Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

"Đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất và công tác" là chức năng của Quân đội ngay từ khi được thành lập

Bộ đội Cụ Hồ là sự kết tinh của những giá trị văn hóa dân tộc. Đó là giá trị cao quý và đẹp đẽ nhất mà Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam được hun đúc qua nhiều thế hệ, trở thành bản chất, truyền thống của quân đội ta. “Bộ đội Cụ Hồ” là một danh hiệu vinh dự, do nhân dân khen tặng. Đó là phần thưởng cao quý nhất đối với mỗi chiến sĩ; đồng thời khẳng định quân đội ta thật sự là quân đội của dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân chiến đấu, phục vụ.

Sau ngày thành lập (22-12-1944) được 8 tháng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tưởng chừng nhỏ nhoi đó đã cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành độc lập cho dân tộc. Đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, đội quân đó đã “sinh sôi” thành những đại đoàn quân hùng mạnh, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Hình ảnh chiến sĩ quân đội trong thời kỳ chống Pháp là những anh vệ quốc quân, mang áo trấn thủ, nhưng nổi tiếng với những gương chiến đấu kiên cường, dũng cảm. Họ đi đến đâu giặc tan, đời sống hòa bình đến đó. Bộ đội về làng, bộ đội kéo pháo, công đồn... mãi mãi là những hình ảnh đẹp đã in vào lòng dân. Truyền thống “đi dân nhớ, ở dân thương”, tinh thần đoàn kết quân dân như cá với nước... được hình thành từ đó.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh bộ đội Cụ Hồ lại càng được tô thắm và nâng cao lên một bước. Đều là con em nhân dân nên bộ đội Cụ Hồ có tinh thần đồng đội rất cao. Đồng đội đồng thời cũng là đồng chí và tuyệt vời hơn là cha, con cũng là đồng chí, để “chung câu quân hành”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa kết thúc thì chế độ diệt chủng do Pôn Pốt cầm đầu ở Campuchia đã kích động hận thù dân tộc, tiến hành chiến tranh xâm lấn biên giới Tây Nam của Tổ quốc, gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ với nhân dân Việt Nam, đồng thời thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Campuchia. Đứng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận Dân tộc Cứu nước Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp các lực lượng vũ trang Campuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo.

Trong lò lửa của các cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang nhân dân đã được tôi luyện. Mỗi chặng đường chiến thắng, mỗi bước trưởng thành của quân đội ta đều gắn với sự lãnh đạo của Đảng. Đảng và Bác Hồ là người cha, người thầy vĩ đại đã tổ chức nên mọi thắng lợi của quân đội. Nguồn gốc sức mạnh của quân đội Việt Nam, trước hết và chủ yếu là ở sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi mới ra đời, quân đội ta đã được xác định nhiệm vụ là “đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất và công tác”. Trong thời chiến, lúc hòa bình, 3 chức năng: chiến đấu, công tác và sản xuất đều được coi trọng. Trải qua hơn 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, quân đội ta không những đã chứng tỏ là quân đội chiến đấu giỏi mà còn là đội quân công tác và sản xuất giỏi.


Thực hiện chức năng là một đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân, là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng. Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu, Quân đội nhân dân  Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại, huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ. Trong những năm qua, các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội luôn phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với lời huấn thị của Bác Hồ kính yêu: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội trước tác động của các mạng xã hội

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão như hiện nay thì sự bùng nổ của Internet đã và đang trực tiếp có những tác động, tạo ra những biến đổi lớn lao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả lĩnh vực quân sự, đặc biệt là đối với quân đội.

Tuy nhiên, nó cũng như một con dao hai lưỡi. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, các thế lực thù địch, các phần tử thoái hóa, biến chất và bất mãn cả trong lẫn ngoài nước lợi dụng các trang mạng xã hội và xem đó là công cụ đắc lực để tuyên truyền, kích động chống phá nhà nước, chống phá cách mạng và Quân đội ta một cách quyết liệt.

Thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, cùng với việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, Quân đội luôn là lực lượng tiên phong, đi đầu trong thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngoài nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN thì Quân đội luôn thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác; tham gia phát triển kinh tế nhằm góp phần tăng thêm tiềm lực kinh tế cho nhà nước, giảm tải các chi phí mà Nhà nước đang gồng gánh; giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo.

Thế nhưng, các thế lực phản động, những cá nhân bất mãn, có tư tưởng chống đối vẫn không ngừng chống phá, chúng đưa ra nhiều thông tin sai trái, tích cực viết bài đăng tải trên các trang mạng xã hội có nội dung xuyên tạc, đả kích, đưa ra những quan điểm xấu gây nên sự hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là một bộ phận trí thức và thanh niên, sinh viên, những đối tượng thường xuyên tiếp xúc với internet. Đối với Quân đội, chúng phá hoại nội bộ một cách có hệ thống, tác động vào những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá, xuyên tạc về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong đó có nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh; “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho cán bộ, đảng viên trong Quân đội phai nhạt lý tưởng cộng sản, mơ hồ lập trường giai cấp; gây nghi kị, ngờ vực; phá hoại lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, quân đội; chia rẽ mối đoàn kết quân - dân, làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; qua đó, phát tán những tư tưởng chống Cộng, kích động, cổ vũ những tư tưởng cực đoan, chống phá chính quyền, chống phá Quân đội, chống phá Nhà nước ta.

Chính vì thế, việc không ngừng nâng cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của địch, bác bỏ những thông tin, quan điểm sai trái trên mạng Internet là cuộc đấu tranh vô cùng cấp bách hiện nay của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta để làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Qua đó, góp phần làm cho cán bộ và quần chúng nhân dân nâng cao tính tự giác, tính chủ động, phản ứng nhanh nhạy, kịp thời đấu tranh với các quan điểm, luận điệu sai trái phát tán trên mạng Internet cũng như ngoài xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Nội dung, biện pháp cơ bản trong đấu tranh chống "Phi chính trị hóa" Quân đội của thế lực thù địch

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của Lực lượng vũ trang nhân dân, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Trải qua 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi của quốc gia, ngày nay, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời biểu dương, khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Tình hình thế giới, khu vực, và trong nước hiện nay có nhiều biến động to lớn, phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN). “Phi chính trị hóa” Quân đội là một âm mưu, thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, với mục đích tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội biến chất, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một chiêu bài, một âm mưu hết sức nguy hiểm, thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xét về nội dung tuy không mới, nhưng về thủ đoạn, cách thức tiến hành thì có sự thay đổi, điều chỉnh so với trước. Chúng triệt để lợi dụng việc nước ta hội nhập, mở cửa để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng mọi hình thức hết sức tinh vi. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, tích cực và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng; tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.   Trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường giáo dục giác ngộ bản chất giai cấp công nhân của Đảng cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đây là nội dung rất quan trọng, nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, củng cố niềm tin cho bộ đội vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.  Sự giác ngộ sâu sắc bản chất giai cấp công nhân của cán bộ, chiến sĩ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng thù địch, phản động tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù. Để thực hiện tốt việc giáo dục giác ngộ bản chất giai cấp công nhân cho mọi cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo quy định của Tổng cục Chính trị và bổ sung những nội dung giáo dục cho phù hợp với nhiệm vụ của từng đơn vị và tình hình nơi đóng quân. Trong đó, các đơn vị phải chú trọng giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”. QĐNDVN do Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, là quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu lí tưởng của Đảng, đó là tất yếu khách quan không thể phủ nhận. Công tác giáo dục là phải làm cho bản chất cách mạng ấy của quân đội thấm sâu, tồn tại và phát triển trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Cùng với việc tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân, các đơn vị phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cho bộ đội để khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống của cha ông, mà thế hệ trẻ hiện nay phải có nhiệm vụ giữ gìn, phát triển.
         
Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh (TSVM) là vấn đề then chốt trong việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở xây dựng sức mạnh tổng hợp của quân đội. Bởi tổ chức đảng là hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết của đơn vị. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự TSVM, có sức chiến đấu cao. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách; qua đó xây dựng các tổ chức đảng TSVM, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi hiện tượng buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, hoặc không gắn việc xây dựng tổ chức đảng TSVM với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đồng thời, chống mọi hiện tượng tiêu cực tập thể, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với đơn vị.
        
Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì trong quân đội. Để xây dựng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay, mỗi cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên kiên định con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững và tăng cường lập trường giai cấp công nhân; kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp, tác phong công tác tốt; lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống thực dụng vì đồng tiền, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn; nâng cao năng lực toàn diện, đáp ứng đòi hỏi của thời kì mới.

Bốn là, coi trọng xây dựng môi trường văn hoá ở các đơn vị quân đội trong sạch, lành mạnh; xây dựng đạo đức, nhân cách người quân nhân cách mạng. Môi trường văn hoá trong quân đội còn là màng lọc để ngăn những loại văn hoá độc hại xâm nhập vào quân đội; là hàng rào vô hình, phi vật chất, từng bước hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta hiện nay và để chiến lược “diễn biến hoà bình”, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù không còn đất sống. Các cơ quan, đơn vị phải đề cao vai trò của các tổ chức, đặc biệt là tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh trong đơn vị mình, nhất là môi trường văn hoá chính trị và môi trường văn hoá sư phạm; quan tâm xây dựng cảnh quan môi trường trong đơn vị xanh, sạch, đẹp. Kết hợp chặt chẽ với địa phương trong xây dựng môi trường văn hoá. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần quan tâm thường xuyên tổ chức giao lưu, kết nghĩa với địa phương, đơn vị bạn với nhiều nội dung, hình thức phong phú để tiếp thu chọn lọc học hỏi những kinh nghiệm, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, trên cơ sở đó thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, các tổ chức đoàn thể địa phương và đơn vị bạn, làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần cho mọi cán bộ, chiến sĩ; góp phần  đấu tranh có hiệu quả với âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù và những biểu hiện sai trái.


Tóm lại, Đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù là yêu cầu cấp bách trong xây dựng quân đội “cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” trong giai đoạn hiện nay. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” và mức độ nguy hiểm của âm mưu này; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, quyết tâm và có chủ trương, hình thức, biện pháp đấu tranh có hiệu quả, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần nhận thức sâu sắc bản chất, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù để có biện pháp đấu tranh có hiệu quả; kiên quyết phê phán những nhận thức mơ hồ, sai trái.

Cần đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về Chính trị

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi biện pháp để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” như: tuyên truyền phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc: “Đảng lãnh tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam”, … xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội.

Như chúng ta đã biết theo C. Mác – Lênin khẳng định: quân đội là một hiện tượng lịch sử, ra đời trong một giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội loài người, hiện nay cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập và quân đội không thể cũng như không nên trung lập, không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, bọn giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản.

V.I.Lênin đã đưa ra nhiều luận điểm quan trọng nhằm khẳng định bản chất của quân đội cách mạng. Có thể nêu lên một số vấn đề lý luận chủ yếu như: không thể quân đội phi chính trị, phi giai cấp, quân đội “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”; bất cứ quân đội nào thì về vấn đề chính trị của quân đội cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu, đó thực chất là vấn đề bản chất giai cấp, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, do ai tổ chức và lãnh đạo, chiến đấu cho ai, vì ai; chính trị của quân đội vô sản là thực hiện chính trị của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phục vụ Đảng, Tổ quốc và nhân dân, biểu hiện tập trung ở chiến đấu đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội;  xem nhẹ, buông lỏng vấn đề xây dựng quân đội về chính trị là làm suy yếu, thậm chí làm biến chất quân đội; quân đội vô sản “do một bộ phận tiên tiến những người Cộng sản” lãnh đạo, Đảng Cộng sản là người “lập ra quân đội”, “chỉ huy quân đội”, phải “thành lập các chi bộ cộng sản trong mỗi một đơn vị quân đội”.

Tiếp thu học thuyết Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân mà đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Từ quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng trung thành, sáng tạo vào quá trình xây dựng quân đội ta từ những những ngày đầu thành lập, rõ nét nhất từ khi mới thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quân đội ta đã là quân đội mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành hơn 70 năm qua đã chứng minh Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy, chính sự lãnh đạo của đảng quyết định sự hình thành, trưởng thành, chiến đấu chiến thắng  và lớn mạnh của quân đội ta. Quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Ngày nay, trong nay trong xây dựng  Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” trong rất nhiều các yếu tố, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Xa hơn một chút, ngược dòng lịch sử bài học rất sâu sắc cho sự mơ hồ về chính trị, xa rời bản chất giai cấp công nhân của quân đội Liên Xô. Đã phải trả giá bằng sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô – viết vào cuối năm 1991.

Trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, chúng ta luôn luôn khẳng định rằng Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân đồng thời có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bản chất quân đội kiểu mới thể hiện rõ rệt ở sự thống nhất hữu cơ giữa tính Đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội nhân dân Việt Nam”. Với bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng Quân đội sẽ luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân mọi tình huống.


Để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, chúng ta cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất giai cấp của quân đội cho cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tạo ra sự “miễn dịch” cần thiết, tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập tư tưởng của các thế lực thù địch vào quân đội. Mặt khác, đấu tranh kiên quyết với những nhận thức lệch lạc, hành vi sai trái, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch./.

Đấu tranh chống quan điểm xuyên tạc bản chất, truyền thống cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam

Thời gian gần đây, lợi dụng việc một vài cá nhân tự nguyện viết đơn xin ra khỏi Đảng, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại được dịp “đục nước béo cò”, thông qua một số trang điện tử và mạng xã hội để xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với những giọng điệu hết sức hằn học theo kiểu “bới lông tìm vết”, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị ra sức cổ súy, cho rằng việc xin ra khỏi Đảng của một vài cá nhân là “hết sức đúng đắn”, “là sự tỉnh táo”, “là những người có danh dự”…

Trước hết cần nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về việc một số cá nhân xin ra khỏi Đảng thời gian qua và âm mưu lợi dụng xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị.

Điểm qua tên tuổi những người xin ra khỏi Đảng được những kẻ rắp tâm hại Đảng, hại dân liệt kê trong các bài viết đăng trên một số trang báo điện tử ở nước ngoài, hoặc qua mạng xã hội thì việc xin ra khỏi Đảng của họ cũng không khó hiểu. Không phải đến bây giờ, những người một thời mang danh đảng viên mới bộc lộ tư tưởng, mà một thời gian dài, họ đã lợi dụng dân chủ nói và viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng; trái với chủ trương, chính sách của Nhà nước; trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau khi được một vài trang báo nước ngoài cố súy, được một số kẻ lưu vong, nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân “hà hơi”, số người này ảo tưởng cho rằng, tiếng nói của mình là quan trọng, là “khuôn vàng, thước ngọc” có thể từ đó tạo dựng nên một xã hội tốt đẹp.

Việc những người từng mang danh đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái với quan điểm, đường lối của Đảng không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong nhiều năm. Nhưng với bản chất tốt đẹp, nhân nghĩa, trên tình đồng chí, đồng đội, các tổ chức đảng và đảng viên đã có nhiều biện pháp giúp đỡ để họ nhận ra lỗi lầm, mà sửa chữa, phấn đấu. Tuy nhiên, khi họ đã cố tình đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, thì sự giúp đỡ dù chân tình đến đâu cũng đều không mang lại hiệu quả. Với bản chất và truyền thống cách mạng, một chính đảng chỉ biết chiến đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp công sức, trí tuệ của từng cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không dung túng, mà luôn xử lý nghiêm minh với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có suy nghĩ, hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đó cũng là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái ngược nhằm mục đích chống phá Đảng, chống phá Nhà nước phải sớm loại ra khỏi hàng ngũ của Đảng.

Cần nói thêm rằng, mọi công dân Việt Nam, trước khi vào Đảng đều phải trải qua những lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng. Thông qua những lớp học này giúp những quần chúng ưu tú có động cơ phấn đấu vào Đảng nắm chắc và hiểu rõ được bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng, mục tiêu của Đảng; đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình khi trở thành đảng viên. Ngay ở Chương 1, Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, thể hiện sự tự nguyện của đảng viên: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.

Có thể thấy trách nhiệm, nghĩa vụ và sự tự nguyện cống hiến, hy sinh của người đảng viên đối với Tổ quốc, với dân tộc và nhân dân là rất rõ ràng. Bởi vậy, những ai tự nhận thấy mình không còn đủ tư cách, trí tuệ và năng lực; cũng như không chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thì việc tự nguyện xin ra khỏi Đảng là điều nên làm và đó là việc làm bình thường. Mặt khác, theo quy luật chọn lọc tự nhiên thì mọi tổ chức, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển không ngừng. Theo đó, những nhân tố không còn phù hợp, hoặc không đáp ứng được yêu cầu, sớm muộn cũng bị đào thải, loại bỏ. Sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên đó. Vì vậy, những đảng viên không còn thấy mình xứng đáng đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản tiên phong; không còn đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, nhất là những người “mang danh đảng viên” nhưng có tư tưởng đi ngược lại lợi ích của Đảng, của dân tộc thì tốt hơn hết là tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Việc những người này sớm rút ra khỏi đội ngũ không làm cho Đảng yếu đi, mà càng làm cho Đảng thêm trong sạch, vững mạnh.

Cần nói thêm rằng, không phải ai xin ra khỏi Đảng cũng là hết tình yêu với Đảng, mà không ít đảng viên do điều kiện, hoàn cảnh gia đình hay cá nhân; hoặc do tuổi cao, sức yếu; cũng có những người tự thấy mình không xứng đáng với danh hiệu đảng viên, nên tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Đó là những con người có danh dự, thể hiện phẩm giá cá nhân và không thể "vơ đũa cả nắm" xếp họ cùng những người “mang danh đảng viên” nhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần đạo đức cách mạng… Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục… Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài...”.


Thực tiễn xã hội Việt Nam có rất nhiều điều để dẫn chứng, để khẳng định việc tuyệt đại đa số người dân, không chỉ riêng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng vào Đảng, nguyện đi theo Đảng. Niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được xây đắp, thử thách thông qua thực tiễn cách mạng. Kể từ khi được thành lập cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục tiêu nào khác là phấn đấu, hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì vậy, bất kỳ đảng viên nào, dù ở cương vị nào, nếu thấy mình không đủ dũng khí, phẩm chất để hy sinh, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc thì việc xin ra khỏi Đảng là điều cần thiết. Bởi, “vào Đảng là để làm đầy tớ phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp…”. Đó vừa là mục tiêu luôn hướng tới, vừa là bản chất, truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được.

Đập tan mưu đồ "Phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực thù địch

Phi chính trị hóa quân đội là âm mưu cực kỳ nham hiểm nằm trong tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Đó cũng là một trong chín biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) của Đảng về “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây cũng là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm hiện nay trong bối cảnh các thế lực tăng cường chống phá cách mạng nước ta.

Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đưa ra từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Nội dung cơ bản của luận điệu đó là: làm cho quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị, không chịu sự lãnh đạo, chi phối của bất cứ chính đảng, lực lượng chính trị nào; quân đội chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích của nhân dân… Những người nhẹ dạ, cả tin dễ lầm tưởng rằng, đây là một phát kiến mới, đơn giản là quân đội “đứng giữa”, không phụ thuộc vào bất kỳ ai thì mọi hành động sẽ công tâm, khách quan, phù hợp lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ bản chất của vấn đề và những gì diễn ra trong thực tiễn ta càng hiểu và thấy rõ “tim đen” của những người đưa ra luận điệu phản khoa học và phản động này. Thực chất của luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không có gì khác hơn là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, bị vô hiệu hóa, lôi kéo theo quỹ đạo phản cách mạng của chúng.

Thực tiễn những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch đã từng thành công với âm mưu, thủ đoạn này. Ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, khi đất nước xảy ra biến cố chính trị, quân đội đã đứng ngoài cuộc, chế độ XHCN sụp đổ. Hòng xóa bỏ CNXH ở các nước còn lại, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh triển khai một cách bài bản chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong đó, “phi chính trị hóa” quân đội  là một thủ đoạn được chúng đặc biệt coi trọng.

Đối với nước ta, chúng ra sức phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng tuyên truyền phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về chiến tranh cách mạng, về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta, đặc biệt là quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, QĐND; xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của QĐND, CAND, đồng thời cổ súy quan điểm xây dựng quân đội nhà nghề, quân đội trung lập, quân đội chỉ tuân theo hiến pháp và pháp luật; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội ta; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong LLVT, làm cho Quân đội  xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Trên lĩnh vực tổ chức, chúng công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐNDVN; đề nghị “bỏ quy định LLVT phải tuyệt đối trung thành với Đảng CSVN” (Điều 65, Chương IV) trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; đòi xóa bỏ vai trò của công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán Bộ Chính trị các cấp trong Quân đội ;...

Trên lĩnh vực thông tin và truyền thông, các thế lực thù địch tăng cường khai thác In-tơ-nét, mạng xã hội Facebook, Zalo, youtube… để xuyên tạc, lôi kéo, dụ dỗ nhiều người tham gia chống phá Quân đội. Thâm hiểm hơn, các thế lực thù địch còn ra sức chia rẽ Quân đội với Công an, LLVT với Đảng, Nhà nước, nhân dân, thực hiện các biện pháp, thủ đoạn như: So sánh sự hơn thiệt giữa Công an và Quân đội; lợi dụng một số vụ việc như: việc nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam; sự cố môi trường biển miền trung, sự kiện mở sân gol trong sân bay Tân Sơn Nhất, vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm – Hà Nội…; để xuyên tạc, phủ nhận vai trò, chức năng của Quân đội trong việc bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh - trật tự trong nước.

Có thể khẳng định, âm mưu, thủ đoạn đòi “phi chính trị hóa” Quân đội  là một chiêu bài hết sức nguy hiểm, thâm độc nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Mục tiêu của chúng không thay đổi, song nội dung, phương thức, thủ đoạn, phương tiện sử dụng có sự thay đổi nham hiểm và gây tác hại to lớn hơn so với trước. Trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần kiên quyết thực hiện một số nội dung, giải pháp sau đây.

Một là: Không ngừng quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc; đề cao cảnh giác, tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng; tập trung xây dựng Quân đội  cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Trong đó, cần: Tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội  nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội; trung thành vô hạn với Đảng, Nhà nước, nhân dân, nhận rõ đối tượng, đối tác của cách mạng, đối tượng tác chiến trong tình hình mới, luôn thể hiện là lực lượng cách mạng nhất, vững vàng, kiên định, tin cậy nhất; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là:  Giữ vững và phát huy phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của QĐNDVN, luôn làm sáng đẹp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, nắm chắc tình hình; cung cấp thông tin, nhận diện và phát hiện sớm âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá mới của các thế lực thù địch, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, để có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi kịp thời, hiệu quả.

Ba là: Tập trung xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội  vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; gắn xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì; mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội thật sự là tấm gương để quần chúng noi theo.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”; Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho Quân đội  thật sự là lực lượng đoàn kết, gắn bó thống nhất trong LLVT, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là lực lượng xung kích đi đầu trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội  phải là những chiến sĩ văn hóa, tấm gương lan tỏa, phát sáng và nhóm lửa trong nhân dân thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đập tan âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội  của các thế lực thù địch.


Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết và trực tiếp nhất là QĐND. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy, chính ủy (chính trị viên) các cấp, với trách nhiệm chính trị và sự đoàn kết, thống nhất của CB,CS trong toàn quân, chúng ta tin tưởng rằng, Quân đội sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này, xứng đáng với truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng./.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Đại hội Đảng lần thứ XII đã khẳng định những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong tình hình mới; quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi những quan điểm cơ bản đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay, trong đó cần nắm vững một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, cần bảo đảm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia trong tình hình mới, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Đây là sự thể hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước; nhất là trong tình hình mới, Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Các nhiệm vụ này phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng, tác động hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Theo đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh cũng có nghĩa là tạo điều kiện, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội lại tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của quốc gia. Vì vậy, cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước nhận thức sâu sắc hơn nữa đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, cần quán triệt và nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn về mục tiêu, nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Như vậy, nội hàm của vấn đề bảo vệ Tổ quốc được mở rộng và bao trùm hơn, thể hiện tính toàn diện, tổng thể của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Ở đây, cần đặc biệt chú trọng tới mối quan hệ biện chứng của mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc… luôn gắn liền với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của quốc gia. Đây là hai mặt của vấn đề liên quan hết sức mật thiết với nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay. Vì vậy, cần luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả vấn đề này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong xử lý những vấn đề nhạy cảm, phức tạp hiện nay trên tinh thần coi mục tiêu tối thượng là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN và đi liền với đó là phải giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để tranh thủ mọi nguồn lực (cả nội lực và ngoại lực) nhằm xây dựng, phát triển đất nước bền vững hơn. Tích cực đấu tranh với những quan điểm phiến diện, lệch lạc về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Thứ ba, cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc vấn đề phát huy sức mạnh tổng hợp cũng như phương châm, phương pháp tiến hành bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, cần phải: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ cao nhất sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN…Đảng đã chỉ rõ sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đó là lực lượng của toàn dân tộc. Đảng xác định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm mới không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam, tăng cường quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân”; “Tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc” để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cùng với việc khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XII còn chỉ rõ cần tranh thủ cao nhất sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là một trong những kinh nghiệm lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta, nhất là trong điều kiện bối cảnh quốc tế hiện nay. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới, khu vực hiện nay, vấn đề kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là một trong những phương châm, phương pháp cơ bản để giải quyết những mâu thuẫn, khác biệt đối với chủ quyền của quốc gia, dân tộc giữa các nước. Bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ phải kiên quyết, song quá trình đấu tranh phải kiên trì, dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào sức mạnh của cộng đồng quốc tế, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc để đấu tranh.

Thứ tư, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tích cực xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Nghị quyết khẳng định: xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”.

Theo đó, cần nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có số lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, chủ động chuẩn bị lực lượng và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, đủ khả năng bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia trong mọi tình huống…Đối với Quân đội nhân dân, cần tập trung giáo dục, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định cho mọi cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất năng lực, coi đó là khâu có ý nghĩa quyết định. Tiếp tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Không ngừng tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang; nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, thực hiện tốt phương châm huấn luyện: "cơ bản, thiết thực, vững chắc", coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, phù hợp tổ chức biên chế, trang bị hiện có...

Những quan điểm, chủ trương, định hướng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, có sự bổ sung, phát triển toàn diện, sâu sắc thể hiện tính cách mạng, khoa học, phù hợp tình hình quốc tế và điều kiện thực tiễn của nước ta; phù hợp ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta

“Phi chính trị hóa” Quân đội  nhân dân Việt Nam là một trong những mục tiêu, nội dung của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, thời gian qua, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi và hiểm độc. Chúng ta phải hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn này.
Thực chất âm mưu thủ đoạn phi chính trị hóa Quân đội là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân làm cho lực lượng trọng yếu của cách mạng không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bởi vậy chúng ta không lạ lẫm gì với những chiêu trò cũ rích những ngày càng tinh vi và thâm hiểm mà các thế lực thù địch tung ra để chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống phá Quân đội nhân dân với mọi luận điệu, nào là Quân đội chỉ trung thành với Quốc gia, dân tộc với nhân dân không phải trung thành với một Đảng chính trị nào; hay Quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Chúng còn đưa ra những yêu cầu, kiến nghị có vẻ khách quan khoa học cho rằng: Lực lượng vũ trang phải duy trì tính tính trung lập về chính trị, phải đứng ngoài chính trị. Chúng đòi bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi trong Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta. Đó là những luận điệu vô căn cứ, phản khoa học, hoàn toàn không đúng với thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội hiện nay càng đặc biệt nguy hiểm khi họ triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, nhất là in-tơ-nét, các trang mạng xã hội, blog cá nhân... để tán phát, truyền bá quan điểm sai trái, thù địch; lại được một số hãng truyền thông phương Tây, như VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những phần tử thâm thù cách mạng, cơ hội chính trị, những người thiếu tỉnh táo, cả tin, mơ hồ về chính trị tung hô, cổ súy… Mọi luận điệu mà các thế lực thù địch tung ra và liên tục cổ xúy nói trên không nhằm mục đích nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho Quân đội ta xa dời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, biến chất về chính trị, mất sức chiến đấu, bị vô hiệu quá vai trò là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Khi sức mạnh của Quân đội phân rã sẽ là thời cơ để các lực lượng chính trị phản động thừa cơ đục nước béo cò để đất nước lâm vào tình trạng rối ren mất ổn định, chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy cần vạch rõ sự xảo trá, ngụy biện cùng các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và thâm hiểm của các thế lực thù địch phá lực lượng vũ trang ta cả bình diện lý luận và thực tiễn.

Trên bình diện lý luận, lịch sử phát triển của nhân loại từ khi có giai cấp, nhà nước đến nay cho thấy không bao giờ có cái gọi là lực lượng vũ trang trung lập về chính trị, đứng ngoài chính trị, phi giai cấp, không can dự vào chính trị. Xét về bản chất của Nhà nước, trước hết đó là bộ máy chấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp. Vì vậy Nhà nước phải cần có công cụ bạo lực chủ yếu nhằm thực hiện mục đích chính trị, kinh tế của giai cấp. Cho nên Quân đội xuất hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà nước, giai cấp cầm quyền. Ngược lại chính trị lại quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản của Quân đội như quan hệ với giai cấp, quan hệ với chế độ xã hội, với nhân dân với dân tộc. Quân đội luôn gắn chặt với giai cấp, Nhà nước sinh ra nó và mang bản chất giai cấp sâu sắc. Vì thế, không thể có và không bao giờ có LLVT phi giai cấp, siêu giai cấp, phi chính trị, đứng ngoài chính trị. V.I. Lê nin đã vạch rõ bản chất phản động của luận điệu “LLVT đứng ngoài chính trị” coi đó là cái giáo lý tầm thường giả nhân, giả nghĩa và dối trá. Người đã khẳng định một cách dứt khoát: “Không thể có Quân đội, Công an trung lập về chính trị, đó chỉ là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản và chế độ Nga hoàng. Bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo Quân đội vào chính trị phản động. Vì thế mọi luận điệu phi chính trị hóa LLVT thực chất chỉ là chiêu trò lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin, ấu trĩ về chính trị mà thôi”.

Trên bình diện thực tiễn, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập, giáo dục, rèn luyện Quân đội nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt đối với Quân đội nhân dân. Vì vậy Quân đội nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo, xây dựng Quân đội nhân dân theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạng tổng hợp của lực lượng Quân đội nhân dân đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiện, tình huống. Lịch sử chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân cho thấy: Chỉ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta mới có đủ bản lĩnh, năng lực thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thực hiện các chủ trương đường lối chiến lược bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh Quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa tấn công làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đối ngoại của đất nước. Vì vậy Quân đội nhân dân Việt Nam không bao giờ xa dời bản chất chính trị của Đảng cũng như không bao giờ xao nhãng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng chính là nhân tố quyết định trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mọi luận điệu của các thế lực thù địch kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam, cổ xúy quan điểm chuyên nghiệp hóa lực lượng Quân đội đòi phải trung lập về chính trị, đòi bỏ quy định sự trung thành của Quân đội nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chính là những cái bẫy đòi phi chính trị hóa hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch.


Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu và gần đây là những sự kiện bất ổn về chính trị, xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung đông, bắc Phi khiến chúng ta phải hết sức cảnh giác không mắc mưu trước những chiêu trò phi chính trị hóa Quân đội của các thế lực thù địch.

Tại sao các thế lực thù địch, phản động lại tập trung vào "Phi chính trị hóa" Quân đội?

Nghiên cứu lịch sử nhân loại, ai cũng biết rằng, sự xuất hiện của quân đội gắn liền với chính trị, sự ra đời của nhà nước và chiến tranh; không thể có và không bao giờ có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hiện nay, lợi dụng việc góp ý với Đảng, Nhà nước về các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “đổi mới đất nước...” thông qua các “bức thư tâm huyết”, “kiến nghị của công dân”, một số người đã lên tiếng kiến nghị với Đảng rằng “các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào”, “lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào, đảng phái nào”; “quân đội và công an chỉ cần tuân theo pháp luật”; “quân đội cần đứng ngoài chính trị”... Theo đó, một số người đã ngạo mạn cho rằng “ở Việt Nam, lực lượng vũ trang không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”...

Thực chất của những quan điểm nêu trên là nhằm “phi đảng hóa”,  “phi chính trị hóa”,  là một trong những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Đây là luận điểm đã có từ lâu tách quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang để dễ bề thực hiện những ý đồ đen tối: xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được.

Cần khẳng định ngay rằng, những luận điệu nêu trên là hết sức nguy hiểm, rất phản động, phản khoa học, vì nó trái với pháp lý và hoàn toàn không đúng với đạo lý, nhân cách con người Việt Nam yêu nước, biết quý trọng những giá trị tốt đẹp mà lịch sử văn hóa dân tộc và thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu của mình mới giành lại được độc lập, tự do, mới có cuộc sống ấm no, hòa bình và hạnh phúc hôm nay. Sự thật này không thể bác bỏ, chân lý và lẽ phải không thể đổi thay dù ai đó cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật; dù ai đó cố tình nhắm mắt làm ngơ, chối từ lẽ phải.

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam; quân đội ta phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội. Nói cách khác, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp Quân đội nhân dân Việt Nam là một nguyên tắc bất di, bất dịch; sự lãnh đạo đó quyết định quá trình trưởng thành, lớn mạnh, truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội ta hơn 70 năm qua. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam là độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, thực chất là nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng ấy cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta: “ Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cuãng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân ta giữ vai trò là lực lượng nòng cốt cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta.

Sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa tiên phong ở Liên Xô và Đông Âu; sức mạnh bách chiến bách thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam – tiền đề quan trọng cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hai dữ kiện lịch sử với những thông số trái ngược đã không khó giúp cho bè lũ phản động nhận ra rằng cần phải “phi chính trị hóa” quân đội ta là mắt xích quan trọng trong khâu chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhưng càng điên cuồng chống phá chúng lại càng chứng tỏ sự run sợ và bất lực của mình trước sự gắn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Theo lời Bác dạy “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng quân đội về chính trị; lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đó là yếu tố quyết định đảm bảo cho quân đội ta luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Đó là chân lý không gì có thể thay thế được.

Bác bỏ quan điểm cho rằng "Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay không còn phù hợp với Việt Nam"

Sau khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và các quốc gia Đông Âu bị sụp đổ cho đến nay. Các thế lực thù địch đã và đang điên cuồng chống phá các nước XHCN còn lại mà trực tiếp là chúng chống phá vào Học thuyết Mác-Lênin, chúng cho rằng: "Học thuyết Mác là sản phẩm của giữa thế kỷ XIX, do vậy đem đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học"; “Chủ nghĩa Mác-Lênin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam”...

Nhưng, sự thật có phải như các thế lực thù địch chống chủ nghĩa Mác-Lênin tuyên truyền?

Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là những nhà khoa học - những nhà cách mạng. Lý tưởng mà các ông theo đuổi là khát vọng của nhân loại tiến bộ - con người được giải phóng hoàn toàn khỏi mọi ách áp bức bóc lột, được ấm no, tự do, hạnh phúc. Lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới xã hội không còn người bóc lột người, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định.

Sự cần thiết, sự phù hợp, vai trò cơ sở, nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với lịch sử phát triển của cách mạng thế giới và Việt Nam.

V.I.Lênin chỉ rõ: "Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác." ,"...nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ  với tinh thần cách mạng...". Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Chủ nghĩa Lê-nin... không những là cái "cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".

CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) sụp đổ không phải vì tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin không còn tính thời đại, mà là sự phá sản của một đường lối sai lầm, chẳng những sa vào quan liêu hóa, giáo điều, chủ quan, duy ý chí bắt đầu từ sai lầm trong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở đó, do đi chệch khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin chân chính, mà còn là sự xét lại và phản bội chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời không thể không kể đến những âm mưu thâm độc trong chiến lược "diễn biến hòa bình" mà chính chủ nghĩa đế quốc quốc tế sử dụng. Kẻ thù của các đảng cộng sản đã lợi dụng triệt để những sai lầm trong đường lối, những khiếm khuyết không được khắc phục kịp thời trong lãnh đạo và điều hành đất nước của các đảng ở các nước đó... để mua chuộc, kích động và cổ vũ những phần tử cơ hội bên trong, khuyến khích những hành động phản cách mạng bên ngoài. Nhưng các thế lực thù địch lại đổ tội tất cả điều đó chủ nghĩa Mác-Lênin. Năm 1999, Trường Đại học Cam-brit (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ thứ 2, kết quả là C.Mác đứng đầu, A. Anh-xtanh - nhà khoa học lớn, đứng thứ 2. Và mới đây, theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), C.Mác được ưa chuộng một cách ngạc nhiên - hơn 50% số người dân Đức nói rằng, “sự phê phán của C.Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”, và thậm chí hơn 56% cho rằng, “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”; và C.Mác trong giới trẻ còn nhận được sự đồng tình cao hơn nữa. Và, theo nhà tỷ phú đầu cơ chứng khoán G.Sô-rốt viết: “C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho một phân tích rất tốt về hệ thống tư bản từ cách đây 150 năm”. Rồi, ngay tờ The New Yorker (Mỹ) cũng cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại đang “bước theo dấu chân của C.Mác mà họ không biết”, trong quá trình giải quyết các vấn đề mà họ phải đối mặt, bởi theo tờ Tạp chí Newsweek (Mỹ), C.Mác “đã mổ xẻ cái hệ thống trục lợi này tốt hơn ai hết... Như thể C.Mác đã đội mồ đứng dậy!”. Và  thực tế đang chứng minh rằng, chính bản thân CNTB dù ở phương Đông hay phương Tây (từ Nhật Bản tới Tây Âu rồi Mỹ...) cũng đã và đang vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm điều chỉnh, thích nghi để tồn tại đó thôi.

V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng, thì không thể có phong trào cách mạng”; “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong soi đường thì mới làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các tầng lớp Nhân dân Việt Nam đã đứng lên chống quân xâm lược hơn nửa thế kỷ, nhưng đã không thành công. Đầu thế kỷ XX phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản cũng lần lượt thất bại. Đất nước như không có đường ra. Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với tên anh Ba ra đi tìm đường cứu nước. Sau 10 năm (1911-1920) bôn ba khắp các châu lục vừa nghiên cứu lý luận, vừa nghiên cứu thực tiễn cách mạng trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức”. Tiếp đến Người phải qua 10 năm chuẩn bị trên cả ba phương diện: tư tưởng lý luận, đường lối chính trị, tổ chức cán bộ để đưa tói sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Nói về vai trò của Đảng Cộng sản và lý luận, trong tác phẩm Đường Kách mệnh xuất bản năm 1927, Nguyễn Ái Quốc trích câu nói nổi tiếng của Lênin trong tác phẩm “Làm gì?” và Người đặt câu hỏi: "Cách mệnh, trước hết phải có cái gì?”. Và Người trả lời rõ ràng: “Trước hết cần có Đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu; ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Trong bài nói chuyện với lớp bồi dưỡng đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng. Vì vậy, các cô, các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác-Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thòi phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”.

Thắng lợi của Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển CNTB, là bằng chứng thực tế đầy thuyết phục chứng tỏ rằng, học thuyết của V.I. Lênin về cách mạng XHCN trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở lý luận khoa học, cơ sở thực tiễn, phản ánh chính xác những nét cơ bản của thực tiễn lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và cả hiện nay. Những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, mang tính bước ngoặt, đặc biệt là những thành tựu của hơn 30 năm đổi mới mà Việt Nam đã đạt được, một phần rất quan trọng là do Đảng, Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin trong thới kỳ quá độ lên CNXH. Với NEP, V.I.Lênin đã khẳng định rằng, đi lên CNXH không phải là xóa bỏ kinh tế thị trường, mà phải sử dụng kinh tế thị trường; nhưng không phải là thị trường tự do cạnh tranh TBCN, mà có sự điều tiết của nhà nước; không phải là nền kinh tế của một thành phần kinh tế độc tôn, mà là nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu V.V.. Sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, cụ thể là NEP của Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam được thể hiện đặc biệt rõ nét trong quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Hiện nay chúng ta đã và đang thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế: chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình., độc lập dân tộc, phát triển bình đẳng, tiến bộ của các quốc gia dân tộc, nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Xét về bản chất đó chính là sự vận dụng sáng tạo của Đảng, Nhà nước ta quan điểm của V.I. Lênin về “cùng tồn tại hòa bình” giữa các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, vào bối cảnh trong nước và quốc tế mới hiện nay.

Như vậy, với những phân tích trên đây làm sao có thế nói rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “xa lạ”, là “không phù hợp” với Việt Nam được.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...