyền tự do ngôn luận”. Chúng cố tình không hiểu rằng “tự do được thừa nhận về mặt pháp lý tồn tại trong nhà nước dưới hình thức luật pháp. Luật pháp không phải là những biện pháp đàn áp chống lại tự do... Ngược lại, luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định rõ ràng, phổ biến, trong đó tự do có một số sự tồn tại vô ngã, có tính chất lý luận, không phụ thuộc vào sự tùy tiện của cá nhân riêng lẻ. Bộ luật là kinh thánh của tự do của nhân dân”.

 

NVH40 - PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM VU CÁO “ĐẢNG ĐỨNG TRÊN VÀ ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT”

 

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những thủ đoạn mà các thế lực phản động, thù địch thường xuyên tiến hành. Trong đó, luận điệu cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” là hoàn toàn vô căn cứ và hết sức nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Đáng chú ý ngày 12/5/2024, trên trang blog cá nhân, đối tượng Đỗ Kim Thêm tán phát bài “Chỉ số thượng tôn pháp luật năm 2023 của Việt Nam” vô căn cứ, thiếu thực tế của tổ chức “Dự án công lý thế giới - WJP”; vu cáo “Đảng đứng trên và đứng ngoài pháp luật”, chính quyền “không thực hiện” các công ước quốc tế về nhân quyền đã ký kết; đồng thời, kêu gọi Việt Nam “cải cách” hệ thống Nhà nước pháp quyền. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với Nhà nước và Nhân dân; giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Từ khi ra đời đến nay, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều đó đã được chứng minh bằng thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột nặng nề của chế độ phong kiến, chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên địa vị làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội. Vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị - pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước.

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng và cầm quyền đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất Nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ban hành nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội không hề “đứng trên Hiến pháp và pháp luật” như luận điệu của các thế lực thù địch đã bịa đặt, rêu rao. Ngược lại, Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định rõ trong điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội. Không ai có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ dã tâm của các thế lực thù địch, thường xuyên tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

NVH40 - Thành tựu được thừa nhận và đường cùng của thứ gọi là “ngôn luận tự do”

 

Để phản bác, khẳng định những thứ “ngôn luận tự do” vô lối mà các phần tử, thế lực thù địch, phản động bóp méo, thổi phồng, lan truyền rộng rãi trên không gian mạng, không gì thuyết phục hơn là nêu ra những kết quả, thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, được bàn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho việc thúc đẩy, bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Vì lẽ đó, Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009), thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2016  - 2018), thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2015 - 2019). Theo kết quả bầu chọn tại khóa họp thứ 73 Đại hội đồng Liên hợp quốc công bố ngày 7-6-2019, Việt Nam nhận được 192/193 phiếu ủng hộ, vượt xa mốc tối thiểu 129/193, chính thức trúng cử vào ghế Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020  - 2021. Đó là những bằng chứng thuyết phục nhất khẳng định ở Việt Nam có tự do ngôn luận, phản bác những kẻ rắp tâm phá hoại đất nước bằng thứ “ngôn luận tự do” đầy hằn học, xấu xa, thiếu căn cứ...

Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều mặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng tốp đầu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, đặc biệt khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 45,3%, tăng 16,9%. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3%. Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP... Đó là những số liệu minh chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế  - xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới...

Lâu nay, câu nói “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không phải là sự thật” đã rất quen thuộc, được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Điều này không có gì phải bàn cãi. Và với báo chí - truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, việc những đối tượng, tổ chức phản động lợi dụng, nhân danh “một nửa sự thật” kiểu cắt xén để tô vẽ, thêm thắt, đắp bồi,... theo sự tưởng tượng, kịch bản mà chúng sắp đặt sẵn, cố tình tạo ra thì rõ ràng đó là sự dối trá, bịp bợm, cố tình xuyên tạc nhằm mục đích chống phá xấu xa.

Trên tinh thần xây dựng đất nước, rõ ràng, mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Thế nhưng, việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động đáng lên án, cần phải ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh. Bởi con người biết tuân theo pháp luật mới là con người nhận thức được đầy đủ về tự do. Kiểm soát được hành vi của mình một cách có ý thức thì con người mới thật sự có tự do. Tự do là quyền của con người nhưng đó không phải là tự do vô lối, tùy tiện, vô chính phủ, mà nó chỉ được bảo đảm khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và hành động phù hợp pháp luật - giao kèo, thỏa ước về tự do của tập thể, của cộng đồng, của xã hội.

Phải thừa nhận rằng, ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định, bên cạnh sự tiến bộ, phát triển, do chế định của điều kiện cụ thể. Vấn đề là mỗi quốc gia sẽ có sự nhìn nhận, khắc phục những mặt hạn chế đó một cách kịp thời, thấu đáo, toàn diện, quyết liệt,... để luôn tạo ra môi trường tốt đẹp cho sự phát triển, tiến bộ, vững bền, tránh bị xuyên tạc, bóp méo, lợi dụng nhằm công kích, phá hoại... Tại Việt Nam, qua những sự việc gần đây có thể thấy rằng, người dân cũng cần phải được vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tự do một cách đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, biết phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, xây dựng - phá hoại,... để từ đó tự trang bị, bảo vệ mình trước những kẻ lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng bức xúc của nhân dân để kích động chống phá. Phải làm cho người dân thấy rõ rằng, tự do không có nghĩa là tùy tiện, vô lối, muốn làm gì thì làm. Tự do ngôn luận đích thực phản ánh năng lực nhận thức và khả năng tự chủ bản thân cả về mặt phát ngôn và hành động. Suy cho cùng, hành động đúng đắn mới là thước đo chính xác về giá trị đích thực của tự do ngôn luận. Không thể nói “tự do nguôn luận” mà hành động lại phá hoại tự do của người khác, tự do xã hội. Tự do chỉ mở rộng cùng nhịp bước với nâng cao hiểu biết của con người về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, phải vận động cùng chiều với quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia - dân tộc, để từ đó làm chủ chính mình và hành động tự do. Tự do được hình thành, tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân và Nhà nước. Lòng yêu nước cần phải được thể hiện với thái độ đúng mực, bình tĩnh, kiềm chế, được kiểm soát,... để không tái diễn những hành vi quá khích, đập phá, hủy hoại tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, đi ngược lại những chủ trương, chính sách đúng đắn trong phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...