Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 11 tháng 7, 2017

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thương binh, liệt sỹ trong giai đoạn hiện nay

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Thực hiện chính tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau:
- Các cấp, các ngành cần chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách ưu đãi khác về kinh tế - xã hội đối với người có công, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho người có công và con em của họ; giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thần đối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn để phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công cho phù hợp với tình hình của đất nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch mọi chính sách về người có công.
- Làm tốt hơn công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sỹ và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xác định danh tính liệt sỹ, thông báo và tạo điều kiện cho các gia đình người thân đến thăm viếng. Tiến hành sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công; qua đó thúc đẩy các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", “Toàn dân chăm sóc người có công với nước” phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thiết thực; đồng thời biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh và người có công tiêu biểu.
- Đẩy mạnh và thực hiện tốt việc lập, xét duyệt hồ sơ thường xuyên; tập trung giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được xác lập trong những giai đoạn trước đây nhưng chưa được xem xét giải quyết do chưa bảo đảm thủ tục, coi đây là nhiệm vụ quan trọng.   
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia các hoạt động xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước với phương châm “Nhà nước, nhân dân và những người được hưởng chính sách ưu đãi cùng phấn đấu”.

- Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống yêu nước và đạo nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các anh hùng - liệt sỹ và những người có công với nước; biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp đó thành hành động thiết thực góp phần thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.

Nâng cao dân trí, nội dung quan trọng trong đấu tranh chống "diến biến hòa bình"

Dân trí là trình độ hiểu biết của nhân dân về văn hóa, khoa học – kỹ thuật, thể chế chính trị, hiến pháp và pháp luật, các chuẩn mực đạo đức và luân lý, v.v. Bởi vậy, dân trí thấp là mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì thế, nâng cao dân trí để ngăn chặn các hoạt động “diễn biến hòa bình” là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Trong quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, một trong những thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động là lợi dụng trình độ dân trí thấp của một bộ phận đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, trọng điểm là Tây nguyên, Tây Bắc và Tây Nam Bộ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động nhằm chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ở những địa bàn này, ngoài việc dân trí thấp hơn các địa bàn khác, còn có những khó khăn về kinh tế, đời sống, giao thông,… để chúng dễ bề lợi dụng hoạt động chống phá. Thực tiễn cho thấy, thủ đoạn hoạt động của chúng thường là, tổ chức truyền đạo trái pháp luật, xuyên tạc sự thật, gây bạo loạn, mâu thuẫn giữa các dân tộc, giữa nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương về đền bù đất đai để lôi kéo, kích động một số người nhẹ dạ, cả tin có những hành động thiếu tỉnh táo, kiềm chế gây mất ổn định về mọi mặt chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; thậm chí họ còn kích động tuyên truyền. Ở mức độ khác, họ còn đòi thành lập nhà nước (Đề Ga, H’.Mông, Khơ-me Krom) tự trị; lôi kéo, kích động một số đối tượng bất mãn, thoái hóa, biến chất ở một số khu vực nhạy cảm, như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,… ngấm ngầm tổ chức tụ tập đông người bằng sự che đậy tinh vi dưới mọi hình thức, kể cả về cái gọi là “lòng yêu nước” để phá hoại, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng. Điển hình là lợi dụng vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD – 981 trái phép ở vùng biển của Việt Nam và gần đây là lợi dụng vụ sự cố môi trường biển do Formosa gây ra ở 04 tỉnh ven biển miền Trung, họ đã xúi giục nhân dân, nhất là đồng bào công giáo tụ tập đòi yêu sách về đền bù, đóng cửa nhà máy Formosa gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt, trong đó có chính sách đầu tư của quốc gia. Song, những hành động trên của họ đã bị các cơ quan chức năng Việt Nam kịp thời phát hiện, đấu tranh, nên chúng đã thất bại, không thực hiện được mưu đồ xấu. Không dừng lại ở đó, họ còn mua chuộc, lôi kéo một số trí thức, cán bộ, đảng viên biến chất ở trong nước và ngoài nước, xuyên tạc, nói xấu chế độ.
Hiện nay, sự chênh lệch về trình độ dân trí giữa các vùng miền: nông thôn với thành thị, miền xuôi với miền ngược, đồng bào dân tộc Kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số,… vẫn khá lớn. Các vùng có kinh tế khó khăn, dân trí thấp, như: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ là mảnh đất “màu mỡ” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chia rẽ, gây mất ổn định an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Từ thực tế các vụ việc xảy ra ở một số vùng, miền trên cả nước vừa qua cho thấy, do trình độ nhận thức thấp nên người dân dễ bị lừa gạt, dụ dỗ, lôi kéo. Ví dụ: tà đạo “Dương Văn Mình” với những lý lẽ nhảm nhí, “phi khoa học”, khuyên người Mông đi theo chúa trời thì khi bị bệnh sẽ tự khỏi; người già sẽ lột xác, không làm cũng có ăn, cũng giàu có, v.v.
Vì thế, coi trọng nâng cao dân trí góp phần tạo sức mạnh tổng hợp để phòng, chống các hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động là vấn đề quan trọng hiện nay. Để thực hiện tốt, chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, giải quyết tốt một số nội dung chủ yếu sau.
Một là, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, tăng cường tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cho toàn dân. Đặc biệt, đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số – nơi trình độ dân trí thấp cần kết hợp nhiều hình thức tuyên truyền và coi trọng phát huy vai trò của các chức sắc, chức việc tôn giáo, già làng, trưởng bản, đội ngũ tuyên truyền viên, cán bộ cơ sở. Thông qua đó, kịp thời truyền tải một cách sâu rộng những giá trị văn hóa dân tộc, đạo đức cách mạng, luân lý và những quan điểm thẩm mỹ tiến bộ, cũng như thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, của khoa học – công nghệ, v. v. Từ đó, giúp họ nhận thức đúng về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; thúc đẩy họ áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất và tinh thần – cội nguồn sức mạnh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.
Đồng thời, tăng cường quản lý công tác xuất bản, phát hành và ngăn chặn kịp thời những văn hóa phẩm xấu độc, nhất là quản lý hệ thống thông tin mạng, những thông tin có nguồn từ nước ngoài, mạng xã hội,… làm cho nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước.
Hai là, đổi mới, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân ở các cấp học từ giáo dục mầm non, phổ thông, dạy nghề đến cao đẳng, đại học; chú trọng phổ cập giáo dục ở vùng kinh tế khó khăn, vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật, gắn dạy nghề với tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo. Xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên, thực hiện nhiều hình thức đào tạo đáp ứng yêu cầu đa dạng của đội ngũ lao động, giảm sự bất bình đẳng giữa các vùng miền, trong các khu vực kinh tế. Chú trọng bồi dưỡng các giá trị văn hóa, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức, cốt cách con người Việt Nam cho thanh niên, học sinh, sinh viên.
Ba là, nâng cao đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với việc không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của công tác giáo dục trong các nhà trường, cần coi trọng xây dựng và phát huy hiệu quả các thiết chế và cơ sở văn hóa, như: nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, công viên văn hóa, v.v. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, các chương trình dự án quốc gia phải gắn kết chặt chẽ các phong trào thi đua với các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của các địa phương, nhất là các chỉ tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng việc làm; các phong trào như: “xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, các hoạt động bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, nhằm quy tụ lòng người, tạo sức mạnh tổng hợp phòng, chống các hoạt động “diễn biến hòa bình”.

Bốn là, thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ trí thức – lực lượng nòng cốt thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi trọng kết hợp công tác giáo dục với định hướng chính trị, xây dựng cho họ có bản lĩnh chính trị, lập trường kiên định, vững vàng, có trình độ chuyên môn, học hàm, học vị, tạo điều kiện cho họ phát huy trí tuệ cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt trong bối cảnh phức tạp hiện nay, càng cần phải khơi dậy, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, nhất là âm mưu, thủ đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch để góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nhìn đúng về cách mạng tháng Tám năm 1945

Cách mạng tháng Tám thành công là một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới đã trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, có tên trên bản đồ thế giới.
          Cách mạng tháng Tám thành công không phải tự nhiên mà có, đó là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc cách mạng này là thắng lợi của sự chủ động chuẩn bị lực lượng, của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động.
Để cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, Đảng, Bác Hồ và toàn dân ta đã phải chuẩn bị toàn diện thực lực cách mạng từ nhiều năm trước. Vào đầu năm 1941, trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình trong nước và thế giới, Bác Hồ về nước và Người đã cùng Trung ương Đảng kịp thời nắm bắt tình hình, đề ra chiến lược, sách lược, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng, đào tạo, huấn luyện cán bộ, tổ chức, động viên, lãnh đạo toàn dân chớp thời cơ chín muồi đứng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Thực tế cho thấy, để có lực lượng cách mạng, từ cuối năm 1941 đến năm 1942, Đảng ta đã tổ chức ra các hội: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc, v.v. Ở căn cứ địa Việt Bắc, Đội Cứu quốc quân và Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân lần lượt ra đời. Các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh và các lực lượng vũ trang là chủ lực quân của cách mạng. Năm 1943, trước diễn biến mới của tình hình, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị đề ra chủ trương liên minh với tất cả các đảng phái, các nhóm yêu nước trong và ngoài nước chưa gia nhập Mặt trận Việt Minh, đẩy mạnh công tác vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ, tư sản, địa chủ yêu nước, các dân tộc thiểu số, Hoa kiều, lập ra Hội văn hóa cứu quốc ở các thành phố,… nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng.
Như vậy, thành công của Cách mạng tháng Tám không phải là giành "khoảng trống quyền lực", không phải đến một cách ngẫu nhiên, tự nhiên mà có chính quyền, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị mọi mặt của Đảng từ tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang đến chủ động đón thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, khi quân đội Pháp bạc nhược.
Thế nhưng, đâu đó vẫn có những kẻ mang dã tâm xấu xa, thâm độc, ngấm ngầm xuyên tạc sự kiện lịch sử trọng đại này nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, “Thực chất cuộc chạy đua giành chính quyền là Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để nắm lấy chính quyền, hy vọng đặt Đồng Minh vào sự đã rồi”.  Hay “Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Từ ngày 19-8-1945, tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”. Họ cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hứng được quả ngọt trời cho là tình thế của Pháp, Nhật và hào khí của dân tộc lúc đó để cướp chính quyền cho riêng mình”. Hơn thế, họ còn ngụy biện: “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giầu mạnh từ lâu, chứ không phải nghèo hèn, mất dân chủ như bây giờ ”. Thật trơ trẽn, một sự trơ trẽn trắng trợn! Trong khi mọi người đều biết hoàn toàn không phải vậy. Chính Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối đúng đắn, phương pháp cách mạng sáng tạo đã nắm chắc, tận dụng thời cơ, biết tổ chức và tập hợp lực lượng, động viên được toàn dân tộc làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó còn là vai trò tiền phong, gương mẫu, bất chấp mọi hy sinh, gian khổ, quyết chiến đấu vì quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân của 5.000 đảng viên cộng sản. Họ là những Chiến sĩ cách mạng kiên trung, bất khuất, một lòng, một dạ vì nước vì dân, sáng ngời dũng khí chiến đấu, xung kích tiên phong, vào sống ra chết không sờn lòng, đầu rơi máu chảy không lùi bước, tra tấn tù đày không khuất phục, kiên quyết lãnh đạo cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân để xây dựng đất nước độc lập, dân tộc tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc, dân chủ, nhân quyền,...

Thế nhưng vì những mục đích, động cơ khác nhau, không ít người vẫn cố tình xuyên tạc, bôi đen, không dám thừa nhận sự kiện này. Có thể nói, những con người đó, những kẻ đó chính là những kẻ xuyên tạc lịch sử mà thôi.

Một số thành tựu nổi bật trong công tác thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng 70 năm qua

1. Xây dựng và thực hiện thống nhất trong cả nước một hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng
- Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ” đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.
- Nhiều vấn đề bất hợp lý do lịch sử để lại cũng như vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế và những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, như vấn đề xác nhận liệt sỹ, thương binh; chính sách ưu đãi đối với thanh niên xung phong, những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, chế độ trợ cấp đối với một số đối tượng người có công với cách mạng được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết hiệu quả. 
- Việc xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công đạt được kết quả tích cực. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận khoảng 9 triệu người có công, trong đó:
+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945: gần 9.000 người.
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.
+ Liệt sỹ: gần 1.2 triệu người; thân nhân liệt sỹ gần 500.000 người.
+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng: trên 117.000 người.
+ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động: gần 1.300 người.
+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người; thương binh loại B: trên 40.000 người.
+ Bệnh binh: gần 185.000 người.
+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 312.000 người.
+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.
+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.
+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: gần 4,1 triệu người.
- Hiện cả nước có trên 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. 
Theo kết quả rà soát năm 2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong số 2.070.842 đối tượng được rà soát có 1.982.769 trường hợp (chiếm 95,75%) đã hưởng đủ chế độ; chỉ có 86.201 trường hợp, chiếm 4,16% kê khai là hưởng chưa đầy đủ; 1.872 trường hợp, chiếm 0,09% hưởng sai chính sách. 
2. Phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng phát triển sâu rộng từ Trung ương đến địa phương và đã đạt được hiệu quả thiết thực, thể hiện tình cảm, trách nhiệm và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
- Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công bằng những việc làm thiết thực thông qua: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sỹ già yếu cô đơn, con liệt sỹ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 
 Từ năm 2007 đến năm 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” hơn 3.481 tỷ đồng, trong đó, quỹ Trung ương hơn 41,36 tỷ đồng, quỹ địa phương hơn 3.440,4 tỷ đồng; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng. 
Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở; 100% các mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác Thương binh - Liệt sỹ, 97% người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú.
- Bản thân thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng cũng nỗ lực phấn đấu vươn lên trở thành những tấm gương tiêu biểu, điển hình nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
3. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được chú trọng và đạt được kết quả tích cực
- Đảng, Nhà nước và quân đội đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sỹ.
- Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã tích cực trong việc phát hiện, quy tập mộ liệt sỹ và ghi danh, ghi công liệt sỹ.
- Công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ đã tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. 
- Bằng phương pháp thực chứng, phương pháp giám định AND, các cơ quan chức năng đã quy tập, lấy mẫu hài cốt liệt sỹ, sinh phẩm thân nhân liệt sỹ, phân tích hàng chục nghìn trường hợp, góp phần phục vụ tích cực cho công tác tìm kiếm hài cốt liệt sỹ thời gian qua.
Thời gian qua, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sỹ; an táng tại 3077 nghĩa trang trong cả nước. 
- Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và đã đạt được những kết quả cụ thể. 

Hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sỹ, bao gồm đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ. Nhiều công trình trở thành công trình văn hóa, có giá trị về mỹ thuật, giáo dục truyền thống: Nghĩa trang Điện Biên Phủ, Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Khu tưởng niệm liệt sỹ thanh niên xung phong tại ngã ba Đồng Lộc; Truông Bồn, tỉnh Nghệ An...

Một số hoạt động chính trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ của Đảng và Nhà nước ta

1. Tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ quy mô cấp quốc gia vào ngày 27-7-2017 tại Thủ đô Hà Nội. Danh nghĩa tổ chức Lễ kỷ niệm: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội do thành phố Hà Nội chủ trì. 
2. Tổ chức Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc vào ngày 26-7-2017 tại thành phố Hà Nội. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện.
3. Tổ chức cầu truyền hình (trực tiếp trên VTV1) tri ân các anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng tại 5 điểm cầu Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Điện Biên và Thái Nguyên vào lúc 20h00’ ngày 27-7-2017. Đài Truyền hình Việt Nam chủ trì thực hiện.
4. Tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ tại các nghĩa trang liệt sỹ trên toàn quốc vào lúc 20h00’ ngày 26-7-2017 do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện. 
5. Tổ chức hoạt động tri ân liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam tại Lào và Campuchia vào trung tuần tháng 7-2017. Đại sứ quán Việt Nam tại Lào và Campuchia chủ trì thực hiện.
6. Tổ chức Lễ tưởng niệm các chiến sỹ hy sinh trong Nhà tù đế quốc tại các tỉnh, thành phố có nhà tù đế quốc. 
7. Tổ chức kỷ niệm truyền thống 45 năm sự kiện Thành cổ Quảng Trị và chương trình nghệ thuật “Linh thiêng Thành cổ”. Hội Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 chủ trì thực hiện.
8. Phát động vận động, xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt  Nam chủ trì thực hiện.
9. Xây dựng phim tài liệu kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ. Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương thực hiện.
10. Tổ chức liên hoan văn nghệ với chủ đề “Màu hoa đỏ” trong đoàn viên thanh niên; phát động phong trào mỗi đoàn viên thanh niên, mỗi cán bộ công chức ngành Lao động, Thương binh và Xã hội làm một việc tốt, giúp đỡ ít nhất 01 gia đình, 01 người có công với cách mạng nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ và người có công với cách mạng. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện.
11. Tổ chức cuộc thi sáng tác âm nhạc về đề tài Thương binh - Liệt sỹ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì thực hiện.
12. Phát động cuộc vận động sáng tác các thể loại truyện ngắn, truyện thơ, bút ký, hồi ký...; tổ chức bình chọn các tác phẩm văn học tôn vinh người có công với cách mạng. Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì thực hiện.
13. Tổ chức thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách và các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện.
14. Tập trung rà soát, giải quyết hồ sơ còn tồn đọng sau chiến tranh, phấn đấu đến hết năm 2017 giải quyết căn bản đối với hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện.
15. Tiếp tục triển khai việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu đến hết năm 2018 giải quyết dứt điểm việc hỗ trợ theo kết quả rà soát. Bộ Xây dựng chủ trì thực hiện.
16. Tiếp tục đẩy mạnh công tác rà phá bom mìn; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, đồng thời đẩy nhanh tiến độ xác định danh tính hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin. Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện.

17. Tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; gương điển hình người tốt việc tốt trong công tác người có công với cách mạng; người có công vượt khó vươn lên làm kinh tế giỏi; các tập thể, đơn vị, xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì thực hiện.

27/7 – Một ngày lễ giàu ý nghĩa nhân văn

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám vừa thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn bọn xâm lược.
Trong những tháng năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống hoặc đổ máu trên các chiến trường.
Theo lời kêu gọi của Đảng, của Chính phủ và Bác Hồ, kế thừa truyền thống “Nhân ái, thủy chung” của dân tộc, nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu của mình cho các chiến sĩ, đặc biệt là những người bị thương hoặcđã anh dũng hy sinh.
Đầu năm 1946, “Hội giúp binh sĩ bị nạn” ra đời ở Thuận Hóa (Huế), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành “Hội giúp binh sĩ bị thương”.Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.
Chiều ngày 28/5/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Tổng Hội tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.
Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội đã có một buổi quyên góp quần áo, giày mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông chiến sĩ”.Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét mà Bác đang mặc để tặng binh sĩ.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi cứu nước của Bác Hồ, nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên.Các đồng chí thương binh, gia đình nhiều liệt sĩ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn.Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất tinh thần của các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến.
Trước yêu cầu thực tế đó, cùng với việc tiếp tục kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”.Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.
Để chủ động công tác này trong cả nước, ngày 26/2/1947, Phòng thương binh (thuộc Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam) được thành lập.Đầu tháng 7/1947 Bác Hồ đã đồng ý cho thành lập Ban Vận động tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”.
Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Thái Nguyên). Nội dung cuộc họp là thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác Thương binh liệt sĩ.
Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc.Ngày 27/7/1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có 2000 người tham gia). Tại đây Ban tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ Tịch. Trong thư Người viết:
“... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu ...”.
“... Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
“... Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào".
“... Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ".
“... Tôi cũng rất mong muốn đồng bào sẵn sàng giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần...”.
Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày Thương binh liệt sĩ được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ Tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ.
Tháng 7/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh.Từ năm 1955, ngày 27/7 ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh liệt sĩ.
Trong suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác đã giành sự quan tâm đặc biệt đến các thương binh, liệt sỹ là những người đã cống hiến xương máu, hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.
Trong lời dặn toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“... Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực, cánh sinh”.
“... Đối với các Liệt sỹ, mỗi địa phương cần phải xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm để ghi công sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”.
“... Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh và liệt sỹ, mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.
Là người lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đã thấu hiểu và đánh giá cao những hy sinh, mất mát của các thương binh, liệt sỹ và thân nhân gia đình của họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Ngay từ năm 1946, giữa bộn bề công việc của những ngày tháng cam go chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giành nhiều tình cảm cho các thương binh, liệt sỹ. Người đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi với một tấm lòng thành kính.
“Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những liệt sỹ đã hy sinh tính mệnh của mình cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thờì kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ đó và tôi nhận con các liệt sỹ làm con nuôi của tôi”.
Có lần, cảm động trước sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ, khi nhận được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh (vào tháng 01/1947), Người đã viết thư gửi người cha khi vừa mất đứa con yêu của mình: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi.
Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi.Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam”.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27/7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” của cả nước.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, câu ca dao đáng ghi nhớ mà đồng chí Lê Tất Đắc (đại diện Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam) đã từng đọc trong ngày họp thống nhất chọn 27/7 là ngày Thương binh Liệt sỹ đến giờ vẫn còn vang mãi, gửi gắm cả tấm lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta với những người đã vì đất nước mà hy sinh, cống hiến.
“ Dù ai đi Đông về Tây
27 tháng 7 nhớ ngày thương binh.
Dù ai lên thác xuống ghềnh

27 tháng 7 thương binh nhớ ngày ”.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội

Trải qua 87 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối cùng đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam. 
Ngày nay, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới. Những mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam do Đảng xác định từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay đang được thực hiện từng bước. Đất nước đã được độc lập, nhân dân đã được tự do. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân lao động vẫn còn nhiều khó khăn. Kinh tế đất nước vẫn chưa phát triển mạnh. Các nguy cơ đe dọa đất nước, chế độ vẫn còn rình rập. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn cần kiên định sứ mệnh lịch sử của mình, lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều biến động phức tạp, đưa nước ta trở thành một nước giàu mạnh của khu vực và thế giới. Chỉ có như vậy, nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mới vững bền, sự nghiệp cách mạng của Đảng mới thành công trọn vẹn.
Hiện nay, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị - xã hội nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua những thử thách nguy nan để đến bờ vinh quang. Cái gọi là những xu hướng tư tưởng của một số người tự xưng “đi tìm con đường cứu nguy cho dân tộc”, “tìm con đường thứ 3” và rằng họ muốn đa nguyên, đa đảng, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; quan điểm tư tưởng của những người muốn đa nguyên, đa đảng chỉ là sự diễn nôm lại lý thuyết tư sản, được che đậy bằng chiếc áo “cách mạng” để mị dân mà thôi. 
Cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang lại thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; có sứ mệnh và khả năng lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng thành công chế độ xã hội mới. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 
Dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đánh giá cao vai trò và sự cống hiến của các bậc sĩ phu yêu nước, của các lực lượng cách mạng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Thế nhưng, để trao sứ mệnh cứu nước, cứu dân ra khỏi cảnh lầm than, dân tộc ta, nhân dân ta đã chọn giai cấp công nhân và chính đảng của nó. Đó là sự lựa chọn của lịch sử. Vì vậy, ngày nay không một lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ điều kiện và khả năng để lãnh đạo, xây dựng đất nước trên con đường giàu mạnh, văn minh, tiến bộ. Dân tộc Việt Nam chỉ có thể đi theo con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng. 
Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lý tưởng cộng sản, với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ chí Minh; trung thành với lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác. Ngày nay, thế giới có thể có những biến đổi phức tạp, đất nước có thể có nhiều chuyển biến mới nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam quyết không từ bỏ sứ mệnh lịch sử, không đổi thay mục đích phấn đấu của mình, vẫn kiên định lập trường giai cấp công nhân, lấy cái bất biến ứng phó cái vạn biến đặng mưu cầu lợi ích nhiều hơn cho dân, cho nước. Đó là: Bản chất giai cấp công nhân của Đảng; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu phấn đấu của Đảng; đấu tranh cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là sứ mệnh của Đảng. Cái bất biến này thấm vào trong từng tế bào của Đảng, trong mọi hoạt động nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng. Mọi sự đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội, về Đảng Cộng sản, về cách mạng xã hội chủ nghĩa đều phải xuất phát từ những vấn đề có tính chất cốt tử đó. Nếu xa rời thì Đảng sẽ không thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình đối với giai cấp và dân tộc. 

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp và dân tộc là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc, bởi vậy, cần kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới./

Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa Ngày Thương binh, Liệt sỹ

I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Ngày Thương binh Liệt sỹ
1. Hoàn cảnh ra đời
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “.... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.
Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.
Ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự. 
Ngày 17-11-1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sỹ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sỹ” trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sỹ.
Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ. 
Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.
Tháng 6-1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ. 
Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” của cả nước.
Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.
2. Ý nghĩa 
 Ngày Thương binh Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là: 
- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hi sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
  - Tôn vinh các anh hùng, liệt sỹ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.

- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng. 

Đấu tranh các quan điểm thù địch, bảo vệ cương lĩnh đường lối của Đảng

Đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn chính trị, chống phá Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch, đồng thời có giải pháp ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận toàn dân trong xã hội là nhiệm vụ hết sức quan trọng của toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay.

          Các thế lực thù địch đang điên cuồng với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt chống phá cách mạng nước ta. Mũi nhọn tập trung tiến công vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam; đồng thời phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chế độ XHCN và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam… Cùng với đó, các phần tử cơ hội về chính trị và chống đối đã thành lập các tổ chức, nhóm, hội bí mật phát tán các tài liệu bất hợp pháp, tung tin đồn nhảm, xuyên tạc tình hình, truyền bá những quan điểm sai trái chống đối Đảng, chính quyền các cấp. Một số người ở nước ngoài đưa ra luận điệu bịa đặt, chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc sự thật, nói xấu lãnh tụ, bôi nhọ danh nhân và anh hùng dân tộc. Họ đòi Đảng từ bỏ quyền lãnh đạo, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; bác bỏ con đường XHCN, đòi đa nguyên, đa đảng...
          Vì vậy, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch là một nhiệm vụ tất yếu, cần phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, mọi tổ chức đảng, cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân cần tỉnh táo nhận rõ các dạng quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch để có những đối sách tuyên truyền đấu tranh phù hợp. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - một thứ giặc nội xâm nguy hại để giữ vững niềm tin của nhân dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN.


          Hơn 87 năm qua, Đảng ta luôn coi trọng công tác đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch chống phá cách mạng. Đây là nhiệm vụ đặc biệt, cần có sự phối hợp đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ, huy động năng lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhận thức tình cảm, tư tưởng của nhân dân. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng chính là sự khẳng định lập trường của Đảng và Nhà nước ta trước những biến động phức tạp trên thế giới và trong nước, từ đó củng cố nhận thức chính trị, giữ vững thế trận lòng dân, đưa sự nghiệp cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn. Cùng với đó là phối hợp làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư, thực hiện tốt phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới, tích cực xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bồi đắp sự đồng thuận xã hội trong cộng đồng dân tộc, củng cố và tăng cường thế trận lòng dân vững chắc. Góp phần bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, tăng cường sức đề kháng làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội”... của các thế lực thù địch.

Đằng sau luận điệu xuyên tạc về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Trong khi cả nước đang náo nức hướng tới kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 thì một số trang mạng của các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng xuyên tạc, bóp méo tính chất và ý nghĩa của các sự kiện lịch sử này. Trong đó có những luận điệu hết sức hoang đường và thâm hiểm là: Thứ nhất, ngày độc lập cho Việt Nam là ngày 11-3-1945, khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân (hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre) ký với Pháp năm 1884. Thứ hai, không cần phải tiến hành Cách mạng Tháng Tám để giành độc lập cho đất nước vì lúc ấy đã có “chính thể” Bảo Đại-Trần Trọng Kim, chỉ còn chờ được các nước công nhận nền độc lập. Cũng do đó, Cách mạng Tháng Tám thực chất là Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử. Những luận điệu trên sai trái ở những điểm nào?
1. Đầu tiên, có thể thấy sự kiện ngày 11-3-1945 khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân ký với Pháp năm 1884 chỉ diễn ra sau sự kiện đêm 9-3-1945 “Nhật đảo chính Pháp” trên toàn cõi Đông Dương. 
Sau khi hất cẳng thực dân Pháp, vấn đề quan trọng nhất đối với quân Nhật là phải lập ra được một bộ máy cai trị tay sai bản xứ để duy trì trật tự và ổn định. Vì thế, "chính phủ" Trần Trọng Kim được ra đời dưới sự bảo hộ của phát xít Nhật. Phát xít Nhật đã chọn hai quân bài để phục vụ mục đích của mình bao gồm: Bảo Đại làm vua, còn Trần Trọng Kim là thủ tướng dưới một hình thái tổ chức chính quyền kiểu quân chủ lập hiến. Nhất cử nhất động của “chính phủ” Trần Trọng Kim đều phải xin phép và phải được sự đồng ý của Nhật. Danh sách nội các mà Trần Trọng Kim trình với Bảo Đại cũng phải được sự chấp thuận của Đại sứ Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama.
Đạo dụ ngày 11-3-1945 của Bảo Đại thực chất là một văn bản dưới sức ép của phát xít Nhật nhằm chối bỏ sự đô hộ của thực dân Pháp đối với Việt Nam, đồng thời đặt Việt Nam nằm trong vòng kiềm tỏa của nước Nhật. Mang danh nghĩa là vua, nhưng không có thực quyền nên trong Tuyên ngôn thoái vị ngày 25-8-1945 trước Ngọ Môn, Bảo Đại đã thốt lên rằng: “Trong hai mươi năm ở ngôi, trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập”.
Sau này, trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, ông Trần Trọng Kim cũng cay đắng chỉ ra bản chất và thâm ý của phát xít Nhật: "Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình.”
2. Cũng chính bởi vậy, mặc dù từ ngày 17-4 đến 23-8-1945, tại Việt Nam có một chính thể do người Việt Nam đứng đầu nhưng chính thể ấy do phát xít Nhật lập ra, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn hoàn toàn chưa có độc lập, tự do. Thực chất mọi quyền hành tại Việt Nam thời gian đó đều trong tay phát xít Nhật. Vì thế, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc ta, nhân dân ta giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố rõ điều này: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Có thể khẳng định, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ là con bài trong tay Nhật. Vì thế, không thể nói rằng Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng mà Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim.
Luận điệu cho rằng, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ chờ được các nước công nhận thì Việt Namsẽ được độc lập cũng hết sức nực cười. Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, quân đội Đồng minh bao gồm quân Tàu- Tưởng, liên quân Anh-Pháp khi vào giải giáp quân Nhật tại Việt Nam đều có mưu đồ muốn áp đặt sự thống trị của họ đối với đất nước ta. Do đó, từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, chỉ ngay khi vừa đổ bộ vào Sài Gòn, liên quân Anh- Pháp đã tấn công chính quyền và lực lượng vũ trang của ta để tái chiếm Nam Bộ. Còn từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, quân Tàu-Tưởng có âm mưu lật đổ chính quyền của ta, đưa bọn phản động thân Tàu-Tưởng lên nắm quyền. 
Thực tế lịch sử đất nước ta đã cho thấy:  tất cả những người trông mong vào sự trợ giúp của ngoại bang để giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho dân tộc đều bị thất bại. Hiểu rõ được điều ấy, trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đã trở thành chân lý mang lại thành công cho các cuộc cách mạng của Việt Nam.
3. Một số kẻ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử”, rõ ràng là có dã tâm muốn hạ thấp giá trị cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. 
Điều mà ai cũng nhận thấy là hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8- 1945 đã tạo ra thời cơ vàng để dân tộc Việt Nam đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Lúc ấy, phát xít Nhật đã bại trận hoàn toàn, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945. Quân Nhật tại Việt Nam đã rệu rã về tinh thần, chờ quân Đồng minh vào giải giáp. Các lực lượng Đồng minh như quân Tàu-Tưởng, liên quân Anh-Pháp chưa vào đến nước ta. 
Nhưng nếu chỉ có thời điểm thuận lợi thì chưa thể tạo nên cuộc cách mạng thành công. Độc lập, tự do không phải là món quà bỗng dưng từ trên trời rơi xuống. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định điều này: “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do…”. 
Cách mạng Tháng Tám thành công vì đó là kết tinh của nghệ thuật chuẩn bị lực lượng, xác định đúng thời cơ và chớp thời cơ. Cách mạng Tháng Tám thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã luôn trên thế chủ động chiến lược.
Để có một cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên cả nước trong mùa thu Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta 15 năm, qua 3 cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945 với những giai đoạn thử thách vô cùng khốc liệt, gian khổ. Đảng đã trưởng thành về tổ chức và lý luận, nhận được sự ủng hộ của nhân dân cả nước, tập hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất gọi là Việt Minh. Ở tất cả các địa phương trên cả nước, Việt Minh đều có cán bộ, có cơ sở bám nắm nhân dân, vận động nhân dân. Nhờ đó, khi có kêu gọi Tổng khởi nghĩa, ngay lập tức hàng triệu người dân cả nước đều nhất tề đứng lên giành chính quyền.
Việc nhận định đúng thời cơ và chớp được thời cơ đòi hỏi những nhà lãnh đạo Cách mạng phải có một trí tuệ và tầm nhìn lớn. Từ giữa năm 1944, khi ở châu Âu, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công thắng lợi trên nhiều mặt trận, không khí chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi ở khắp nơi trên đất nước ta. Nhân dân vùng Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng khởi nghĩa. Thế nhưng, cuối tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Hà Quảng, Cao Bằng chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao-Bắc-Lạng. Người nói: “Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới”. Đồng thời, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam-để vừa tuyên truyền cách mạng, vừa sẵn sàng lực lượng quân sự hỗ trợ phong trào nổi dậy của nhân dân trong Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. 
Hoãn khởi nghĩa lúc chưa đúng thời điểm, nhưng khi thấy thời cơ cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, các nhà lãnh đạo cách mạng của ta thể hiện quyết tâm sắt đá lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập. Đó là vào cuối tháng 7-1945, Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Trong bài viết của mình rút ra những bài học kinh nghiệm từ thành công của Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng: “Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn - khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu-Tưởng vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng Minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam.”
72 năm đã qua, thời gian càng lùi xa càng có sự chiêm nghiệm, càng có thêm nhiều thông tin thì càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đối với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan xiềng xích của thực dân, đế quốc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc là kỷ nguyên đấu tranh vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Ngày nay, đi tới bất cứ nơi đâu trên thế giới, người Việt Nam luôn được ngưỡng mộ vì là người dân của một đất nước anh hùng.
Các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước… đều là từ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo thông tin, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái để hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, sự thật lịch sử đã phơi bày sự vô lương tâm của họ, thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày hôm nay đã cho thấy sự trơ tráo của họ. Dù trước mắt còn không ít thử thách nhưng đất nước ta, dân tộc ta đang tiến bước để trở thành một đất nước phát triển, hội nhập với thế giới.

Xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 của Việt Nam cũng có nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm./.

Cách mạng tháng Tám 1945: những bài học còn nguyên giá trị cho công cuộc đổi mới đất nước

Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam mới bắt đầu. 
Thắng lợi lịch sử của Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và những bài học còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Bài học thứ nhất về nắm bắt thời cơ: Trên cơ sở đường lối đúng đắn, luôn theo dõi, bám sát những biến đổi của tình hình thế giới, trong nước chủ động kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, chuẩn bị đón thời cơ, lãnh đạo và chỉ đạo quần chúng nhân dân tận dụng thời cơ thuận lợi của tình hình trong nước và quốc tế để dành thắng lợi. Đó là bài học nổi bật nhất về sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng tháng Tám. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. Đảng không những phải phát huy những kinh nghiệm và bài học quý báu đó, mà còn phải luôn xây dựng và chỉnh đốn, luôn trong sạch, đổi mới và sáng tạo xứng đáng với vai trò tiên phong cho sự phát triển đi lên của dân tộc.
Bài học về xây dựng và củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân: Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 là một minh chứng hùng hồn trong thực tiễn, khẳng định vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, với các hình thức vận động, tập hợp và quy tụ quần chúng phù hợp, hoạt động hiệu quả. Đặc biệt, các hình thức mặt trận, trong đó mặt trận Việt Minh “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy….”, với các tổ chức quần chúng như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc…đã không chỉ quy tụ mà còn là nơi các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp sức mình vào công việc của nhà nước. Với ý nghĩa đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững thời cơ và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới, hội nhập.

Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết đinh đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ kinh tế trên cơ sở từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đát nước mình chuyển theo hướng tích cực, dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,  mà con góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế./.

Ngọn nến tri ân Ngày Thương binh, Liệt sỹ

30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương của mình để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Để hôm nay của chúng ta được sống trong hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.Chúng ta nhớ về những ngày tháng đất nước còn trong khói lửa chiến tranh, trên đất nước luôn chỉ muốn hòa bình. Để giữ lấy nền độc lập thiêng liêng ấy của Tổ quốc, hàng triệu thanh niên Việt Nam với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ra đi với tình yêu cho quê hương đất nước vô cùng mãnh liệt, thề "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh"
Rời vòng tay yêu thương của gia đình, các anh - những người chiến sĩ mang trên vai gánh nặng non sông, từ giã những người thân yêu nhất của mình để ra tiền tuyến, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết là vô cùng mong manh. Nhưng vượt lên tất cả, khi cuộc chiến không còn có thể nhân nhượng, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đứng lên.
Ngoài tiền tuyến, các anh đã chiến đấu không ngơi nghỉ, nhưng bên cạnh đó là những khoảng lặng không tên. Ở đó, các anh vốn là những người xa lạ, nhưng chẳng hẹn mà quen nhau, xem nhau như tri kỷ, vì các anh cùng chung cảnh ngộ và lý tưởng chiến đấu.
Tình đồng chí, đồng đội ở các anh thật cảm động biết bao, nét đẹp đó đã đi vào những câu thơ bất hủ trong bài "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu:
"Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay"
Vẻ đẹp của các anh còn được thể hiện ở thái độ, tư thế hiên ngang trước sức mạnh của quân thù. Trong sâu thẳm trái tim người lính là lòng nhiệt tình cách mạng, ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường. Ở hậu phương, có bóng hình người mẹ, người vợ vẫn ngày ngày đợi chờ các anh, để rồi lại giấu nỗi đau vào tim khi được tin các anh mãi mãi không trở về.
Vẫn biết chiến tranh là có mất mát hy sinh, vết thương thịt da có thể lành lặn, nhưng vết thương trong lòng sẽ mãi còn với thời gian.
Giờ đây chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng mỗi tấc đất của quê hương đã chứa đựng tâm hồn và thể xác của các anh, để bây giờ chúng tôi, những người thanh niên Việt Nam được sống trong hòa bình, ấm no và hạnh phúc.

Chúng tôi kính dâng lên các anh vòng hoa nghĩa tình tại nghĩa trang liệt sĩ trong buổi chiều 27 tháng 7 lộng gió, những ngọn nến lung linh sẽ được thắp lên, thể hiện lòng tri ân sâu sắc nhất của chúng tôi đến những người đã chiến đấu hết mình cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Ý nghĩa cách mạng tháng Tám

Ngày 19 tháng 8 lịch sử cách đây 72 năm, dân tộc Việt Nam ta, toàn thể đồng bào, cùng nhau đồng sức, đồng lòng, đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật không cho thực dân, đế quốc có cơ hội xâm lược và biến nước ta thành thuộc địa của chúng. Bằng chứng là ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đã tuyên bố trước quốc dân Việt Nam và toàn thể cộng đồng thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tuyên bố về quyền con người của người dân Việt Nam bình đẳng với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới.
         Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt vĩ đại của dân tộc, mở ra một trang lịch sử tươi sáng và hào hùng, sau hàng ngàn năm phong kiến và Pháp thuộc, người dân đã làm chủ được chính mình, làm chủ được đất nước của mình. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam,cách mạng tháng Tám với việc người Việt Nam giành được chính quyền về tay mình không chỉ có ý nghĩa to lớn với người dân Việt Nam sau hàng ngàn năm phong kiến rồi đế quốc thực dân thì người Việt Nam mới có được những quyền cơ bản nhất của con người và chính mình làm chủ đất nước. Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa còn có ý nghĩa to lớn thúc đẩy cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc rộng khắp trên toàn thế giới ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi cho tới Mỹ Latinh.
       Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ có ý nghĩa về việc nhà nước Việt Nam do chính người Việt Nam làm chủ ra đời, ngang hàng với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên thế giới mà đó còn là nguồn độc lực thúc đẩy để nhân dân ta tiếp tục trên con đường đấu tranh kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, rồi đánh đuổi sự bành trước của tập đoàn quân phiệt phương bắc cũng như bè lũ giặc cỏ Kh’me đỏ với tội ác diệt chủng chống lại loài người. Chúng ta không những bảo vệ thành công độc lập chủ quyền mà còn giúp đỡ nước bạn thoát khỏi nạn diệt chủ man rợ mà thế lực thù địch gây ra.

        Thành công của Cách mạng Tháng Tám đó là sự chiến thắng của ý Đảng, lòng dân, là sự sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự đoàn kết như một của người Việt Nam không phân biệt già, trẻ, trai, gái, dân tộc, tôn giáo tất cả đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng Tám còn là kim chỉ nam cho định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và là bài học tốt đẹp cho cách  Cách mạng Tháng Tám lịch sử mãi là mốc son chói lọi đưa dân tộc ta đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Trong giai đoạn hiện nay, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám lịch sử vẫn luôn còn mãi với thời gian. Cách mạng Tháng Tám luôn được ghi vào lịch sử dân tộc và là ngày để tất cả chúng ta tưởng nhớ công lao của những người đã hi sinh vì Tổ quốc, và xây dựng đất nước sánh ngang với cường quốc năm châu, là sự khẳng định vị thế đất nước và quyền con người của người Việt Nam về dân chủ đập tan mọi lời lẽ xuyên tạc của các thế lực thù địch trước kia và hiện nay.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...