Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2023

NVH40 - “Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

 

“Dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng...

CỐ TÌNH XUYÊN TẠC VỚI MƯU ĐỒ XẤU

Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 

Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó.

Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20/3/2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.

Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững.

Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế...

ĐỘNG LỰC ĐỂ DÂN TIN ĐẢNG

Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

NVH40 - Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân. Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị - xã hội ở Việt Nam.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, THÂM ĐỘC

Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...

Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

MỘT VIỆT NAM VỚI QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ MỞ RỘNG

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).

Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

NHÀ BÁO VÀ CƠ QUAN BÁO CHÍ TRONG CUỘC CHIẾN ĐẨY LÙI THÔNG TIN XẤU ĐỘC, THÙ ĐỊCH

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo - với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân - phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.

Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.

Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua./.

 

NVE40-LUẬN ĐIỆU THÂM ĐỘC CỦA THIỆN Ý VỀ TỰ DO TÔN GIÁO

 

Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Trong thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội các đối tượng thiếu thiện cảm với Việt Nam đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc tự do tôn giáo, cũng như quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết “Tự do tôn giáo trên giấy và đàn áp thực khi thi hành” trên trang Voatiengviet. com là một trong số đó. Bài viết thể hiện nhận thức lệch lạc về niềm tin tôn giáo và công tác đấu tranh với các đối tượng thiếu thiện cảm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Các thế lực thù địch cho rằng “Đức tin tôn giáo hay vô thần là sự tự do lựa chọn của mỗi người, là nhu cầu tinh thần của mỗi cá nhân”.  Chúng khẳng định: “Ai cũng phải tôn trọng niềm tin của người khác, dù niềm tin ấy anh cho là phi lý, là mê tín dị đoan, là phản khoa học, anh cũng không có quyền bài bác…, như việc làm có chủ đích bao lâu nay của nhóm người Việt chống phá tôn giáo”. Luận điệu trên rất thâm độc, đòi hỏi phi lý thứ tự do tôn giáo đứng trên hết thảy, mục đích “rửa mặt” cho bọn xâm lược, tay sai, bán nước chúng cho là có “công trạng” với lịch sử dân tộc như Ngô Đình Diệm và những “tay sai” thời Pháp thuộc), đổi trắng thay đen, vu khống tất cả những ai phê bình, chỉ trích, bài bác là “đánh phá tín đồ”.

Thứ nhất, phải khẳng định, không ở đâu chấp nhận niềm tin tôn giáo trái cả đạo và đời. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, luôn có những tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Sự tác động của tôn giáo có tính lịch sử và chẳng chế độ nào cho phép tôn giáo chi phối tất cả, nhất là giáo lý, giáo luật cũng như hoạt động thực tế cản trở sự phát triển của xã hội, nhất là chống lại giai cấp cầm quyền. Trong hệ thống giáo lý, giáo luật của các tôn giáo đều quy định những nội dung phải làm và không được làm với mỗi tín đồ.

Ở Việt Nam, các tôn giáo luôn có đường hướng hành đạo cũng như các quy định cho các tín đồ tuân theo pháp luật, thực hiện tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đồng thời, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người là quan điểm, chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước. Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 xác định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”. Tuy nhiên, việc bày tỏ niềm tin tôn giáo cũng như sinh hoạt, hoạt động tôn giáo không được trái với quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo. Tại Điều 5 của Luật này cũng chỉ rõ những hành vi bị nghiêm cấm: phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”. Nếu ai vi phạm các quy định trên đều có chế tài để xử lý nghiêm minh, đồng thời bị dư luận lên án.

Thứ hai, hiểu cho đúng về công tác đấu tranh với các đối tượng thiếu thiện cảm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam. Ở nước ta, một số tổ chức tôn giáo bị các đối tượng thiếu thiện cảm lợi dụng để chống phá cách mạng Việt Nam. Vì thế, đi đôi với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người, Đảng, Nhà nước xác định phải kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, đối tượng thiếu thiện cảm, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định tôn giáo có tính lịch sử, chúng ta không phủ nhận những đóng góp xứng đáng của “những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo” trong lịch sử dân tộc nhưng cũng không được phép quên, bỏ qua những kẻ “tội đồ” vừa phá Đạo vừa phá Đời, nhất là trong tình hình hiện nay. Do đó, việc quy kết những hoạt động vạch trần, lên án, đấu tranh với âm mưu, hoạt động của những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là “chống phá tôn giáo” là hoàn toàn sai trái, phản động; và là âm mưu thâm độc của bọn “Việt gian”, “lật sử”, nhằm “rửa mặt” cho bè lũ cướp nước và bán nước mà thôi vì vậy mỗi chúng ta hết sức tỉnh táo và tham gia đấu tranh có hiệu quả xây dựng các tôn giáo Việt Nam “phúc âm dân tộc”./.

NVE40 -KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG

 

Biển, đảo là một phần máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc. Trong những năm qua, vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo luôn là lý do để một số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo

Có thể nói các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, vu khống trắng trợn rằng Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này…

Đảng, Nhà nước ta luôn giữ được chủ trương: “Giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển”. Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo và giữ vững nguyên tắc không thể bác bỏ - chủ quyền quốc gia. Chúng ta kiên trì đấu tranh trên các mặt trận, mọi cấp độ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, thẳng thắn đấu tranh kiên quyết, trao công hàm, tiếp xúc đại diện, lên tiếng phản đối Trung Quốc, yêu cầu tôn trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Đồng thời, duy trì lực lượng chuyên trách, sử dụng biện pháp đấu tranh "hòa bình" không để xảy ra xung đột vũ trang. Bên cạnh đó, thường xuyên thông tin kịp thời tình hình diễn biến đến nhân dân, quản lý chặt chẽ tình hình an ninh trật tự và làm tốt công tác định hướng tư tưởng cho nhân dân.

Ngược dòng lịch sử từ khi dựng nước và giữ nước cho đến ngày nay, đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Những cuộc chiến tranh đó đều đem đến những mất mát, tổn thất to lớn không thể bù đắp. Nhân dân ta cần hòa bình để ổn định, xây dựng và phát triển đất nước nên cần có chủ trương, đường lối đúng đắn, mọi sai lầm trong đường lối đều phải trả giá đắt, đều mang lại đau khổ cho nhân dân, nhất là khi đẩy đất nước vào chiến tranh.

Dân tộc Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình, ghét chiến tranh, chỉ khi tình thế bắt buộc mới phải đứng lên cầm súng đánh đuổi kẻ thù bảo vệ chính nghĩa, phẩm giá của dân tộc, không chịu khuất phục trước bất kỳ thế lực thù địch nào dù chúng mạnh đến đâu.Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông, nhờ đường lối đúng đắn, chúng ta vẫn bảo đảm và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này cho thấy, chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại. Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong mỗi con dân đất Việt, hãy hiện thực hóa tinh thần đó bằng việc làm cụ thể để đưa đất nước ta ngày càng phát triển, giàu mạnh, tăng cường mọi tiềm lực, sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới đấu tranh, phản bác lại các quan điểm phiến diện, siêu hình, xuyên tạc tình hình Biển Đông của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước.

Trước những luận điệu xuyên tạc hết sức phi lý của thế lực thù địch mỗi người dân yêu nước cần tỉnh táo, bình tĩnh, kiên quyết, kiên trì, nhận thức rõ luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch để có nhận thức đầy đủ, quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NVE40 - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

 

            Chiến thắng 30/4 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam, thế nhưng một số thành phần không hiểu hết giá trị và ý nghĩa ngày giải phống Miền Nam thống nhất đất nước mà chúng tỏ thái độ, ra sức xuyên tạc với nhan đề “Trận đánh cuối cùng, Sài Gòn thất thủ”. Bằng cách nhào nặn, bóp méo các sự kiện lịch sử chúng đã xuyên tạc bản chất cuộc kháng chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhằm phủ nhận lịch sử, chà đạp lên những giá trị của hòa bình mà bao thế hệ người Việt Nam đã đánh đổi cả máu xương mới có được. Nhưng sự thật lịch sử luôn rõ ràng và chỉ có một, không thế lực nào có thể xuyên tạc, bởi.

            Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Theo vết xe đổ của rất nhiều phần tử chống đối, xuyên tạc lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Nam. Chúng cho rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn... Vậy sự thật như thế nào? Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm làm tay sai “tiền đồn chống Cộng” cho Mỹ. Mặt khác, tìm cách can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh bằng tất cả sức mạnh của chúng, huy động mọi lực lượng có thể huy động được, phát huy đến mức tối đa sức mạnh của lục quân, không quân và hải quân, sử dung những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, tiêu phí số tiền khổng lồ hơn cả chi phí trong Chiến tranh thế giới thứ 2; thực hành những chiến lược phản cách mạng hiểm độc nhất. Nhân dân Việt Nam, dư luận thế giới trong đó có cả người dân Mỹ đều lên án đó là cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Ngay cả Robert S.McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam không chỉ thừa nhận thất bại, coi đó là “một thảm kịch” mà còn coi đây là cuộc chiến tranh xâm lược do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống.

            Miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam. Đó là máu thịt của Việt Nam, chân lý đó không bao giờ thay đổi. Nhân dân Việt Nam đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là chống lại tên đế quốc hùng mạnh và tàn bạo nhất, chống lại một thế lực xâm lược điển hình nhất của chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ “chân lý đó”. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ, nó thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước, ý chí thống nhất, khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam. Chỉ có nhân dân Việt Nam với quyết tâm chống kẻ thù xâm lược giành độc lập, thống nhất nước nhà. Do vậy, đây không phải là cuộc chiến “cốt nhục tương tàn”, đó chỉ là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử nhằm bào chữa tội ác cho đế quốc xâm lược của các thế lực thù địch.

            Không dừng lại ở đó, chúng tiếp tục biện hộ cho cuộc chiến xâm lược của đế quốc Mỹ bằng những biện minh vụng về, kệch cỡm như “Sài Gòn thất thủ” và coi đó là những “ngày cuối tháng tư đen 1975”. Nhưng sự thật lịch sử đã phủ nhận tất cả. Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Về mặt lực lượng, quân ta vẫn chiếm ưu thế áp đảo. Nhưng Đảng ta chủ trương phải đánh bằng cách nào có hiệu lực nhất, để vừa phát huy hết sức mạnh của tất cả lực lượng, giành thắng lợi nhanh nhất, vừa giảm thiểu được sự tàn phá của chiến tranh ma vẫn giữ được Sài Gòn hầu như nguyên vẹn. Vì vậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng cách đánh hết sức linh hoạt, sáng tạo. Với cách đánh như vậy, quân ta hoàn toàn tập trung được sức mạnh để đánh vào các mục tiêu chủ yếu đã lựa chọn kết hợp với tiêu diệt địch ở vòng ngoài không cho địch trong ngoài ứng cứu làm giảm bước tiến quân của ta đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về người và của cho nhân dân. Đúng 11h30’ ngày 30/4/1975, lá cờ của Quân giải phóng đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã thắng lợi vẻ vang. Quân cách mạng đã vào Sài Gòn trong niềm vui chào đón của nhân dân, với những giọt nước mắt xúc động, hạnh phúc của hòa bình, độc lập của niềm vui chiến thắng, cách mạng đã giữ được thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn chứ không hề có viễn cảnh “núi xương sông máu của thành phố Sài Gòn” hay “Sài Gòn thất thủ”. Đó là một thành công to lớn mà cả thế giới thấy kinh ngạc. Và, chính nhà báo phương Tây Tizano Terzani đã khẳng định: “Những câu chuyện và những đồn đại về các cuộc tàn sát, “thảm sát đẫm máu” là do cơ quan tuyên truyền của Mỹ và Thiệu nghĩ ra và tuyên truyền để làm mất uy tín của đối phương, để củng cố tinh thần kháng cự trong người dân và trong Quân đội chính quyền Sài Gòn”. Đây là những luận chứng đanh thép đập tan những luận điệu xuyên tạc trắng trợn, phi lich sử của Trọng Đại và các thế lực thù địch, phản động ở trong và ngoài nước vẫn rêu rao.

            Có thể nói sự dối trá, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử của của các thế lực thù địch không chỉ là hành động vô ơn với tiền nhân, với những người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn trực tiếp phá hoại tương lai của dân tộc. Điều đó cũng không thể làm thay đổi được sự thật chính nghĩa và chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại, những phần tử này cần phải đấu tranh và loại bỏ./.

 

NVE40- CẢNH BÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU THÀNH NGỮ “ĐẾ QUỐC SÀI LANG”

 Có thể nói trước công cuộc phát triển mới của đất nước, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố nhưng bên cạnh đó các thế lực thù địch thường xuyên có những luận điệu chống phá hết sức thâm độc cụ thể mới đây, trên trang mạng xã hội xuất hiện Thành ngữ “Đế quốc sài lang” của các thế lực thù địch, chúng xuyên tạc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “kéo cả dân tộc vào cuộc sống trì trệ, lạc hậu, đói nghèo”. Đây là một luận điệu hết sức phản động, cho thấy dã tâm quyết chống phá Đảng, Nhà nước ta, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của các thế lực thù địch. Song, luận điệu phản động của chúng bị lịch sử và thực tiễn sống động ở Việt Nam hiện nay bác bỏ, bởi lẽ:

Thứ nhất, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, phù hợp với quy luật của lịch sử.

Suốt thời gian dài bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược, nhân dân ta đã thấy rõ bản chất áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo của chủ nghĩa tư bản. Nhiều lực lượng trong xã hội đã đứng lên làm cách mạng nhưng đều bị thất bại; chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam mới chấm dứt sự bế tắc về đường lối cách mạng. Theo đó, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do đó, đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu khách quan, là khát vọng của nhân dân ta, là mục tiêu xuyên suốt đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng; nhờ đó toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã lập nên bao kỳ tích, giành quyền độc lập cho dân tộc, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Tiếp đến là một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu đánh dấu mộc kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến trường kỳ 9 năm chống lại đội quân viễn chinh của đế quốc Pháp với sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ. Và, sau đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất non sông, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo tiền đề quan trọng để nước ta đổi mới và phát triển toàn diện trên tất các lĩnh vực, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ hai, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước là minh chứng sinh động về tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, sau hơn 35 năm đổi mới, đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình, quy mô nền kinh tế ước đạt trên 400 tỷ đô la đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, nằm trong số 40 quốc gia có quy mô GDP lớn nhất thế giới. Đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người đạt 4.110 đô la (năm 2022). Đặc biệt, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi mạnh mẽ với tăng trưởng GDP khoảng 8, 02%, trong khi kinh tế thế giới bị giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 và tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine. Tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Việt Nam tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 2,75% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam thuộc Nhóm Phát triển con người cao từ năm 2019. Nhiều chỉ số về giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực, như: tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, sau Singapore); tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN…. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được đã chứng minh rằng: phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Đây chính là tiền đề quan trọng, tạo ra tiềm lực, sức mạnh, niềm tin vào vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Vì vậy trước những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, mọi người cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ. Đồng thời, chúng ta luôn vững tin vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

NVD40 - Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc về Dự thảo Luật Đất đai

 

            Thời gian vừa qua, lợi dụng vấn đề toàn dân đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các trang mạng phản động như BBC, RFA có những bài viết đưa ra các quan điểm chống phá, phủ nhận giá trị của việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và coi Dự thảo Luật Đất đai là bước lùi, gây hậu quả lớn cho người dân và xã hội nếu trở thành Luật. Chúng cho rằng đây là cách để tạo điều kiện cho “Chính quyền cướp đất của dân”, “là vi phạm nhân quyền”. Cũng giống như mọi khi, trước những dự thảo luật, những chính sách mới của Nhà nước luôn là chủ đề để các thế lực thù địch nhắm vào chống phá, kích động quần chúng nhân dân bằng luận điệu xuyên tạc, đánh tráo khái niệm, nêu ra vấn đề không đúng bản chất, hòng dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực.

            Thực tế chúng ta có thể thấy, quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một Nhà nước của dân, do dân, vì dân; chế độ đất đai sở hữu toàn dân lần đầu được quy định trong Hiến pháp năm 1980. Đến nay, qua một số lần sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật Đất đai, Đảng, Nhà nước luôn kiên định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện cho toàn dân là chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Chế độ sửa hữu toàn dân về đất đai hoàn toàn phù hợp, thể hiện tính ưu việt đóng góp quan trọng duy trì sự ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của quần chúng nhân dân và đặc điểm lịch sử, tự nhiên của nước ta.

            Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan đã trao cho người sử dụng đất khá nhiều quyền: Sử dụng (theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn... Về cơ bản, người sử dụng đất ở Việt Nam đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của quyền chủ sở hữu mà người sử dụng đất không có là: Không được tùy ý chuyển mục đích sử dụng đất; hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng. So sánh với luật đất đai của một số nước duy trì tư hữu về đất đai, quyền của người sử dụng đất của Việt Nam cũng không có chênh lệch đáng kể. Như vậy, không có sự khác biệt lớn về phương diện tạo quyền tự chủ cho người sản xuất, kinh doanh sử dụng đất hiệu quả giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta và chế độ tư hữu đất đai ở một số nước.

            Bên cạnh đó, những sai phạm về quản lý đất đai đều được Đảng, Nhà nước kịp thời xử lý nghiêm minh. Vì thế, mỗi người dân cần tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội; hòng kích động, gây bất ổn môi trường CT-XH của nước ta; cùng với đó cần phát huy dân chủ, tích cực đóng góp dự thảo Luật, góp phần xây dựng hệ thống luật đảm bảo chặt chẽ, góp phần xây dựng Đất nước ngày càng giàu mạnh.

NVC40 - PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, Đảng ta và Nhà nước ta đã kiên quyết xử lý và bước đầu có kết quả nhất định được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lại tỏ ra hằn học, tung ra các luận điệu sai trái hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Chúng cho rằng, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa” và nguyên nhân của tham nhũng bắt nguồn từ yếu tố “Đảng cầm quyền”. Vì vậy, “Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công được”. Chúng suy diễn rằng “việc xử lý các vụ tham nhũng vừa qua vẫn là “giơ cao đánh khẽ”, thực chất đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là trò “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái” lẫn nhau”. Ngoài ra, trên các trang blog Việt Nam Thời Báo, đối tượng Nguyễn Nam tán phát bài “Chuyện củi lò hiện nay phần lớn là để an dân”; trên trang Việt Tân, đối tượng Ngọc Thu tán phát bài “Ngăn chặn tình trạng phạm tội của giới quan chức vô phương trong chế độ độc đảng”, nội dung xuyên tạc phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta; vu cáo Đảng “bao che” cho tội phạm tham nhũng,...

 Đây là những luận điệu hết sức thâm độc nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước; giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, yếu kém về chính trị tư tưởng. Không những thế, chúng còn ngụy biện rằng, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ “độc đảng” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Do đó, chúng ta cần hết sức tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kịp thời đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, lệch lạc.

Trước hết, trong thời gian qua chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đó không chỉ nâng cao chất lượng tổ chức đảng, đảng viên mà còn góp phần rất quan trọng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Do đó, việc thế lực thù địch khẳng định tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam là trái với thực tế, xuyên tạc bản chất ưu việt của chế độ ta. Tuy nhiên, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta; tham nhũng tồn tại ở tất cả các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội khác nhau mà không dễ gì để xóa bỏ nó tận gốc. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chúng ta phải tiến công một cách kiên trì, kiên quyết, thường xuyên, liên tục, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Trong luận điệu chúng cho rằng “công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam là “giơ cao, đánh khẽ”, “thanh trừng bè phái trong nội bộ” là rất phản động, cố tình xuyên tạc nhằm phủ nhận năng lực lãnh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trên thực tế, Đảng ta đã xử lý rất công minh, chính xác, kịp thời đúng người, đúng tội những cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ thuộc diện Trung ương, Bộ Chính trị quản lý nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ xứng đáng với niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chứ không phải như những luận điệu các thế lực thù địch xuyên tạc.

Để tiếp tục phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc thành tựu phòng, chống tham nhũng tiêu cực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; nhất là, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Do đó, phải tiến hành đồng bộ, với phương châm “nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng” , “dọc ngang thông suốt”, tránh “trên nóng, dưới lạnh”, “đầu voi, đuôi chuột”, “đánh trống bỏ dùi”,… làm cho dân tin vào Đảng và mỗi đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Vì vậy, mỗi quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam cần có lập trường tư tưởng vững vàng và hiểu rõ về bản chất về mục đích của công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta, để nhận diện một cách chính xác nhất. Đồng thời, đưa ra các luận điểm, luận cứ nhằm phản bác lại các luận điệu sai trái, lệch lạc của các thế lực thù địch, phản động./.

NVC40 - Thực chất mục đích của chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” là gì ?

 

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá đối với Việt Nam, “thì chiêu bài” dân chủ, nhân quyền luôn là những vấn đề mang tính chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng chống phá, xuyên tạc nhằm gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự xã hội và tiến tới âm mưu xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vậy thực chất nền “Dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà nước ta xây dựng khác như thế nào với “dân chủ tư sản” mà bọn chúng đang cổ suýt ?

Trong quá trình lịch sử của tư tưởng dân chủ, C.Mác là người đầu tiên đánh dấu bước phát triển mới có tính cách mạng trong nhận thức về dân chủ. Năm 1985, khi nghiên cứu về Nhà nước Phổ, C.Mác đã viết dân chủ theo tiếng Đức là chính quyền của nhân dân. Ông nhấn mạnh rằng: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa. Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy; không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”[1]

Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” V.I.Lênin cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước”[2] và ông cũng khẳng định chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ hơn “gấp triệu lần” bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử.

Tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại về dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân,…”[3]

Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những tư tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”[4]

Do đó bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện là chế độ do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của Nhà nước và của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện bằng Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, chính sách và được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện và cơ chế bảo đảm cho nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội và những công việc trọng đại của nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền lực gắn liền với trách nhiệm và nghĩa vụ.

Về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa khác biệt về “chất” so với dân chủ tư sản – đó là nền dân chủ của đông đảo nhân dân trong xã hội, quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện, trước hết và chủ yếu thông qua nhà nước của mình.

Đối với dân chủ tư sản chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số giai cấp tư sản nắm quyền lực về kinh tế và chính trị trong xã hội tư sản. Do dó nền dân chủ tư sản không phục vụ cho công nhân và nhân dân lao động, trái lại các thiết chế dân chủ tư sản lập ra chủ yếu nhằm phục vụ lợi ích và quyền lực cho giai cấp tư sản, bóc lột và áp bức giai cấp vô sản- số đông trong xã hội.

Do đó thật nực cười cho những kẻ quay lưng lại với quê hương, Tổ quốc khởi xướng, kêu gọi người dân trong nước và ngoài nước tham gia “chiến dịch tranh đấu cho tự do – dân chủ – nhân quyền” với mục đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước không có “dân chủ”, người dân không có “nhân quyền”. Nên nhớ rằng đối với bọn chúng, "đấu tranh dân chủ" không phải là mục đích mà là chiêu bài, là nghề kiếm sống, là hưởng lợi từ tiền hỗ trợ của các hội đoàn chống cộng ở hải ngoại như tổ chức khủng bố "Việt tân".

.

 




NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...