Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

NVD41 - RFA CẦN “BỔ TÚC” THÊM VỀ NHẬN THỨC

 

Đài châu á tự do (RFA) – một tổ chức chuyên xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng ta, mới đây chúng đưa ra những luận điệu vu cáo sai trái Quy định 148 - QĐ/TW ngày 23/5/2024 của Bộ Chính trị về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là những luận điệu xuyên tạc, chống phá của chúng. Bởi:

Thứ nhất, Quy định số 148-QĐ/TW quy định rõ căn cứ tạm đình chỉ công tác trong trường hợp cần thiết:

Cán bộ có hành vi vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng tiêu cực, bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức, cá nhân. Cán bộ cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Cán bộ có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực thi công vụ. Cán bộ đang bị xem xét, xử lý kỷ luật mà cố ý trì hoãn, trốn tránh không thực hiện yêu cầu của cấp có thẩm quyền trong quá trình xem xét, xử lý vi phạm của bản thân hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình, của người khác để tác động, gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Cán bộ bị kỷ luật đảng bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức và đang trong thời gian chờ xem xét, xử lý chức vụ chính quyền mà nếu tiếp tục công tác sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Thứ hai, Quy định căn cứ tạm đình chỉ công tác trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng: Cán bộ bị khởi tố để phục vụ công tác điều tra. Trong quá trình xem xét, xử lý hành vi vi phạm của cán bộ, có cơ sở xác định phải xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên hoặc xử lý bằng pháp luật hình sự mà cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có văn bản đề nghị tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ.

Thứ ba, Về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác, Quy định số 148-QĐ/TW nêu rõ: Người đứng đầu có quyền quyết định tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới theo quy định khi có một trong những căn cứ nêu trên. Trường hợp chưa có trong Danh mục thì do người đứng đầu cấp có thẩm quyền bổ nhiệm và quản lý xem xét, quyết định tạm đình chỉ công tác. Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; các cơ quan, đơn vị thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định. Đề nghị cơ quan chức năng, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc yêu cầu cơ quan chức năng kiểm tra, xác minh làm rõ, xử lý vi phạm theo quy định. Yêu cầu cán bộ bị tạm đình chỉ công tác chấp hành các yêu cầu của cơ quan chức năng hoặc người có thẩm quyền để phục vụ công tác xác minh, làm rõ, xử lý vi phạm.

Thứ tư, Trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác

Quy định số 148 - QĐ/TW cũng quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác: Kịp thời ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới khi có một trong những căn cứ được quy định; huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác trong trường hợp không đúng quy định hoặc khi có kết luận không vi phạm, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ. Chịu trách nhiệm về việc ra quyết định tạm đình chỉ công tác, huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác. Công bố quyết định tạm đình chỉ công tác, quyết định huỷ bỏ tạm đình chỉ công tác trong cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác và gửi quyết định tạm đình chỉ công tác, quyết định huỷ bỏ tạm đình chỉ công tác đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ nếu có nhiều tình tiết phức tạp cần có thời gian tiếp tục xác minh, làm rõ vi phạm của cán bộ thì báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ trước khi gia hạn tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ.

Tóm lại, RFA cần phải bổ túc thêm nhận thức cho đúng dắn và dừng ngay những hành động xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

NVC41 - ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Từ thực tiễn chủ nghĩa dân túy trên thế giới, soi chiếu vào điều kiện Việt Nam có thể thấy, ở nước ta chủ nghĩa dân túy không có đủ cơ sở kinh tế, chính trị-xã hội để tồn tại dưới dạng một “chủ nghĩa” theo nguyên nghĩa, mà chủ yếu là các biểu hiện dưới dạng phát ngôn và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy danh nghĩa “nhân dân” nhằm phục vụ cho ý đồ chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm người nhất định. Những biểu hiện đó có thể khái quát thành những nhóm sau:

Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây có thể xem là những biểu hiện tiền đề, sơ khai của chủ nghĩa dân túy.

Thứ hai, mang màu sắc dân túy rõ hơn là một số cá nhân có phát ngôn, lời nói, hành động không đúng với quan điểm, chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, trái quy định pháp luật; lời hứa suông thiếu tính khả thi hoặc lời nói không đi đôi với việc làm, “nói một đằng làm một nẻo”. Mục đích của những người này là thông qua “lấy lòng quần chúng”, “theo đuôi quần chúng” với mưu mô đạt lợi ích riêng cho bản thân hoặc lợi ích nhóm.

Thứ ba, dưới danh nghĩa “yêu nước”, “bảo vệ lợi ích của nhân dân”, “vì dân”, các phần tử cơ hội chính trị đưa ra những phát ngôn và hành động mang tính mị dân, phản động. Trước mỗi vụ việc phức tạp, nhạy cảm, họ lợi dụng các diễn đàn, nhất là mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tập trung đông người bằng những khẩu hiệu “bất tuân dân sự” gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tác động xấu đến phát triển kinh tế-xã hội.

Thực tế là đã có một số vụ việc mang màu sắc dân túy, bị các thế lực thù địch, phản động bên ngoài câu kết với các phần tử bất mãn trong nước để lợi dụng chống phá. Điển hình như: Âm mưu thành lập “Nhà nước Khmer Krom”; “Nhà nước Tin lành Đề-ga”; “Vương quốc Chămpa” và “Vương quốc Mông”, hay đòi ly khai, tự trị, độc lập, đa nguyên – đa đảng… Lợi dụng việc nhà máy Fomosa xả nước thải làm ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung… Từ đó họ phụ họa, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; kích động một bộ phận người dân thiếu hiểu biết tham gia biểu tình, gây rối đập phá trụ sở cơ quan công quyền, khu công nghiệp. Mục đích của những việc làm này là hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội, tạo cớ can thiệp sâu hơn vào Việt Nam; kích động tâm lý, tư tưởng bài ngoại cực đoan, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế…

Ý thức được sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy trên diện rộng, những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn kiện, chính sách liên quan tới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện tiêu cực của nó.

Đầu tiên phải kể đến là Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận báo chí trước yêu cầu mới (năm 2007) đã chính thức hóa cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam, đưa nó trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sau đó là các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới… cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác… Tuy nhiên để tiếp tục bảo đảm cho việc phòng, chống chủ nghĩa dân túy đạt hiệu quả chúng tôi cho rằng cần phải làm tốt một số giải pháp sau:

Trước tiên, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức, các biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của nó. Đồng thời, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề này, qua đó tạo sự “miễn dịch”, sức “đề kháng” trước tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Đồng thời, cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, về xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Hai là, nâng cao hiệu quả đổi mới hệ thống chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, đập tan các âm mưu nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Phát biểu tại lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2020), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Từ khi ra đời đến nay, để khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những trào lưu tư tưởng đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa dân túy dù biểu hiện dưới hình thức nào, về bản chất, đây vẫn là một loại tư tưởng tiểu tư sản, duy tâm, mị dân, không tưởng, phản khoa học, thậm chí là phản động. Vì vậy, chỉ có xây dựng cho được một hệ thống chính trị vững vàng về chủ nghĩa, trong sáng, lành mạnh về phẩm chất và “chí công vô tư” trong phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì mới có cơ sở để chống lại và triệt tiêu chủ nghĩa dân túy.

Ba là, tiếp tục hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với đó, có các chính sách phù hợp để hạn chế và giải quyết các mặt trái của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở phải gần dân, phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, lắng nghe để giải quyết đúng đắn những kiến nghị, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ tranh chấp, khiếu kiện đông người, phức tạp, tránh để các thế lực dân túy và cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc, chống phá.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, để củng cố niềm tin trong nhân dân, qua đó góp phần loại bỏ nguy cơ khởi phát và lan truyền của những mầm mống dân túy. Thực tế công tác phòng, chống “giặc nội xâm” được Đảng ta đẩy mạnh từ nhiều năm nay và đạt được những kết quả cụ thể, rõ rệt. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành mới đây, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đều trở nên lạc lõng trong dòng chảy phát triển của đất nước.

Ngoài ra, một biện pháp quan trọng cũng là quan điểm chỉ đạo, yêu cầu cơ bản trong đấu tranh ngăn ngừa chủ nghĩa dân túy hiện nay là phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó nhiệm vụ cấp bách là phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát chặt chẽ quyền lực, đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, nhằm ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở…

Đấu tranh ngăn chặn chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện tiêu cực của nó là quá trình bền bỉ, lâu dài. Làm tốt những nhiệm vụ trên sẽ góp phần nhận diện và loại bỏ những loại “virus độc” của chủ nghĩa dân túy, giúp môi trường chính trị-xã hội Việt Nam lành mạnh hơn, không để những người có dấu hiệu nhiễm virus ấy ngả hẳn sang phía bên kia, đi ngược lại lợi ích của đất nước. Quá trình đó cần có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự vào cuộc của báo chí, truyền thông và sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam.

 

NVC41 - GIA ĐÌNH LÀ TẾ BÀO CỦA XÃ HỘI

 

Gia đình là tổ ấm của mỗi người, là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người. Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người, là nơi bảo tồn, lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, quý báu của dân tộc, chống lại tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải lấy gia đình làm gốc, phải biết chăm sóc và bảo vệ gia đình.

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu, như: yêu quê hương, yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế -  xã hội của đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn quan tâm đến vai trò của gia đình. Người khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình”. Theo Người: “Một gia đình mới, một gia đình tốt là một gia đình mà trong đó các thành viên trong gia đình phải biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ những khó khăn trong công việc cùng nhau, nam nữ bình đẳng. Phải đề cao và tôn trọng người phụ nữ”.

Với ý nghĩa vô cùng quan trọng đó, ngày 4 tháng 5 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg về ngày Gia đình Việt Nam. Quyết định nêu rõ: lấy ngày 28/6 hàng năm là ngày Gia đình Việt Nam. Đây là ngày tôn vinh truyền thống gia đình, ngày mọi người trong gia đình quan tâm đến nhau, hướng về gia đình, xã hội quan tâm đến trẻ nhỏ, các cặp vợ chồng thấu hiểu giá trị mái ấm và cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

 Ngày nay, gia đình Việt Nam đang được xây dựng với những giá trị nhân văn tiến bộ theo tiêu chí no ấm, tiến bộ, hạnh phúc trên cơ sở thực hiện quyền bình đẳng giới và quyền trẻ em. Trách nhiệm giữa nam và nữ trong công việc chăm lo đời sống gia đình được chia sẻ và tôn trọng. Tỷ lệ phụ nữ tham gia quyết định các công việc quan trọng của gia đình, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội ngày càng cao. Quyền trẻ em đã được pháp luật thừa nhận, được xã hội, gia đình thực hiện và phát huy. Tuy nhiên, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gia đình còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trái của nền kinh tế thị trường và lối sống thực dụng, ích kỷ, đề cao tự do cá nhân đang tác động mạnh đến giá trị truyền thống và lối sống tốt đẹp trong một số gia đình, nhiều giá trị đạo đức của gia đình đang bị mai một và có biểu hiện xuống cấp; tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào gia đình; tình trạng bạo lực gia đình ngày càng gia tăng; khoảng cách giữa cha mẹ và con cái đang ngày càng rộng ra, sâu hơn; mối liên kết giữa các mối quan hệ trong gia đình ngày càng lỏng lẻo; không khí đầm ấm trong gia đình vì thế mà dần dần bị ảnh hưởng.

Để gia đình trở thành bến đỗ bình yên hạnh phúc, là nơi duy trì được bản sắc văn hoá truyền thống của mỗi gia đình và của xã hội, đồng thời tiếp thu được cái hay, cái mới, vậy nên các thành viên trong gia đình phải biết tôn trọng, nâng niu các giá trị chuẩn mực của gia đình truyền thống Việt Nam, phải dành thời gian quan tâm, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tạo ra môi trường lành mạnh nhằm ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Vì một gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, chúng ta hãy tích cực hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình và Ngày gia đình Việt Nam 28/6; cùng chung tay giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá ứng xử tốt đẹp trong gia đình; mỗi người hãy tổ chức sum họp gia đình, tổ chức liên hoan gặp mặt các thành viên trong gia đình, nhằm ôn lại truyền thống, nề nếp, gia phong là điều hết sức cần thiết và ý nghĩa, gắn chặt tình cảm các thành viên với nhau, từng bước đưa “Ngày gia đình” vào cuộc sống, trở thành ngày hội lớn, mang ý nghĩa nhân văn cao cả, được lưu truyền tốt đẹp trong mỗi gia đình Việt Nam./.

 

 


NVB41 - Lạm quyền tự do ngôn luận cũng là một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

 

Việc hiểu đúng tự do ngôn luận không chỉ là tôn trọng quyền lợi cá nhân mà còn là sự nhận thức về trách nhiệm đạo đức và pháp luật trong việc sử dụng quyền này. Tự do ngôn luận không phải là tự do tùy tiện phát ngôn mà là một trách nhiệm được thực hiện theo các chuẩn mực pháp lý và đạo lý, qua đó góp phần bảo đảm an ninh tư tưởng-văn hóa và giữ vững ổn định trật tự xã hội.

Hệ quả “vạ miệng” vì lạm quyền tự do ngôn luận

Những năm gần đây, một bộ phận người dân, trong đó có một số công chức, viên chức, nhà văn, nhà báo, luật sư… đã lạm dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn vô lối trên mạng xã hội, kể cả phát ngôn gây thù ghét, thông tin sai sự thật, đưa ra ý kiến tùy tiện với dụng ý xấu, kể cả chống phá Đảng, Nhà nước.

Tháng 8-2022, Sở Thông tin và Truyền thông TP Đà Nẵng đã xử phạt vi phạm hành chính với mức 7,5 triệu đồng đối với một nhà báo đăng tải bài viết về việc Đà Nẵng đề xuất mở “phố đèn đỏ” trên mạng xã hội. Theo cơ quan chức năng, bài viết của nhà báo này có những nội dung sai sự thật, hình ảnh đăng tải nhạy cảm, không kiểm chứng làm người đọc hiểu sai vấn đề, gây ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành của TP Đà Nẵng đối với sự phát triển du lịch.

Mới đây, một luật sư nguyên là Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP Hà Nội bị khởi tố, bắt giam trong vụ án “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại Hà Nội và các tỉnh, thành phố. Theo Bộ Công an, bị can này đã có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng các quyền tự do dân chủ, đăng tải những bài viết trên Facebook xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Không riêng ở Việt Nam, sự phát ngôn tùy tiện, thông tin sai sự thật cũng xảy ra ở nhiều quốc gia khác và các trường hợp này cơ bản đã bị xử lý nghiêm khắc.

Tháng 7-2023, Hamdan Al Rind-một người có ảnh hưởng trên mạng, chủ kênh chia sẻ video nổi tiếng “Chuyên gia ô tô” trên mạng xã hội TikTok với hơn 2,5 triệu người theo dõi-đã bị bắt ở Dubai vì một video hài. Trong clip này, anh ta ném những chồng hóa đơn cho những nhân viên đang ngơ ngác và đề nghị mua chiếc xe đắt nhất-một chiếc Ferrari SF90 trị giá 600.000USD. Clip được cho là sản xuất nhằm chế giễu lối sống xa hoa tại thành phố nổi tiếng với những tòa nhà chọc trời và những điểm du lịch hàng đầu thế giới này.

Nhà chức trách sau đó buộc tội Hamdan Al Rind đã “lạm dụng internet” bằng cách đăng thông tin “khuấy động dư luận và gây tổn hại đến lợi ích công cộng”. Hãng thông tấn nhà nước WAM đưa tin, clip này “quảng bá một hình ảnh tinh thần sai trái và xúc phạm về công dân Các tiểu vương quốc Arab thống nhất và chế giễu họ”. Vụ bắt giữ Hamdan Al Rind dựa trên những quy định tại một đạo luật về tội phạm mạng được Các tiểu vương quốc Arab thống nhất thông qua vào năm 2021.

Nhận thức đúng về quyền tự do ngôn luận để không phát ngôn tùy tiện

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong nhiều văn bản luật quốc tế. Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến”.

Tương đồng với quy định quốc tế, tại Việt Nam, các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân luôn được Đảng, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không phải là “quyền bất khả xâm phạm” mà phải tuân thủ trong khuôn khổ pháp luật. Quyền tự do ngôn luận, quyền cơ bản của con người đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Việc hiểu đúng tự do ngôn luận không chỉ là tôn trọng quyền lợi cá nhân mà còn là sự nhận thức về trách nhiệm đạo đức và pháp luật trong việc sử dụng quyền này. Tự do ngôn luận không phải là tự do tùy tiện phát ngôn mà là một trách nhiệm được thực hiện theo các chuẩn mực pháp lý và đạo lý, qua đó góp phần bảo đảm an ninh tư tưởng – văn hóa và giữ vững ổn định trật tự xã hội.

Tự do ngôn luận không chỉ đơn thuần là việc phát biểu ý kiến mà còn là việc truyền đạt thông tin, kiến thức và quan điểm một cách khách quan, công tâm, trung thực. Tính trung thực và đạo đức trong sử dụng tự do ngôn luận là điều không thể phủ nhận, cần được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là đối với trí thức, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu, luật sư và những người có ảnh hưởng nhất định với cộng đồng, xã hội.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn có một số cá nhân, nhất là một số người nắm “quyền lực thông tin, quyền lực của con chữ” đã sử dụng tự do ngôn luận một cách tùy tiện, thậm chí lợi dụng để phá hoại an ninh tư tưởng và văn hóa. Thời gian qua, một số trí thức, nhà văn, luật sư… đã lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn, viết bài với nhiều kỹ năng cài cắm thông tin mập mờ, trộn lẫn đúng-sai nhằm mục đích xấu, thậm chí chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Các hành động này không chỉ vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan Nhà nước, danh dự của cá nhân lãnh đạo mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thông tin và sự ổn định, phát triển của xã hội.

Không phạm vào “lằn ranh đỏ” giữa tự do ngôn luận và kỷ luật phát ngôn

Có thể thấy, việc hạn chế phát ngôn bừa bãi, thông tin tùy tiện trên mạng xã hội là nhằm bảo vệ cộng đồng chứ không chỉ là việc xử lý, trừng phạt những cá nhân có phát ngôn sai trái, xuyên tạc. Những thông tin sai sự thật có thể dẫn đến hành vi lệch chuẩn trong đời sống xã hội. Phát ngôn gây thù ghét, phát ngôn kích động có thể dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi bạo lực nhắm vào những nhóm đối tượng cụ thể, hành vi kỳ thị dân tộc, giới tính, xuất thân…

Để hiểu đúng và thực hiện tự do ngôn luận theo hiến pháp, pháp luật, trước hết cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm pháp lý và đạo đức trong việc sử dụng quyền tự do ngôn luận. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, chặt chẽ về an toàn an ninh trên môi trường số, trong đó nhấn mạnh đến giới hạn cần thiết của quyền tự do ngôn luận. Đồng thời cần có sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng nhằm bảo đảm việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội để thông tin sai sự thật, phá hoại an ninh tư tưởng-văn hóa, chống phá Đảng, Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc giám sát, phản biện những ý kiến, thông tin được truyền đạt trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Việc này không chỉ giúp làm rõ sự thật mà còn tạo ra một môi trường thông tin lành mạnh và đa chiều, đồng thời giúp ngăn chặn việc lợi dụng tự do ngôn luận để gây rối, phá hoại an ninh tư tưởng-văn hóa.

Quan tâm xây dựng mạng lưới những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs) tham gia phòng, chống thông tin sai trái, phát ngôn gây thù ghét, những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để bôi nhọ chế độ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc… Những KOLs sẽ chủ động phát hiện, chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xấu độc; đồng thời lan tỏa những thông tin đúng đắn, tích cực đến cộng đồng.

Hiểu đúng tự do ngôn luận và phòng ngừa tự do phát ngôn tùy tiện gây tác hại đến an ninh tư tưởng-văn hóa là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Qua việc tăng cường trách nhiệm xã hội và đạo đức công dân trong sử dụng tự do ngôn luận, cũng như áp dụng các biện pháp quản lý và giám sát hợp lý, chúng ta có thể tạo ra một môi trường truyền thông lành mạnh, an toàn, đồng thời bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn chuẩn mực đạo đức xã hội.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, việc hiểu đúng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức, cũng như tuân thủ nghiêm túc kỷ luật phát ngôn ở mọi lúc, mọi nơi là việc làm thiết thực góp phần giữ vững môi trường thông tin xã hội lành mạnh; đồng thời cũng là một cách góp phần phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị.


 

NVB41 - CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Nhằm cổ súy cho những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, gần đây trên nhiều trang mạng phản động đã phát tán bài viết “Giúp Chính quyền cộng sản Việt Nam … tự sụp đổ” của Cao Tuấn. Nội dung bài viết xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang có nhiều khuyết điểm thuộc về bản chất, hệ thống và đi vào ngõ cụt; từ đó kêu gọi phát động một phong trào toàn dân chống độc tài, đòi đa nguyên bằng đấu tranh bất bạo động, bất tuân dân sự. Những luận điệu trên đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cần phải khẳng định rằng:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là tất yếu khách quan, xuất phát từ mong muốn của nhân dân, đòi hỏi của lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt sự khủng hoảng về tổ chức lãnh đạo và đường lối cứu nước ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; có đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, sẵn sàng đấu tranh vì lý tưởng của Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Với năng lực, bản lĩnh và uy tín của một đảng mác-xít chân chính, rèn luyện qua muôn vàn khó khăn, thử thách, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đạt được những thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn “có ý nghĩa lịch sử”, để đất nước ta có “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Việt Nam không cần đến một con đường đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn tung hô, ca ngợi. Lịch sử đã chỉ rõ, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam – đảng cách mạng chân chính, được nhân dân yêu mến, thừa nhận quyền lãnh đạo, mới xứng đáng là đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc của Cao Tuấn không thể phủ nhận được thực tiễn đó!

2. Đảng luôn kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền đáp ứng niềm tin và kỳ vọng của nhân dân. Xây dựng và chỉnh đốn là nhu cầu tự thân của Đảng. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và chỉnh đốn là khoa học tổ chức, nghệ thuật quản trị nội bộ Đảng; có vai trò phòng ngừa, ngăn chặn, sàng lọc, loại bỏ các yếu tố có khả năng gây thoái hóa, biến chất; giữ vững bản chất giai cấp công nhân và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Những năm gần đây, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã để lại nhiều dấu ấn nổi bật. Đảng luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; có bước tiến lớn về thực hiện dân chủ trong Đảng, lãnh đạo thực hiện dân chủ trong xã hội; đẩy mạnh giải quyết căn nguyên sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được đẩy mạnh, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, phát hiện, xử lý tham nhũng được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Những hoạt động này nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của toàn xã hội, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế đó chứng minh, không có những lỗi hệ thống trong tổ chức và hoạt động của Đảng như lời xuyên tạc của Cao Tuấn!

Bước vào thời kỳ mới, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là cách làm hiệu quả nhất bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam./.


NVA41 - BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN CÁC NGUYÊN LÝ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

            Ngay từ khi ra đời Chủ nghĩa xã hội khoa học là tiếng chuông khai tử đối với chế độ tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời và giai cấp tư sản đã hết vai trò tiến bộ trong lịch sử. Vì thế, sự ra đời, tồn tại và phát triển của Chủ nghĩa xã hội khoa học luôn gặp phải sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch dưới mọi màu sắc. Trong bối cảnh hiện nay, lợi dụng sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu nên các thế lực thù địch càng điên cuồng, xảo quyệt và tinh vi chống phá nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Cho nên, việc nghiên cứu bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa xã hội khoa học là cần thiết, với những vấn đề cơ bản sau đây:

          Một là, từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đặt ra những thử thách, khó khăn cho Chủ nghĩa xã hội khoa học. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi đã làm cho CNXH từ lý luận thành hiện thực, thì sự sụp đổ đó lại diễn ra ngay trên quê hương của Cách mạng Tháng Mười do lãnh tụ thiên tài V. I. Lênin và Đảng Bônsêvich Nga lãnh đạo. Đây là một tổn thất lớn, để lại hậu quả nặng nề và lâu dài cho phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Sự sụp đổ ấy không phải do CNXHKH đã lạc hậu, lỗi thời mà thực chất là do sai lầm chủ quan trong quá trình cải tổ dẫn đến sự tan rã của mô hình XHCN ở Liên Xô và một số nước Đông Âu. Đây là hiện tượng thực tế, là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch ra sức lợi dụng, kích động, bài bác và phủ nhận giá trị thực tiễn và trường tồn của Chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn hiện nay.

          Hai là, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá vai trò lãnh đạo và hạ bệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” gây mơ hồ và mất niềm tin của quần chúng. Từ sau khi hệ thống XHCN tan rã, sụp đổ vào thập niên cuối của thế kỷ XX, thì các thế lực thù địch đã tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ để chống phá các nước XHCN còn lại. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, với tổng hợp các thủ đoạn như: lấy tư tưởng là khâu đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo là ngòi nổ; ngoại giao là hỗ trợ; quân sự là răn đe và kết hợp chặt chẽ giữa diễn biến hòa bình với bạo loạn lật đổ. Điều này cũng đã gây khó khăn, thách thức nhất định đến niềm tin của nhân dân, những dao động nhất định trong một bộ phận những người cộng sản và đến quá trình bảo vệ, phát triển các nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay.

          Để bảo vệ và phát triển các nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học trong giai đoạn hiện nay và để nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học cần đáp ứng một số vấn đề sau:

          Một là, các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, các nhà khoa học cần quán triệt quan điểm của các nhà kinh điển đã luôn nhắc nhở rằng, học thuyết về Chủ nghĩa xã hội khoa học không phải là một cái gì đã hoàn bị, nên cần có bổ sung, phát triển và vận dụng cho phù hợp với thực tiễn phát triển ở mỗi nước.

          Hai là, các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN thường xuyên đổi mới, trên cơ sở kiên định và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin định ra đường lối lãnh đạo đúng đắn để đẩy mạnh hơn nữa thành tựu, tính ưu việt của CNXH hiện thực mới.

          Ba là, các Đảng Cộng sản cần quan tâm đúng mức, hiệu quả hơn nữa công tác tư tưởng, lý luận, đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bồi dưỡng lý luận chính trị và đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chính trị. Các Đảng Cộng sản phải luôn coi trọng đoàn kết nội bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và cơ hội chính trị đạt hiệu quả cao hơn nữa.

          Chúng ta tin tưởng rằng, các Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở các nước XHCN, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam đang rất chú trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về CNXH cho phù hợp với đặc thù của dân tộc để đạt thành tựu ngày càng to lớn. Mô hình và những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam đạt được trong gần 40 năm đổi mới, cũng như những năm tiếp theo sẽ có giá trị tham chiếu cho những nước có cùng điểm xuất phát đi lên CNXH. Mặc dù còn có những khó khăn, thách thức nhưng Chủ nghĩa xã hội khoa học mãi mãi trường tồn trong thực tiễn, soi sáng con đường phát triển của mỗi nước và các nước sẽ đi lên CNXH là tất yếu./.

 

 

NVH40 - Lật tẩy luận điệu xuyên tạc về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tung ra các bài viết xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có những diễn biến phức tạp hay đến dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử xảy ra trên biển, đảo thì ngay lập tức, trên các báo, đài ở nước ngoài như BBC, RFA, RFI, các trang web, mạng xã hội của các tổ chức, đối tượng phản động lại tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Những luận điệu xuyên tạc

Cứ đến ngày 14/3 hằng năm, một số đối tượng, tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam lại tung những hình ảnh, video clip ghi lại phát biểu của chuyên gia này, chuyên gia kia hoặc áp đặt ý kiến chủ quan, cho rằng trận chiến bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa ngày 14/3/1988, Việt Nam mất Gạc Ma là do có lệnh không được nổ súng, bưng bít thông tin chuyện mất đảo…

Đây là những luận điệu xuyên tạc, quy chụp, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa của công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Chúng ta thấy rằng, không chỉ riêng sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988 mà các sự kiện khác như: Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (17/2/1979), cuộc hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974)…, các thế lực thù địch, phản động cũng luôn tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật để lấy cớ kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Gần đây, các tổ chức phản động lưu vong tiếp tục lợi dụng sự kiện Trung Quốc điều tàu hải cảnh hoạt động bất hợp pháp tại bãi đá Tư Chính thuộc vùng thềm lục địa của Việt Nam để tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch, quy chụp Đảng, Nhà nước “không lo bảo vệ biển đảo”, né tránh, lãng quên những vấn đề này; lấy cớ việc tổ chức “tưởng niệm” để lôi kéo, kích động chống phá, tổ chức các hoạt động tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự tại các địa điểm công cộng trên địa bàn TP Hà Nội và một số thành phố lớn khác…

Lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối ở trong nước, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đã tiến hành lồng ghép, xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước hòng làm sai lệch thông tin, tình hình về biển Đông và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong quan hệ với các nước láng giềng trên biển; kêu gọi sự can thiệp của bên ngoài, đòi thả tự do cho những kẻ chống phá chính quyền đã bị pháp luật trừng trị. Thay vì tổ chức các hoạt động tưởng niệm tại nghĩa trang liệt sĩ hay một cơ sở thờ tự nào đó với mục đích, ý nghĩa nhân văn, hướng lòng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thì số phản động, chống đối thường chọn “tưởng niệm” tại khu vực công cộng, nơi tập trung đông người nhằm phô trương thanh thế, gây rối trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước. Mục đích nhằm lợi dụng danh nghĩa “tưởng niệm” để xuyên tạc, kích động, cổ súy các hành vi chống phá chính quyền, chia rẽ quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước láng giềng trên biển, tập dượt, tiến hành cuộc “cách mạng đường phố” nhằm tiến tới bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân.

Lịch sử dựng nước, giữ nước đã chứng minh lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, người dân đặc biệt quan tâm, thường xuyên dõi theo những thông tin liên quan và có các ý kiến thể hiện quan điểm góp phần bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Lợi dụng tâm lý này, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đã lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân thiếu hiểu biết nhằm xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam với quốc tế. Các đối tượng cũng tìm cách lồng ghép, quy chụp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lực lượng trực tiếp làm công tác bảo vệ chủ quyền như Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, cho rằng các lực lượng này “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia và tính mạng của nhân dân bị đe dọa”.

Đây là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Bằng luận điệu xuyên tạc, đả kích, các thế lực xấu muốn làm lòng dân bất an, dần mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng, cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời.

Tỉnh táo trong tiếp cận thông tin, không mắc mưu kẻ xấu

Thực tế, ngay sau sự kiện ngày 14/3/1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cực lực phản đối, tạo thành một phong trào mạnh mẽ nhất, khơi dậy ý chí, sự đồng lòng, đoàn kết và tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Từ tháng 2 đến tháng 6/1988, rất nhiều bài viết được đăng tải trên các báo và phát sóng trên đài khẳng định rõ quan điểm Việt Nam yêu cầu Trung Quốc phải chấm dứt ngay mọi hành động khiêu khích, xâm chiếm.

Trong và sau sự kiện Gạc Ma ngày 14/3/1988, các địa phương, đoàn thể trong cả nước hướng về Trường Sa mạnh mẽ. Đặc biệt, nhiều phóng viên báo chí theo các đoàn công tác đã trực tiếp ra Trường Sa để gặp gỡ nhân chứng, cung cấp cho độc giả, khán, thính giả trong nước và trên thế giới về hoạt động chiến đấu, hy sinh của các chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa, truyền tải sự thật lịch về sự kiện này. Thực tế đó cho thấy, không có việc chúng ta bưng bít thông tin, che giấu sự việc trên đài, báo. Sự kiện Gạc Ma là một trang sử không thể nào quên trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc, nơi ghi dấu sự anh dũng chiến đấu, hy sinh cao cả của các chiến sĩ QĐND Việt Nam. Xung quanh sự kiện này, từ trước tới nay, Việt Nam đã khẳng định quan điểm nhất quán và các hành động cụ thể để giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng trên khu vực quần đảo Trường Sa.

Nhìn lại lịch sử, trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây Nam và các cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo, Đảng, Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần quyết chí, đồng lòng, quyết tâm bảo vệ từng vùng đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Trên thực tế, trong những thời điểm mà chủ quyền quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ gìn hoà bình, ổn định để phát triển.

Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn. Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Thời gian qua, trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong, các phần tử bất mãn chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, các cơ quan chức năng, trong đó có báo chí, truyền thông đã tích cực tuyên truyền để người dân tỉnh táo hơn trong tiếp cận, đánh giá thông tin, sự việc, tránh mắc mưu kẻ xấu. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ né tránh, lãng quên cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây Nam và các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ, những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến đấu bảo vệ bình yên bờ cõi, chủ quyền quốc gia bằng các hành động thiết thực.

Quan tâm tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về lịch sử các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; quan tâm, chăm lo đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công; tuyên truyền khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo, về đường lối đối ngoại…

Hơn lúc nào hết, mỗi người cần tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin, nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử chống đối trong và ngoài nước. Mỗi chúng ta cần phải biết cách thể hiện lòng yêu nước, sự biết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ theo đúng nghĩa, đúng cách, không để lòng yêu nước bị lợi dụng vào các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước.     

 

NVH40 - Bàn về nhân sự sao cho đúng

 

Công tác nhân sự của Đảng và Nhà nước luôn được nhân dân quan tâm sâu sắc và đây là điều chính đáng bởi tầm quan trọng của công tác này đến vận mệnh đất nước. Nhưng đôi khi sự quan tâm đó trở thành như lời nói vui “toàn dân làm tổ chức” thì cũng mang đến những tác hại khôn lường.

Trong bài phát biểu tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Đây là công việc vô cùng quan trọng. Đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc, chính đáng của toàn Đảng, toàn dân. Gần như đi đến đâu, ở chỗ nào, cũng thấy cán bộ, đảng viên và nhân dân tỏ ra quan tâm theo dõi và có phần băn khoăn, lo lắng, đặt câu hỏi: Đảng ta sắp tới dự định lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là cán bộ chủ chốt) thế nào để đủ sức gánh vác nhiệm vụ cách mạng to lớn mà lịch sử giao phó?

Nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ: “Các phần tử xấu, cơ hội, thù địch cũng nhân dịp này tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin, tác động, chia rẽ nội bộ ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung của chúng ta, rất thâm độc và nguy hiểm”. 

Công tác nhân sự là rất quan trọng và đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, công bằng, minh bạch. Đảng ta đã công khai minh bạch đường lối, phương hướng, mục tiêu và những tiêu chuẩn trong công tác nhân sự chuẩn bị cho Đại hội các cấp chính là khẳng định tính chính danh của Đảng, để các đảng viên và quần chúng nhân dân tin tưởng. Nhưng mặt khác, những vấn đề cụ thể trong các khâu, các quy trình nhân sự không phải đều có thể công bố rộng rãi. Tùy theo từng cấp độ, từng yêu cầu nhiệm vụ mà mức độ công bố sẽ khác nhau, ở thời điểm khác nhau.

Nhưng các phần tử xấu, cơ hội, thù địch lại luôn cố tình xuyên tạc bằng cách đòi hỏi công khai cả những vấn đề nội bộ đang bàn thảo, rồi tung ra những giả thuyết phe cánh này, phe cánh nọ. Thậm chí, ngay cả một số hãng tin, tòa soạn báo nước ngoài dùng thủ pháp suy đoán kiểu 50:50 để tranh thủ lôi kéo sự quan tâm của độc giả.

Trên thực tế, những tin đồn, thông tin thiếu kiểm chứng mà thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân thì hậu quả không chỉ là những câu chuyện vui lúc “trà dư, tửu hậu” mà nó tác động đến tâm lý đám đông, gây hoang mang dư luận. Thậm chí, có cả những người chỉ vì hiếu kỳ hay ham “view” mà chia sẻ những thông tin sai sự thật trên mạng xã hội để rồi bị cơ quan chức năng xử lý. Gần đây lại còn có thêm cả những kiểu “quăng status” với những câu ám chỉ về nhân sự để chứng tỏ sự am tường, hiểu biết.

Sự quan tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân với công tác nhân sự là hết sức chính đáng, nhưng đừng để các thế lực thù địch lợi dụng sự quan tâm đó nhằm phá hoại công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta có nhiều quy định, đạo luật để tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Mỗi người tùy theo địa vị, năng lực, cấp độ đều có thể bày tỏ sự quan tâm, đóng góp ý kiến và cả thực hiện quyền bầu cử để lựa chọn nhân sự.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương. Phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng.

Như vậy, quan tâm đến công tác nhân sự là điều đáng mừng, nhưng quan trọng là phải đúng cách. Và với mỗi đảng viên thì lại càng cần phải tiên phong gương mẫu, thực hiện đúng quan điểm đường lối về công tác nhân sự cũng như tỉnh táo, tích cực đấu tranh trước những luận điệu sai trái, thù địch.

 

 

NVH40 - Cảnh giác thủ đoạn xuyên tạc Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015,sửa đổi, bổ sung năm 2017

 

            Năm 1991, Nhà nước ta đã sửa đổi quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, trong đó bổ sung thêm một tội mới là “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Quy định về tội phạm này được tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi tại Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong thực tế, mặc dù tỷ lệ các vụ án lợi dụng quyền khiếu nại tố cáo, quyền tự do báo chí xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trên tổng số các vụ án hình sự được đưa xét xử hăng năm rất thấp song do tính chất nhạy cảm nên được dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối cũng lợi dụng vấn đề này để vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Gần đây nhất, vào ngày 02/7/2023 trên trang facebook của tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã đăng bài viết với tựa đề “LUẬT 331 KHÔNG CHỪA MỘT AI!” của  tác giả Hạnh Nhân, nội dung bài viết đã cố tình bịa đặt, nói xấu đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản, chúng xuyên tạc Điều 331 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Thực chất của bài viết đang cố tình tạo cho mình một vành đai an toàn nằm trong lợi ích nhóm, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để thực hiện các hoạt động chống phá mà không bị chế tài, pháp luật xử lý, đồng thời, chúng hướng dư luận theo một cách khác gây tâm lý bất ổn, hoang mang cho người dân qua đó để tạo áp lực dư luận đòi hỏi phải xóa bỏ hoặc thay đổi nội dung của điều luật này.

Trong thực tế, việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là một yêu cầu hoàn toàn mang tính khách quan, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới; đòi hỏi về bảo vệ nhân quyền ngày một cao trong xã hội và nhân dân; đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Trong những năm qua, nhìn chung tình hình an an ninh quốc gia của Việt Nam tương đối ổn định hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Có được sự ổn định này là do sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị đất nước. Tuy nhiên, trong một thế giới phẳng trong đó không gian địa lý giữa các quốc gia ngày càng bị thu hẹp do sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, toàn cầu hóa không chỉ về kinh tế mà còn cả về văn hóa là một xu thế không thể đảo ngược thì an ninh quốc gia của mỗi nước cũng có sự phụ thuộc vào tình an ninh khu vực, an ninh toàn cầu và an ninh cả từ phía các quốc gia khác. An ninh quốc gia Việt Nam hiện nay chịu sự tác động từ nhiều yếu tố bên ngoài, trong đó có vấn đề sự chống phá của các thế lực thù địch và chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Liên quan đến tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, vấn đề nổi lên hiện nay là sự can thiệp của các thế lực thù địch nước ngoài vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền. Phụ họa và làm tay sai cho nước ngoài là những phần tử phản động người Việt, vì lợi ích và động cơ cá nhân bán rẻ đất nước. Để nhận được những đồng tiền tài trợ của nước ngoài, những phần tử này đã thực hiện nhiều hành vi phá hoại sự nghiệp đổi mới của đất nước, bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi lem những thành quả mà nhân dân ta đã phải đổ mồ hôi,  xương máu trong khó khăn, gian khổ mới có được. Nguy hiểm hơn, chúng lại thực hiện hành vi phạm tội dưới những hình thức hết sức tinh vi, xảo quyệt. Một mặt, chúng vừa công khai, trắng trợn chống phá chế độ, mặt khác, chúng lợi dụng các quyền tự do dân chủ hợp pháp mà Hiến pháp và pháp luật quy định để thực hiện các hoạt động chống đối. Thực tế này đòi hỏi các nhà làm luật Việt Nam phải không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự nói chung, quy định về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói riêng, qua đó tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho các cơ quan chuyên trách trong việc đấu tranh, phòng ngừa, hạn chế, đi đến loại trừ khả năng đối tượng phạm tội có thể thực hiện tội phạm của chúng bằng cách sử dụng thủ đoạn nói trên.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng là: Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương.” Trong Nhà nước pháp quyền, vai trò của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng vô cùng quan trọng. Pháp luật không chỉ là cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của các tổ chức, công dân. Mọi công dân được hưởng đầy đủ các quyền, bao gồm cả quyền tự do, dân chủ do pháp luật quy định, nhưng đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của bản thân, phải nghiêm chỉnh, tự giác chấp hành các quy định của Hiến pháp và pháp luật, không được phép lợi dụng quyền tự do dân chủ để gây rối, phá hoại trật tự chung. Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội. Làm cho dân biết, dân hiểu, dân ủng hộ và tích cực tham gia cùng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động đấu tranh với hành vi phạm tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Không chỉ riêng Việt Nam và tại nhiều quốc gia trên thế giới, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân cũng được quy định rất cụ thể. Tại Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 khẳng định “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra, bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”. Hàng loạt các quốc gia cũng đặt ra những điều khoản cụ thể để ngăn chặn việc lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm các mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Ví dụ: Hiến pháp Đức quy định “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền…làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”. Các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức hoặc công dân được luật hình sự Trung Quốc cá thể hóa thành nhiều tội phạm cụ thể như: Điều 296 BLHS năm 1997 của Trung Quốc quy định: Người nào tiến hành tụ tập, diễn hành thị uy mà không xin phép theo quy định của pháp luật hoặc đã xin phép những chưa được sự đồng ý, hoặc không căn cứ vào thời gian, địa điểm, tuyến đường cho phép của cơ quan chủ quản, chống lại mệnh lệnh giải tán, phá hoại nghiêm trọng trật tự xã hội, thì người chịu trách nhiệm trực tiếp và những người phụ trách việc tụ tập, diễn hành, thị uy bị phạt tù đến 5 năm, cải tạo lao động, quản chế hoặc bị tước quyền lợi chính trịĐiều 300 BLHS năm 1997 của Trung Quốc quy định: Người nào tổ chức và lợi dụng các môn đạo, tổ chức tà giáo hoặc lợi dụng mê tín phá hoại pháp luật của Nhà nước và việc thực thi pháp quy hành chính, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm; nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù có thời hạn từ 7 năm trở lên”…

Đối với Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của công dân luôn được tôn trọng, đảm bảo và được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, công dân có các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo và các quyền tự do dân chủ khác. Công dân có thể thông qua nhiều hình thức đa dạng như qua báo chí, trang mạng xã hội để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguyên tắc chung là việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình không được xâm phạm đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức khác hay của Nhà nước. Nếu xâm phạm thì đó là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý bằng nhiều hình thức tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả,… trong đó có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 331 BLHS với mức hình phạt lên đến 7 năm tù. Lợi ích của Nhà nước có thể kể đến là lợi ích về kinh tế, chính trị, ngoại giao, uy tín của chính quyền,… quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bao gồm các quyền về kinh tế, chính trị, dân sự… được pháp luật quy định. Đây chính là những quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vì nó phản ánh những lợi ích cơ bản của những người lao động và của xã hội Việt Nam. Hành vi vi phạm được biểu hiện rất đa dạng, đó có thể là việc sử dụng mạng xã hội để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt gây phương hại đến lợi ích người khác; lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để hạ bệ, tấn công người khác,…

Trong lịch sử lập pháp Việt Nam hiện đại từ năm 1945 đến nay, quá trình hình thành quy định về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân gắn liền với việc ghi nhận và cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân phải được quy định song hành với nhau. Nhà nước công nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, đồng thời cũng yêu cầu công dân thực hiện các quyền ấy với tinh thần xây dựng, không lợi dụng quyền để xâm hại lợi ích của người khác và lợi ích công cộng.

Theo đó, Điều 331 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định rất rõ về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân như sau: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước,  quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Điều luật đã thể hiện được quyền bình đẳng, dân chủ, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển sáng tạo của xã hội. Nhà nước ta luôn luôn coi trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật Nhà nước. Mặt khác điều luật được xây dựng nhằm duy trì xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ công dân, mỗi tổ chức, mà bản thân Nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật.

Việc ban hành quy định tại Điều 331 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn mang tính khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này trong xã hội, không để các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Bên cạnh đó, cùng với việc sửa đổi, bổ sung BLHS, để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cần áp dụng đồng thời nhiều biện pháp để phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh hành vi này; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là các quy định pháp luật liên quan đến các quyền tự do dân chủ của công dân; tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp, nâng cao năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tư pháp.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...