Năm 1965, trước sự thất bại của
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ càng thấy rõ tầm quan trọng của vấn
đề ruộng đất đối với nông dân miền Nam. Sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm
với chính sách “cải cách điền địa”, sự tan rã của hệ thống ấp chiến lược -
xương sống của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đã buộc đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gòn xem xét lại chính sách đối với nông dân, với hy vọng lôi kéo họ về
phía chúng, tách họ ra khỏi lực lượng cách mạng. Cùng với việc ồ ạt đưa quân Mỹ
vào tham chiến, gây ra cuộc “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá
hoại ở miền Bắc, đế quốc Mỹ đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “bình định” nông thôn, thực
hiện cải cách điền địa, cải cách nông thôn nhằm “thu phục trái tim và khối óc của
nông dân”.
Rút kinh nghiệm thất bại từ
chương trình “cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm, lần này đế quốc Mỹ tỏ ra thận
trọng hơn trong việc tiến hành cải cách đối với nông thôn. Mỹ huy động một lực
lượng lớn chuyên gia, bỏ ra nhiều tiền của để điều tra, khảo sát, nghiên cứu nhằm
tìm ra một chính sách và biện pháp hợp lý trong vấn đề ruộng đất và nông dân. Hầu
hết các công trình khảo sát, nghiên cứu đều phê phán gay gắt chương trình “cải
cách điền địa” của Ngô Đình Diệm, coi đó là một thất bại. Cả Mỹ và chính quyền
Sài Gòn đều xác định rõ: “Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, cải cách điền địa
là một biện pháp kinh tế nhằm thực hiện một mục tiêu chính trị. Cải cách điền địa
đóng góp vào chiến thắng bằng cách làm cho nông dân bỏ thái độ thờ ơ, thụ động
và giúp đỡ trực tiếp Việt Cộng hiện nay và quay ra hậu thuẫn cho chính phủ Việt
Nam Cộng hòa… nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh” .
Trên cơ sở kết quả của các công
trình nghiên cứu cùng với sự viện trợ của Mỹ, ngày 26 tháng 3 năm 1970, chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Luật Người cày có ruộng. Đây là một bộ luật
quan trọng và cốt lõi nhất trong các chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
nhằm giành nông dân về phía chúng. Luật gồm 6 chương, 22 điều, với những nội
dung cơ bản là: hạ thấp suất lưu trí để lại cho địa chủ từ 100 héc ta (theo Dụ
số 57 của Luật Cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm) xuống còn 15 héc ta ở Nam Bộ
và 5 héc ta ở Trung Bộ; cấp không ruộng đất cho nông dân; xoá bỏ chế độ tá
canh. Về nội dung, Luật Người cày có ruộng trước hết nhằm xóa bỏ giai cấp địa
chủ và chế độ tá canh, tạo điều kiện chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ
nghĩa. Đối với nông dân, Luật Người cày có ruộng khác với chương trình “Cải
cách điền địa” trước đây của Ngô Đình Diệm. Nếu trước đây, Ngô Đình Diệm bắt
nông dân phải phải ký khế ước lĩnh canh với địa chủ và mua ruộng đất của địa chủ
bị truất hữu, thì nay Nguyễn Văn Thiệu đem ruộng truất hữu của địa chủ cấp
không cho mỗi gia đình nông dân tối đa là 3 héc ta ở Nam Bộ và 1 héc ta ở Trung
Bộ. Theo Niên giám thống kê Việt Nam cộng hòa, kể từ ngày tuyên bố chương trình
“Người cày có ruộng” cho đến năm 1973, số diện tích mà chính quyền Nguyễn Văn
Thiệu cấp phát cho nông dân là 1.142.658 héc ta.
Như vậy, so với “cải cách điền địa” của Ngô Đình
Diệm, luật “Người cày có ruộng” của Nguyễn Văn Thiệu rõ ràng có một bước tiến
đáng kể. Trước hết, luật này xoá bỏ chế độ tá canh, xoá bỏ quan hệ sản xuất
phong kiến đã lỗi thời. Sau nữa, việc cấp bằng “chứng khoán” đã khẳng định quyền
sở hữu ruộng đất của nông dân về mặt pháp lý. Điểm mấu chốt nữa là Luật Người
cày có ruộng của Nguyễn Văn Thiệu đã tạo ra ở nông thôn miền Nam tầng lớp tiểu
nông với quy mô canh tác hợp lý, lấy đơn vị sản xuất cơ sở là nông trại gia
đình để kinh doanh sản xuất hàng hoá. Từ những mục đích như trên, Luật Người cày
có ruộng còn thể hiện ý đồ thâm độc và nham hiểm của Mỹ và chính quyền Sài Gòn,
chúng tính toán rằng bằng việc xoá bỏ chế độ tá canh, “hữu sản hóa nông dân”,
có thể làm cho nông dân thừa nhận rằng chính quyền Sài Gòn là người đem lại quyền
lợi ruộng đất cho họ, từ đó xoá bỏ được ảnh hưởng của cách mạng, lôi kéo nông
dân về phía chúng
Bài viết rất hay
Trả lờiXóa