Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2024

NVH40 - Luận điệu xuyên tạc trắng trợn

 

Từ ngày 7 đến 12-4, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc theo lời mời của Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc Triệu Lạc Tế. Lợi dụng sự kiện ngoại giao này, các đối tượng xấu đã tập trung xuyên tạc, tung ra nhiều luận điệu xấu, độc nhằm kích động sự bất ổn, gây hoang mang dư luận.

Công kích chính sách đối ngoại của Việt Nam lâu nay vẫn là thủ đoạn được các đối tượng xấu tích cực thực hiện. Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, lợi dụng những mặt, những vấn đề còn bất đồng, các đối tượng xấu liên tục chọc ngoáy, kích động sự đối lập, thù hằn. Xung quanh chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Đoàn đại biểu cấp cao đến Trung Quốc, những luận điệu độc hại tiếp tục được các đối tượng xấu như Việt Tân, Chân trời mới Media, Tiếng dân News, RFA tiếng Việt… rêu rao. Bằng việc đưa ra các câu hỏi lập lờ theo kiểu “thấy gì qua chuyến thăm Trung Quốc?”, “thăm Trung Quốc làm gì mà ở đó một tuần?”, chúng đã hướng lái, dẫn dắt dư luận theo những suy nghĩ lệch lạc, không đúng thực tế. Chúng cho rằng, việc đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm Trung Quốc là “đi chầu thiên triều”, “tỏ lòng thuần phục”. Chúng tung ra thuyết âm mưu rằng “chính trường Việt Nam đang bất ổn, sắp xảy ra khủng hoảng trầm trọng nên phải đi Trung Quốc để xin ý kiến chỉ thị”(?!). Với những luận điệu sai trái này, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã cố tình gán ghép, quy chụp rằng Việt Nam lệ thuộc, phụ thuộc vào Trung Quốc - một luận điệu hết sức độc hại, đánh thẳng vào lòng tự tôn dân tộc.

Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nền độc lập của Việt Nam là nền “độc lập thực sự”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là nền độc lập “có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng”, “không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự độc lập hoàn toàn, tuyệt đối, trên tất cả lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao đến quốc phòng, an ninh... Không chỉ trong mối quan hệ với Trung Quốc mà trong tất cả mối quan hệ với bạn bè thế giới, Việt Nam đều giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Hơn ai hết, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự cay đắng, tủi nhục của một quốc gia không có độc lập, chủ quyền. Từ chính thực tiễn lịch sử cách mạng nước nhà, chúng ta nhận thức sâu sắc: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Chính vì vậy, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng kiên định nguyên tắc giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Những luận điệu cho rằng Việt Nam phụ thuộc, thuần phục vào Trung Quốc hay nước này, nước kia là hoàn toàn phi lý, vô căn cứ, mang tính chất xuyên tạc vô cùng trắng trợn.

Thực tế, việc các đoàn cấp cao của Việt Nam đi công tác, thăm và làm việc tại các nước đối tác là điều hoàn toàn bình thường. Từ đầu năm đến nay, nhiều đoàn công tác do các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi nước ngoài đã kết thúc tốt đẹp. Trong đó có thể kể đến như: đoàn công tác do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu dự WEF Davos 2024, thăm chính thức Hungary và Romania (từ ngày 15 đến 19-1); đoàn công tác của Thủ tướng đến thăm chính thức Austraulia (từ ngày 7 đến 9-3); đoàn công tác do Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai dẫn đầu thăm và làm việc tại Nhật Bản (từ ngày 31-3 đến 3-4)… Ngược lại, nhiều lãnh đạo các nước đã đến thăm và làm việc tại Việt Nam như: Đoàn công tác của Chủ tịch Quốc hội Bulgaria (từ ngày 5 đến 9-1), đoàn công tác của Thủ tướng Lào (từ ngày 6 đến 7-1), đoàn công tác của Thủ tướng Cộng hòa Séc (từ ngày 20 đến 22-4)… Việc đoàn cấp cao của các nước đến Việt Nam và của Việt Nam đi nước ngoài đã góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ đối tác giữa các bên, thúc đẩy sự hợp tác ngày càng sâu sắc, toàn diện, mang lại lợi ích cho đất nước.

Trong chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến Trung Quốc, nhiều nội dung quan trọng đã được các bên trao đổi. Ngoài việc tiếp xúc, làm việc, hội đàm với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nhân Đại Trung Quốc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và đoàn đại biểu còn tiến hành nhiều hoạt động như: thăm, gặp bà con kiều bào; tiếp, thăm các tập đoàn lớn của Trung Quốc… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình nhấn mạnh: Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, luôn mong muốn và sẵn sàng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, thực chất. Đây là những nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục phát huy mối quan hệ láng giềng “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Nói về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Thời gian qua, các hoạt động ngoại giao song phương và đa phương của nước ta diễn ra hết sức sôi động và hiệu quả. Nối tiếp những kết quả đã đạt được những năm trước, năm 2024, công tác đối ngoại tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta triển khai đồng bộ trên tất cả trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, ngoại giao nghị viện. Đây là minh chứng khẳng định thực lực của Việt Nam được bạn bè quốc tế coi trọng; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những kẻ đang xuyên tạc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước suy cho cùng cũng chỉ là những kẻ tiểu nhân, hẹp hòi, chống phá đất nước, cần phải lên án, đấu tranh, phản bác.

 

NVH40 - Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

 

Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ...

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.

Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng.

Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”.

Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ.

Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Lợi dụng chính các hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng chống phá công tác cán bộ của Đảng.

Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm,những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng lại càng được lợi dụng triệt để.

Trên thực tế, trong công tác cán bộ thời gian vừa qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Những sai phạm trong thực hiện quy trình cán bộ liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… vẫn còn xảy ra một số cơ quan, đơn vị gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Những hạn chế này có nguyên nhân là bởi một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm…

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhận thức và năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu kém và trong nhiều trường hợp còn chịu sự chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dẫn đến sai sót trong việc thực hiện các quy trình của công tác cán bộ.

Đặc biệt, đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm bị xử lý, kỷ luật là do chính họ không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tổn hại đến lợi ích của đất nước, nhân dân. Đó tuyệt đối không phải là sai lầm của chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ… như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền.

Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn…

Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ…

Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”.

Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị - xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

 

NVG40 - BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những ý kiến của thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, chỉ có kinh tế thị trường (KTTT) tư bản chủ nghĩa (TBCN) mới bảo đảm công bằng xã hội, còn với chủ nghĩa xã hội (CNXH) chỉ có sự “bình quân, cào bằng” và “bất công xã hội”. Từ đó, họ ra sức phủ nhận nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Đây là luận điệu xuyên tạc sai trái cần đấu tranh bác bỏ.

Nhận rõ bản chất “công bằng xã hội” trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.

Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư sản.

Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.

Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản, giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân, những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần, cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất bóc lột, bất công của CNTB.

Bản chất của các nền chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”. Xét đến cùng, những bất công trong xã hội tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức sản xuất và chế độ chính trị TBCN.

Công bằng xã hội ở Việt Nam là “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã có sự phát triển lý luận về mô hình phát triển KTTT định hướng XHCN để hướng tới mục tiêu của CNXH, trong đó có bảo đảm công bằng xã hội. Đảng ta khẳng định, thực hiện công bằng xã hội không chỉ dừng lại ở mục tiêu hướng đến mà còn trở thành động lực, tức là thành tố nội tại của phát triển kinh tế, để mỗi bước phát triển kinh tế là một bước thực hiện công bằng xã hội. Đó là nét đặc sắc, ưu việt của chế độ kinh tế mà nước ta đang xây dựng.

Sở dĩ phải định hướng XHCN trong nền KTTT, bởi KTTT chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giới hạn của các quy luật thị trường, thực hiện phân chia lợi nhuận dựa trên lao động, hiệu quả kinh tế và mức góp vốn. Theo đó, người đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, đóng góp ít thì hưởng ít. Tự thân KTTT không thể giải quyết triệt để những vấn đề bất công bằng xã hội. Để khắc phục những “thất bại” của thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, “bàn tay vô hình” của KTTT tất yếu phải gắn với “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, KTTT định hướng XHCN là tất yếu để có thể phát huy mặt ưu điểm, khắc phục được mặt hạn chế của KTTT trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

Để thực hiện tốt công bằng xã hội, Đảng ta chỉ rõ điều kiện căn bản là phải bảo đảm công bằng trong phân phối. Theo đó, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Như vậy là vừa thực hiện phân phối theo quy luật KTTT, vừa thực hiện phân phối theo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn (KTTT) chính là nhằm mục đích tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, giải phóng sức sản xuất, khơi mở, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và năng lực chủ quan của mỗi con người. Đồng thời và cùng với đó, thực hiện phân phối thông qua các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội (định hướng XHCN) nhằm bảo đảm mức bình đẳng có thể cho những nhóm người dễ bị tổn thương và yếu thế trong xã hội.

Cách thức phân phối theo các nguồn lực khác thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội khắc phục được những điểm yếu cốt tử của KTTT, nắn KTTT phục vụ các mục tiêu của CNXH. Đó cũng là phương thức để vừa phát triển kinh tế mạnh mẽ, vừa “giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân” bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phòng ngừa xu hướng tự phát chệch quỹ đạo phát triển kinh tế. Có như vậy mới bảo đảm được tính thực tiễn và bền vững của chính sách phát triển kinh tế-xã hội, phát triển kinh tế và công bằng xã hội mới được thực hiện đúng nghĩa.

Hiện nay, Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia điển hình về giảm nghèo đa chiều bền vững, đầu tư hiệu quả cho phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, việc làm, xây dựng môi trường sinh thái, cải thiện an sinh xã hội, bảo đảm phúc lợi xã hội, không những làm cho kinh tế phát triển mà còn bảo đảm thực hiện tốt công bằng xã hội. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, các chỉ tiêu đều đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đề ra. Trong tổng số 26 chỉ tiêu có 5 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn; 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng từ 86USD năm 1986 lên 4.110USD năm 2022. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, như về nhà ở, đến năm 2020, Nhà nước đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Trong 3 năm phòng, chống dịch Covid-19 (2020-2022), Chính phủ và các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ với số tiền hơn 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho hơn 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn.

Liên hợp quốc cũng đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu thiên niên kỷ. Những thành tựu đạt được đã khẳng định bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là người trực tiếp được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Để bảo đảm công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Tập trung hoàn thiện quan hệ phân phối, khuyến khích làm giàu chính đáng, thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người. Bảo đảm tính thực tiễn và tính ổn định, tính bền vững, phù hợp của chính sách xã hội, tạo địa bàn và nguồn lực thuận lợi cho kinh tế phát triển.

Tựu trung lại, nhận thức về công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay cần có quan điểm khách quan, cái nhìn lịch sử, cụ thể trong đánh giá, không mắc vào cái nhìn phiến diện, méo mó, lệch lạc và các mưu đồ chính trị của các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, những người "mượn" cớ đấu tranh cho công bằng, tiến bộ xã hội nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Chỉ có trên quan điểm như vậy mới có thể so sánh, đánh giá thành tựu, khẳng định tính ưu việt trong phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay./.

 

NVG40 - CẢNH GIÁC CHIÊU TRÒ PHÁ HOẠI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO LÁNG GIỀNG CỦA VIỆT NAM

 

Những chiêu trò không mới của bọn phản động mà chúng ta thường thấy là khi các vị lãnh Đảng, Nhà nước ta sang thăm Trung Quốc thì trên trang phản động Việt tân, RFA, VOA, BBC và các thế lực thù địch lại nhảy cẩng lên bàn luận, suy diễn, xuyên tạc mối quan hệ VN -TQ, kích động người Việt Nam chống Trung Quốc, chúng khoét sâu vào vấn đề biển Đông nói chung và Hoàng Sa nói riêng rồi đổ lỗi cho CSVN nhu nhược trước việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và tổ chức các hoạt động biểu tình chống cộng, đòi chủ quyền cho Hoàng Sa...

Suy cho cùng đó là những chiêu trò vừa che đậy tội lỗi và hèn nhát mà chúng để mất Hoàng Sa năm 1974, mặt khác, chúng kích động, phá hoại thành quả ngoại giao láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc; đồng thời tạo luồng dư luận để những kẻ xấu, có tư tưởng cực đoan, khơi dậy hận thù, định kiến với Trung Quốc hòng phá hoại đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta.

Chúng ta phải có nhân thức sâu sắc rằng, lịch sử Việt Nam và Trung Quốc có thăng, trầm, biến cố hơn 4 ngàn năm nay, và dù có thế nào thì hàng tỉ năm sau Việt Nam với Trung Quốc vẫn là láng giềng, núi sát núi, sông sát sông và biển sát biển, không thể, cứ tức nhau một vấn đề gì đó là gây chiến đánh nhau "sứt đầu, mẻ trán" hay chuyển "Nhà" đi chỗ khác sống như người du mục được. Dù thế nào thì Nhân dân hai nước vẫn phải giao thương làm ăn và sinh sống. Muốn có hòa bình, ổn định thì chỉ có con đường khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, xác định trong bạn có thù và trong thù có bạn; hợp tác và đấu tranh phải luôn là tồn tại song hành trong đối ngoại.

Lịch sử, pháp lý chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên biển Đông đã rất rõ ràng, Việt Nam có đủ bằng chứng khẳng định "Quần Đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là của Việt Nam". Việt Nam cũng đã nỗ lực giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển Đông bằng giải pháp hòa bình với tâm thế ngoại giao "hòa để tiến", tiến từng bước khi có điều kiện và thời cơ để bảo toàn chủ quyền Tổ quốc bằng pháp lý chứ không phải bằng vũ lực.

Trong bối cảnh hiện nay có thể thấy, sự bất ổn của một vài khu vực trên thế giới mà điển hình ở một số quốc gia đang vướng vào chiêu trò "kích động, giật dây xung đột" dẫn đến đất nước tan hoang đã làm cho nhiều quốc gia trên thế giới đang tìm hướng thay đổi chính sách ngoại giao của mình thì chính sách đối ngoại đa phương, không lôi kéo nước này chống lại nước khác, "là bạn", là đối tác" với tất cả các quốc gia của Việt Nam lại trở thành điểm sáng về đối ngoại. Quan hệ hòa hiếu với láng giềng vừa là kế sách giữ nước đỉnh cao, đồng thời, vừa ổn định, phát triển đất nước và sâu xa hơn là xây dựng một nước Việt Nam thân thiện, mến yêu trong lòng bạn bè quốc tế.

Thế nên, Người dân cần cảnh giác trước những chiêu trò phá hoại chính sách ngoại giao láng giềng hiện nay của Việt Nam. Người Việt Nam yêu nước thật sự phải luôn tin vào chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đất nước có hùng cường thì kẻ thù mới lùi bước, mỗi khi trong nước bất ổn, nghèo đói thì ngoại bang thường chớp thời cơ xâm lược nước ta. Bài học lớn cầm cảnh giác!

 


NVE40- ĐỪNG ĐÁNH LÁI DƯ LUẬN

 

Vừa qua trên trang BBC News Tiếng Việt có đăng bài viết “Xung đột với Philippines, Trung Quốc thiết lập đường dây nóng với hải quân Việt Nam”, đồng thời đăng bức ảnh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc, thượng tướng Đổng Quân bắt tay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đại tướng Phan Văn Giang.

Đây là một trong những chiêu trò đánh lái dư luận vô cùng thâm độc của BBC News Tiếng Việt.

Thực chất hình ảnh trên là chương trình giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 8. Việc tổ chức giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 8 góp phần cụ thể hóa Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Càng ý nghĩa hơn khi Giao lưu lần này được tổ chức vào dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc (2014 - 2024), qua đó tăng cường tin cậy chính trị, thắt chặt tình đoàn kết, thúc đẩy hợp tác giữa quân đội cũng như lực lượng bảo vệ biên giới, chính quyền địa phương và nhân dân ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Thế nên không có chuyện “Xung đột với Philippines, Trung Quốc thiết lập đường dây nóng với hải quân Việt Nam” nào ở đây cả.

Về phía Việt Nam, Bộ Quốc phòng Việt Nam nhất quán quan điểm: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Đây là một tư duy, quan niệm mới về đối ngoại quốc phòng Việt Nam dựa trên cơ sở cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế của đất nước ta đã có được, lớn mạnh không ngừng trong công cuộc đổi mới vừa qua, cũng như thực lực ở hiện tại và những dự báo về sức mạnh Việt Nam sẽ tăng lên ở tương lai. Mục tiêu hướng đến của Việt Nam là: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; ngăn ngừa chiến tranh, xung đột; bảo vệ môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước bền vững; nâng cao tiềm lực, vị thế, vai trò của quốc gia và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế./.

 

NVE40- VIỆT NAM KHÔNG CẦN CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với luận điểm “ở Việt Nam không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ”. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải có “đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định đây là luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm hướng tới mục đích hàng đầu là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là mưu đồ hết sức thâm độc, nguy hiểm, trắng trợn của chúng. Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đó là sự thật hiển nhiên, được nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế thừa nhận. Vậy mà, đâu đó vẫn tồn tại những luận điệu lạc lõng, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo hướng đa nguyên, đa đảng. Điển hình như bài viết “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên bước vào tuổi 42” của các thế lực thù địch được tán phát rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động. Với góc nhìn thiển cận và có phần lú lẫn chúng lớn tiếng kêu gọi tranh đấu vì một tương lai khác cho đất nước, để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên. Đây là luận điệu phản khoa học, cổ súy cho việc thực hiện chế độ đa nguyên ở Việt Nam, muốn hướng lái con đường phát triển của đất nước và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta cần khẳng định thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với mở rộng dân chủ, không bảo đảm được sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Hiện nay có nhiều luồng ý kiến khác nhau, cho rằng thực hiện đa nguyên, đa đảng sẽ tạo nên “sự cạnh tranh” bình đẳng giữa các đảng phái, từ đó mở rộng được quyền dân chủ, quyền tham gia vào các hoạt động chính trị của người dân. Mô hình này tốt hơn nhiều so với “độc đảng”. Nhưng hiện thực thế giới lại chứng minh một điều ngược lại. Chế độ đa nguyên, đa đảng ở các quốc gia tư bản chỉ là vỏ bọc để thực hiện nhất nguyên, nhất đảng - đảng của giai cấp tư sản. Ngay như ở Mỹ, dù đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa nắm quyền thì đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi thiểu số cho giai cấp tư sản và những người có tiền trong xã hội. Dân chủ không thực sự có đối với người dân, đặc biệt là người da màu. Một nước Mỹ được coi là thiên đường dân chủ, một hình mẫu đa nguyên đa đảng, nhưng dân nghèo vẫn không có quyền bình đẳng, người da màu vẫn bị đối xử bất công. Đói nghèo, bệnh tật, thất học, sống vô gia cư… luôn là nỗi lo thường trực của người dân Mỹ. Còn việc tham gia vào các hoạt động chính trị cũng khá xa vời. Các đời tổng thống Mỹ đều được quyết định bởi các phiếu “đại cử tri” chứ không phải những phiếu phổ thông của người dân - mặc dù họ vẫn được đi bầu cử. Tiếng nói của người dân đòi hỏi về an sinh xã hội chỉ được đáp ứng một phần, nếu như nó có tác dụng gây thanh thế cho đảng phái hay một chính trị gia nào đó đang tranh cử. Nhìn vào nước Mỹ và nhiều nước tư bản khác để chúng ta nhận định rõ bản chất thật sự của đa nguyên, đa đảng. Chế độ đó không phải là “màu hồng”, không phải là sự lựa chọn đúng đắn. Nó mang đến nhiều hệ lụy mà người gánh chịu trực tiếp là số đông dân nghèo trong xã hội.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã phủ nhận chế độ đa nguyên, đa đảng. Không phải ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố giành độc quyền lãnh đạo. Việt Nam cũng từng tồn tại nhiều đảng phái, theo những hệ tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, đứng trước vận mệnh dân tộc, những đòi hỏi của phong trào đấu tranh cách mạng, các đảng phái khác đã tỏ rõ sự yếu kém, từng bước thui chột, từ bỏ quyền lãnh đạo, thậm chí còn quay sang phản bội nhân dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc đã tạo nên “màng lọc” khắt khe, để rồi có một sự lựa chọn duy nhất đúng đắn về lực lượng lãnh đạo - đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự vĩ đại của Đảng được thể hiện rõ nét trong những “khúc quanh” của lịch sử. Đảng không kiên quyết, chủ động, sáng tạo chớp thời cơ thì sao có Cách mạng tháng Tám, giải thoát ách nô lệ hàng trăm năm cho dân tộc. Đảng không nêu cao quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thì sao có ngày thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Đảng không tìm tòi, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì sao có công cuộc đổi mới, để Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc tế chưa từng có như ngày hôm nay. Đa nguyên, đa đảng vẫn tồn tại trên khắp thế giới, nhưng nó không phải sự lựa chọn của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam tin tưởng vào sự lựa chọn của mình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đó không luận điệu xảo trá nào có thể xuyên tạc được.

Vì vậy trước luận điệu xuyên tạc Tập Hợp Dân Chủ Đa chúng ta không cần quá bận tâm đến những hoạt động vô bổ của tập hợp chính trị này. Những quan tâm “lo ngại” của họ về chế độ nhất nguyên “độc đảng” ở Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, không thể che mờ được hiện thực tươi sáng của đất nước. Lịch sử cách mạng nước ta vẫn vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cuốn trôi những luận điệu ấy./.

 

NVE40- ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGOẠI GIAO VIỆT NAM-TRUNG QUỐC

 

Công kích chính sách đối ngoại của Việt Nam lâu nay vẫn là thủ đoạn được các đối tượng xấu tích cực thực hiện. Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, lợi dụng những mặt, những vấn đề còn bất đồng, các đối tượng xấu liên tục chọc ngoáy, kích động sự đối lập, thù hằn. Xung quanh chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Đoàn đại biểu cấp cao đến Trung Quốc, những luận điệu độc hại tiếp tục được các đối tượng xấu như Việt Tân, Chân trời mới Media, Tiếng dân News, RFA tiếng Việt… rêu rao. Bằng việc đưa ra các câu hỏi lập lờ theo kiểu “thấy gì qua chuyến thăm Trung Quốc?”, “thăm Trung Quốc làm gì mà ở đó một tuần?”, chúng đã hướng lái, dẫn dắt dư luận theo những suy nghĩ lệch lạc, không đúng thực tế. Chúng cho rằng, việc đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm Trung Quốc là “đi chầu thiên triều”, “tỏ lòng thuần phục”. Chúng tung ra thuyết âm mưu rằng “chính trường Việt Nam đang bất ổn, sắp xảy ra khủng hoảng trầm trọng nên phải đi Trung Quốc để xin ý kiến chỉ thị”(?!). Với những luận điệu sai trái này, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã cố tình gán ghép, quy chụp rằng Việt Nam lệ thuộc, phụ thuộc vào Trung Quốc - một luận điệu hết sức độc hại, đánh thẳng vào lòng tự tôn dân tộc.

Chúng ta có thể khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nền độc lập của Việt Nam là nền “độc lập thực sự”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đó là nền độc lập “có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng”, “không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự độc lập hoàn toàn, tuyệt đối, trên tất cả lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao đến quốc phòng, an ninh... Không chỉ trong mối quan hệ với Trung Quốc mà trong tất cả mối quan hệ với bạn bè thế giới, Việt Nam đều giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Hơn ai hết, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự cay đắng, tủi nhục của một quốc gia không có độc lập, chủ quyền. Từ chính thực tiễn lịch sử cách mạng nước nhà, chúng ta nhận thức sâu sắc: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Chính vì vậy, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cũng kiên định nguyên tắc giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Những luận điệu cho rằng Việt Nam phụ thuộc, thuần phục vào Trung Quốc hay nước này, nước kia là hoàn toàn phi lý, vô căn cứ, mang tính chất xuyên tạc vô cùng trắng trợn.

Thực tế, việc các đoàn cấp cao của Việt Nam đi công tác, thăm và làm việc tại các nước đối tác là điều hoàn toàn bình thường. Từ đầu năm đến nay, nhiều đoàn công tác do các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi nước ngoài đã kết thúc tốt đẹp. Trong đó có thể kể đến như: đoàn công tác do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu dự WEF Davos 2024, thăm chính thức Hungary và Romania (từ ngày 15 đến 19-1); đoàn công tác của Thủ tướng đến thăm chính thức Austraulia (từ ngày 7 đến 9-3); đoàn công tác do Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai dẫn đầu thăm và làm việc tại Nhật Bản (từ ngày 31-3 đến 3-4)… Ngược lại, nhiều lãnh đạo các nước đã đến thăm và làm việc tại Việt Nam như: Đoàn công tác của Chủ tịch Quốc hội Bulgaria (từ ngày 5 đến 9-1), đoàn công tác của Thủ tướng Lào (từ ngày 6 đến 7-1), đoàn công tác của Thủ tướng Cộng hòa Séc (từ ngày 20 đến 22-4)… Việc đoàn cấp cao của các nước đến Việt Nam và của Việt Nam đi nước ngoài đã góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ đối tác giữa các bên, thúc đẩy sự hợp tác ngày càng sâu sắc, toàn diện, mang lại lợi ích cho đất nước.

Trong chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến Trung Quốc, nhiều nội dung quan trọng đã được các bên trao đổi. Ngoài việc tiếp xúc, làm việc, hội đàm với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nhân Đại Trung Quốc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và đoàn đại biểu còn tiến hành nhiều hoạt động như: thăm, gặp bà con kiều bào; tiếp, thăm các tập đoàn lớn của Trung Quốc… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình nhấn mạnh: Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, luôn mong muốn và sẵn sàng thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, thực chất. Đây là những nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục phát huy mối quan hệ láng giềng “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.

Nói về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Thời gian qua, các hoạt động ngoại giao song phương và đa phương của nước ta diễn ra hết sức sôi động và hiệu quả. Nối tiếp những kết quả đã đạt được những năm trước, năm 2024, công tác đối ngoại tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta triển khai đồng bộ trên tất cả trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, ngoại giao nghị viện. Đây là minh chứng khẳng định thực lực của Việt Nam được bạn bè quốc tế coi trọng; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những kẻ đang xuyên tạc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước suy cho cùng cũng chỉ là những kẻ tiểu nhân, hẹp hòi, chống phá đất nước, cần phải lên án, đấu tranh, phản bác./.

 

NVE40-LẬT TẨY CHIÊU TRÒ CỔ XÚY “TAM QUYỀN PHÂN LẬP”

 

Thuyết tam quyền phân lập là học thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước tư sản do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập dựa trên quan điểm cho rằng phải hạn chế sự độc quyền bằng việc không tập trung quá nhiều quyền lực nhà nước vào tay một cơ quan nhất định, bằng sự kiểm soát và khống chế lẫn nhau giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau. Mới đây trên nhiều trang mạng xã hội đã đăng tải bài viết tựa đề “Hiến pháp Việt Nam theo chế độ chính trị nào?” của các thế lực thù địch. Nội dung bài viết là những lập luận có tính chất chắp vá, thiếu căn cứ khoa học, quy chụp và xuyên tạc chế độ dân chủ ở Việt Nam khi cho rằng: “Chỉ cần có đa số trong quốc hội thì nhân dân sẽ như baba nằm trong rọ của đảng”. Từ việc phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước, chúng đã tung hô, cường điệu hóa, lý tưởng hóa học thuyết “tam quyền phân lập”, coi đó là “phương thuốc vạn năng” cho kiểm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa tham nhũng.

Chúng ta phải khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu sai trái, cực đoan của những kẻ cơ hội chính trị. “Tam quyền phân lập” không phải là sự lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước của Việt Nam. Bởi thực chất, cái gọi là “tam quyền phân lập” mà chúng tung hô, tôn thờ, chỉ là thủ đoạn chính trị lừa gạt nhân dân của giai cấp tư sản, nhằm thâu tóm quyền lực vào tay giai cấp tư sản. Nói cách khác, đó không phải là sự phân chia quyền lực, mà là sự phân công chức năng giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất.

Thực tế ở Việt Nam, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta. Chính bản thân các thế lực thù địch trong bài viết cũng phải thừa nhận rằng, đây là một “chế độ dân chủ chân chính”.

Quá trình phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã chứng minh, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước của nước ta là nhất quán và hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng được các thể chế và thiết chế bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền chính trị, dân sự, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của nhóm thiểu số hoặc yếu thế, như người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện dân chủ ở cơ sở là bước tiến mở rộng dân chủ trực tiếp, nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, đưa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vào cuộc sống ở cơ sở. Tính tối thượng của pháp luật được tôn trọng, mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật.

Vì vậy trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch mỗi công dân cần có nhận thức đúng đắn và khẳng định chính sách hiện thời và nhất quán của nước ta trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước các luận điệu trên cần tích cực phản bác đấu tranh loại bỏ các luận điệu xuyên tạc./.

 

NVE40-KHÔNG TÔN GIÁO, TÍN ĐỒ TÔN GIÁO NÀO ĐƯỢC ĐỨNG NGOÀI PHÁP LUẬT

 

Đã từ lâu, trong thực hiện “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Họ thường căn cứ vào việc chính quyền, cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý các cá nhân, tổ chức tôn giáo vi phạm hành chính trên các lĩnh vực như đất đai, xây dựng, môi trường hay vi phạm trong các hoạt động tôn giáo để thông qua một vài trang mạng thiếu thiện chí ở hải ngoại lu loa tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, chính quyền Việt Nam hạn chế, thậm chí đàn áp tôn giáo. Ví dụ như, mới đây, trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” phát video trực tiếp với nội dung xuyên tạc, nói xấu, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp các tổ chức tôn giáo của người dân tộc thiểu số; ngăn cấm quyền tự do tôn giáo của người dân, bắt giữ trái pháp luật các nhà hoạt động chính trị...

Chúng ta chẳng lạ gì cái “điệp khúc” đã cũ mèm này. Dù bằng luận điệu, chiêu thức gì, tinh vi, biến ảo đến đâu đi chăng nữa các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được sự thật, không thể đánh lừa được dư luận.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bảo đảm tự do tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc…”. Tại Khoản 1, Ðiều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, đáp ứng đầy đủ hơn nguyện vọng và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các Nghị định và nhiều văn bản luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng tốt hơn.

Cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói riêng luôn được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Đến năm 2021, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, với khoảng 27 triệu tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm bảo đảm hoạt động bình thường về tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

Dù có đức tin, hệ thống giáo lý và giáo luật khác nhau, nhưng các tôn giáo ở Việt Nam có chung điểm tương đồng đó là luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, theo phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Đồng bào các tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đó là điều đã được thực tiễn khẳng định. Đồng bào các tôn giáo nói chung và cộng đồng tôn giáo của người dân tộc thiểu số nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, huy động nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ngày nay.

Các “tổ chức tôn giáo...”, “nhà hoạt động chính trị”... mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến trong video nói trên thực chất đó là những cá nhân, tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo để gây rối an ninh trật tự, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Thời gian qua, ở Việt Nam xuất hiện tình trạng một số tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật núp bóng tôn giáo để trục lợi. Mục đích chính của các tổ chức, hội, nhóm này không phải vì tự do tôn giáo đúng nghĩa mà là nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức, hội, nhóm này thường xuyên kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc; kích động các hoạt động gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục đích chính trị. Mang danh nghĩa tôn giáo, các tổ chức, hội, nhóm trái pháp luật luôn tận dụng mọi cơ hội có thể để quốc tế hóa, chính trị hoá những vấn đề trong nước nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền. Chưa dừng ở đó, các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này còn mưu toan tập hợp lực lượng, quy tụ những phần tử cực đoan trong các tôn giáo, xây dựng tổ chức, hình thành các cơ sở, mạng lưới để khi cần là có ngay lực lượng... Như vậy, có thể thấy mục đích của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này không gì khác là thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Việt Nam.

Việc các cơ quan của chính quyền tiến hành các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, xử lý đối với những hành vi vi phạm của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm nói trên là việc làm bình thường. Hoàn toàn không có chuyện Việt Nam “ngăn cấm quyền tự do tôn giáo” của người dân, không bắt giữ các “nhà hoạt động chính trị” trái pháp luật. Những trường hợp mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến thực chất đó là các hội, nhóm, điểm sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật; là những công dân đã lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, các cơ quan chức năng của Việt Nam buộc phải áp dụng các biện pháp quản lý theo đúng thẩm quyền. Việc bắt giữ, xử lý đối với các đối tượng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Ở Việt Nam mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tất cả những ai không xuất phát từ lý do tôn giáo, không vì mục đích tự do tôn giáo đúng nghĩa, mà lợi dụng tôn giáo để gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước là vi phạm pháp luật Việt Nam và họ sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật.

Cũng như các quyền tự do khác của công dân, việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm tự do tôn giáo nhưng pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm các hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá, xâm phạm quyền, lợi ích của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ các tôn giáo. Bên cạnh việc thực hiện các quyền tự do, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo mỗi tổ chức, tín đồ tôn giáo còn phải thực hiện tốt nghĩa vụ công dân. Không tôn giáo, tín đồ tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật và lợi ích quốc gia, dân tộc. Cũng như các quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động tôn giáo ở Việt Nam đều cần phải có sự quản lý của chính quyền. Mục đích của việc làm này là nhằm tôn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Ở Việt Nam không có chỗ cho những hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật./.

 

NVD40 - Chớ “lớn tiếng” xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

 

Việt Nam không chỉ thực thi, đảm bảo, thúc đẩy quyền con người ở trong nước một cách nghiêm túc, nhất quán, liên tục, mà còn nỗ lực góp phần quan trọng thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ nhận thức rõ nhân quyền, quyền con người là giá trị phổ quát đối với nhân loại, mà còn chú trọng thực thi đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong thực tiễn. Càng nhiều khó khăn, thử thách, Việt Nam càng coi trọng và tăng cường hợp tác quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Vì thế, những luận điệu quy chụp rằng Việt Nam “đàn áp” người “dũng cảm” đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; Việt Nam “triệt tiêu nhân quyền” và ở Việt Nam thì “nhân quyền chỉ còn ở trên giấy” chính là sự suy diễn phản động nhằm xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực thù địch, các phần tử phản động, cơ hội!

Có một sự thật cần phải khẳng định rằng, ở Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như các chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đều được xây dựng trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm, hướng về người dân và phục vụ lợi ích của người dân. Vì thế, quyền con người, quyền công dân cũng không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp (thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân), mà còn đồng thời được bổ sung, điều chỉnh trong các luật, bộ luật và các văn bản dưới luật. Các nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam đều phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều này không chỉ thể hiện Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quyền con người, mà còn là sự khẳng định, sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực thi quyền con người.

Cùng với đó, chỉ từ tháng 1/2019 đến tháng 12/2022, việc Quốc hội Việt Nam thông qua gần 60 luật, nghị quyết có liên quan đến quyền con người, quyền công dân phù hợp với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia… đã cho thấy những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong xây dựng, triển khai các chính sách để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Thực tế, việc bổ sung, hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân như đã nêu trên không chỉ phản ánh đúng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn tạo thuận lợi để mọi người dân đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như để các cơ quan nhà nước hoạt động, phục vụ tốt hơn nhu cầu của các tầng lớp nhân dân.

Đồng thời, cũng có một sự thật không thể phủ nhận là ở Việt Nam, các cuộc thảo luận, chất vấn, phản biện, góp ý kiến về chủ trương, chính sách, pháp luật; góp ý cho Dự thảo Văn kiện Đại hội của Đảng, cho Dự thảo Hiến pháp năm 2013… đã không chỉ diễn ra tại diễn đàn Quốc hội, mà còn được tổ chức thông qua các cuộc tọa đàm, hội thảo, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt tại khu dân cư, v.v.. Sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội, của cán bộ, đảng viên và của các tầng lớp nhân dân đối với những vấn đề liên quan đến “quốc kế dân sinh” cũng như những ý kiến đóng góp tâm huyết “ích nước lợi dân” đều được ghi nhận và đánh giá cao. Điều đó cũng có nghĩa là, quyền dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin… của người dân được hiến định tại Điều 14, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 luôn được bảo đảm ngày càng tốt hơn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và đã, đang được cộng đồng quốc tế ghi nhận, chứ không phải là Việt Nam “đang bóp nghẹt nhân quyền”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận” như xuyên tạc.

Thực tế, hiện Việt Nam có 797 cơ quan báo chí, gồm 127 báo và 670 tạp chí; đến tháng 1/2023, Việt Nam có 72,1 triệu người dùng internet, tương đương 73,2% dân số; có hơn 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số và khoảng 161,6 triệu kết nối di động đang hoạt động, tương đương 164% dân số. Tại một đất nước mà internet và mạng xã hội đang đứng thuộc top đầu thế giới, với 150 triệu kết nối mobile; 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook; hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã biên giới, hải đảo và nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, việc đề ra các chế tài để quản lý, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cũng là việc đương nhiên.

Và cũng vì thế, việc Nguyễn Lệ Nam Em bị phạt 37,5 triệu đồng vì liên quan tới các phát ngôn gây tiêu cực trên mạng xã hội; Hàn Ni và Trần Văn Sỹ bị phạt 1,5-2 năm tù giam vì vi phạm luật an ninh mạng, lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) càng chắc chắn không phải là vì Nhà nước làm như vậy để “đe doạ tất cả người dân Việt Nam đang dùng mạng xã hội” hay là dùng cách “răn đe trên cõi mạng xã hội” để nhằm vào những “tiếng nói bất đồng”; là nhằm vào những người “dũng cảm đấu tranh cho dân chủ” như các thế lực thù địch xuyên tạc. Cho nên, luận điệu cho rằng Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm “triệt hạ tiếng nói bất đồng” hay “bóp nghẹt tự do báo chí” như các thế lực thù địch “cáo buộc” các cơ quan chức năng của Việt Nam là phản động.

Cùng với đó, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, sẽ không có cái gọi là “các nhà hoạt động nhân quyền bị bỏ tù bất công” nếu các hành động của họ không vi phạm pháp luật Việt Nam. Ở đây, cần phải nhấn mạnh rằng, đã là hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam, thì không thể đánh tráo khái niệm thành “bất đồng chính kiến”, cũng như không thể coi việc các cơ quan chức năng bắt tạm giam những người này là “bất công” được. Cho nên, luận điệu phản động kiểu “nhân quyền ở Việt Nam chỉ còn trên giấy” hay Việt Nam “không có nhân quyền”, “chính quyền không bảo đảm quyền con người” chỉ là sự nhận định thiếu khách quan, sai lệch; chỉ là những quy kết, vu cáo, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam nhằm kích động nhân dân chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật và cổ súy cho những hành vi phỉ báng, gây rối, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ của các thế lực thù địch, các phần tử phản động, cơ hội.

Hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 94 năm qua đều không nằm ngoài mục đích xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc; đảm bảo để mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và được tự quyết vận mệnh/con đường phát triển của mình...

Trên cơ sở quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ quát, thể hiện khát vọng chung của nhân loại đã được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng quốc gia, dân tộc trong hành trình phát triển, từ cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực trong từng quyết sách để đảm bảo, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, để đảm bảo sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước cũng là vì người dân, để nhân dân được sống trong “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, Việt Nam đã, đang và tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với những chính sách nhất quán, thể hiện rõ sự tôn trọng, bảo đảm các quyền con người được lồng ghép vào các chiến lược, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Ở Việt Nam, “Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân” và quyền con người, quyền công dân được thực thi thông qua việc thực hiện các quyền quyền ứng cử, bầu cử, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước; quyền khiếu nại, tố cáo và giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và được biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền tham gia xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp... theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việt Nam cũng đã ký và tham gia 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người…

Đồng thời, ở Việt Nam các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng; xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm ngay cả khi có đại dịch COVID-19; và chỉ số phát triển con người (HDI) liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ,v.v..

Cũng ở Việt Nam, ngày 20/3/2024, Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên lần thứ 10; trong đó nêu rõ “chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 11 bậc, từ vị trí 65 (năm 2023) lên vị trí 54 với tổng điểm trung bình là 6,043. Bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc quốc gia dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ”. Đó chính là sự thật, là một Việt Nam luôn “coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết”.

Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người từ nhận thức đến hành động cụ thể không chỉ là một trong những điểm sáng được cộng đồng quốc tế ghi nhận, mà còn là cơ sở, là sự tin tưởng để Việt Nam trúng cử và trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc lần thứ hai, nhiệm kỳ 2023-2025. Kết quả đó thêm một lần nữa cho thấy, Việt Nam không chỉ nhận thức sâu sắc quyền con người là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc được cộng đồng quốc tế ghi nhận, tôn trọng, mà còn là một trong những minh chứng khẳng định rằng nhân quyền được tôn trọng và đảm bảo ở Việt Nam.

Thực tế cũng cho thấy, với vai trò là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam đã tích cực tham gia, có những sáng kiến cụ thể để không chỉ đề cao Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, mà còn tham gia, đóng góp ý kiến về vấn đề biến đổi khí hậu và quyền con người cũng như thúc đẩy, bảo vệ quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của con người trong bối cảnh thế giới thời kỳ hậu đại dịch COVID-19...

Sự tham gia tích cực tại Hội đồng nhân quyền, sự đóng góp thiết thực, có ý nghĩa đối với công việc chung của Việt Nam tại Liên hợp quốc trên tinh thần “tôn trọng lẫn nhau, đối thoại và hợp tác, đảm bảo mọi quyền cho tất cả mọi người” là không thể phủ nhận. Đặc biệt, những thành tựu này đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao đúng như Surya Deva (Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về quyền phát triển) đã ghi nhận vai trò của Việt Nam trên cương vị thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và sự tham gia trách nhiệm, tích cực của Việt Nam trong Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR).

Cùng với đó, những kết quả mà Việt Nam đạt được như: Nộp Báo cáo thực thi ICCPR lần thứ 4 tại Việt Nam và đăng tải trên website của Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc; Nộp Báo cáo quốc gia theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, trong đó đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị nhận được năm 2019; Nhiều năm duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao và chú trọng phát triển xã hội, cải thiện mạnh mẽ quyền về giáo dục, y tế, nhà ở, về bình đẳng giới (tỉ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng cao so với các nước trong khu vực…); Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển phong phú với hàng nghìn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra hằng năm ở khắp các vùng, miền; Năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, với tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống 3% và tiếp tục dành trung bình hằng năm khoảng 3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho bảo đảm an sinh xã hội; Năm 2023, Việt Nam đã xuất khẩu trên 8 triệu tấn gạo, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và quyền lương thực cho hàng triệu người ở nhiều khu vực trên thế giới,v.v.. chính là những minh chứng không chỉ thể hiện sự cam kết thực hiện của một quốc gia thành viên có trách nhiệm, mà còn phản ánh khách quan, minh bạch sự phát triển và nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực thi quyền con người. Sự thật này bác bỏ những luận điệu bẻ cong sự thật, đánh lừa dư luận, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là “không tôn trong quyền con người”, là “vi phạm nhân quyền”…

Vì thế, để tiếp nối những đóng góp tích cực, cam kết mạnh mẽ và sự sẵn sàng đóng góp của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn tuyên bố và kêu gọi các nước ủng hộ Việt Nam tái ứng cử Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028. Với việc tuyên bố tái ứng cử này, có thể khẳng định chắc chắn rằng, Việt Nam không chỉ thực thi, đảm bảo, thúc đẩy quyền con người ở trong nước là nghiêm túc, nhất quán, liên tục, mà còn nỗ lực góp phần quan trọng thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Đó cũng chính là sự thật, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, bôi đen vấn đề nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch./.

NVD40 - Lý luận và thực tiễn đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Việt Nam là nước đa tôn giáo, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân ta, các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng. Âm mưu, thủ đoạn của chúng không chỉ là chia rẽ nhân dân các vùng, miền, giữa thành thị với nông thôn, đồng bào kinh với đồng bào dân tộc thiểu số, mà còn chia rẽ đồng bào có tôn giáo với đồng bào không tôn giáo, giữa đồng bào các tôn giáo khác nhau.

          Vì thế, theo Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo góp phần tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, sau khi nước nhà độc lập, trong Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”.

          Để đoàn kết tôn giáo thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nguyên tắc cụ thể trong thực hiện. Lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mẫu số chung. Nguyên tắc này dựa trên phương châm “Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết” và “tất cả do con người, tất cả vì con người”. Lợi ích của từng tôn giáo gắn chặt với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc, muốn đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết dân tộc thì phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết. Vì đây là lợi ích của cả cộng đồng, trong đó có lợi ích sống còn của các tôn giáo. Không chạm đến đức tin của tôn giáo nói chung và của từng tôn giáo nói riêng. 

          Hồ Chí Minh chú ý nhiều đến việc chỉ ra cái chung, cái thống nhất của các tôn giáo với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Người viết “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giêsu đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”. Đồng thời nhấn mạnh, lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau. Một người dù theo tôn giáo nào thì trước hết người đó phải là công dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nước. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đây là điều kiện tiên quyết, là nguyên tắc cơ bản để có thể đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết chung của dân tộc. Bởi, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tức là tôn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, tôn trọng một yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội.

          Như vậy, để đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã đưa ra mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp cơ bản cần thực hiện trong quá trình làm công tác tôn giáo. Nhờ đó, Người đã thành công trong việc đoàn kết đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh còn là cơ sở nền tảng cho các giáo hội đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó với dân tộc, như: “Đạo pháp - Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “Sống Phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (đạo Tin lành); “Nước vinh đạo sáng” (đạo Cao Đài); “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo Hòa Hảo), v.v.

          Quan điểm, tư tưởng về đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn cả về lý luận và thực tiễn: 

          Về lý luận, Hồ Chí Minh chính là Người mở ra khả năng kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và tôn giáo, có thể cùng chung sống một cách hòa bình vì có những điểm chung nhất định và có thể kế thừa được những giá trị tiến bộ của tôn giáo, nhất là ở khía cạnh nhân bản. Tôn trọng tự do tín ngưỡng gắn liền với việc tăng cường tình đoàn kết và hòa hợp dân tộc là phương pháp rất hữu hiệu để giải quyết vấn đề tôn giáo, hướng mọi người vào mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.

          Về thực tiễn, tư tưởng đó là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta hoạch định chủ trương, chính sách giải quyết vấn đề tôn giáo một cách đúng đắn trong suốt quá trình cách mạng. Theo quan điểm, tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh, chúng ta đã hướng đồng bào có đạo đi theo cách mạng, không để kẻ thù lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ tâm địa xấu xa của chúng. Qua đó, làm cho đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào chế độ xã hội mới, gắn kết được đạo với đời, lấy lý tưởng “tốt đời, đẹp đạo” làm mục tiêu hành động.

          Sự thật hiển nhiên là thế, nhưng các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tự do, tín ngưỡng, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, kích động,… hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ thường vu cáo Việt Nam đàn áp các tôn giáo. Nhưng sự thật, cũng như các quốc gia có chủ quyền khác, Việt Nam chỉ xử lý những đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Đó chỉ đơn thuần là việc chính quyền đang ngăn chặn các hoạt động đi ngược lại quy định của pháp luật.

          Có thể nói, không một quốc gia đa tôn giáo nào trên thế giới mà các tôn giáo lại sống bình đẳng như ở Việt Nam, một đất nước không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Đó là sự thật! Tự nó bác bỏ mọi sự xuyên tạc, kích động hòng chia rẽ tôn giáo với chính quyền, chia rẽ những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...