Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

NV H39 - 10 dấu ấn tiêu biểu của Việt Nam năm 2022

 

Năm 2022, thế giới có nhiều biến động khó lường, tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam đã vượt qua khó khăn, thách thức để đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Sau đây là 10 dấu ấn tiêu biểu của Việt Nam năm 2022 do Báo Quân đội nhân dân bình chọn, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

1. Khống chế thành công dịch Covid-19

Với chính sách phòng, chống dịch đúng đắn, hiệu quả; sự quyết liệt, sát sao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; nỗ lực cống hiến, hy sinh của đội ngũ nhân viên y tế, Quân đội, Công an và sự đồng lòng của người dân, năm 2022, sau hơn hai năm ứng phó với đại dịch Covid-19, Việt Nam đã khống chế thành công đại dịch. Đây là điều kiện quan trọng để nước ta mở cửa trở lại nền kinh tế và các hoạt động xã hội trong trạng thái bình thường mới.

2. Trong bối cảnh kinh tế thế giới ảm đạm, GDP Việt Nam tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022

Với các giải pháp phục hồi nền kinh tế sau dịch Covid-19, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 ước đạt 8,02%, mức cao nhất giai đoạn 2011-2022. Kinh tế Việt Nam cũng ghi nhận những điểm sáng như: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân cả năm chỉ tăng 3,15% so với năm 2021 (vượt mục tiêu đề ra); năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 732,5 tỷ USD, tăng 9,5% so với năm trước... Cán cân thương mại hàng hóa năm 2022 ước tính xuất siêu 11,2 tỷ USD; GDP bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110USD, tăng 393USD so với năm 2021. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2022 ước đạt gần 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua. Kết quả đạt được nêu trên của Việt Nam được đánh giá cao trong bối cảnh kinh tế thế giới nhìn chung đang rất ảm đạm.

3. Một năm thành công của đối ngoại Việt Nam

Năm 2022 có nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lãnh đạo cấp cao nước ngoài đầu tiên tới thăm Trung Quốc sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm cấp nhà nước tới Singapore, Hàn Quốc, Indonesia; thăm chính thức Vương quốc Thái Lan và dự Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 29... Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, Hội nghị cấp cao ASEAN; thăm chính thức Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 45 năm ASEAN-EU... Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm chính thức Hungary, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Lào, Campuchia, Philippines, Australia, New Zealand; tham dự Đại hội đồng Liên Nghị viện các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 43 (AIPA-43)... Các vị lãnh đạo cấp cao các nước, các tổ chức quốc tế cũng nhộn nhịp tới thăm Việt Nam. Tại các diễn đàn đa phương, Việt Nam được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện khu vực châu Á-Thái Bình Dương; trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Điều đó một lần nữa cho thấy quyết tâm của Việt Nam và sự ủng hộ của quốc tế với Việt Nam trong việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, sẵn sàng làm bạn, đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

4. Kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử 76 năm Quốc hội Việt Nam

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất Quốc hội khóa XV diễn ra từ ngày 4-1 đến 11-1-2022 trở thành kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử 76 năm của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu quan trọng nhất của kỳ họp là kịp thời ban hành gói chính sách tài khóa trị giá khoảng 347.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời thông qua những quyết sách cực kỳ quan trọng cho việc phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nhờ tinh thần làm việc “từ sớm, từ xa”, những quyết sách được quyết định đúng thời điểm, trúng lĩnh vực, góp phần cực kỳ quan trọng để nước ta chớp thời cơ, đạt được những thành tựu nổi bật.

5. Đảng có nhiều quyết sách quan trọng trong định hướng phát triển đất nước

Năm 2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII của Đảng đã có các nghị quyết quan trọng về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao; về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng có các nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và kết luận về định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Bên cạnh đó, năm 2022, lần đầu tiên Bộ Chính trị ban hành 6 nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của 6 vùng kinh tế-xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là những quyết sách lớn, rất quan trọng định hướng cho sự phát triển của đất nước.

6. Xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ đại án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng

Trong năm 2022, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai quyết liệt. Nhiều vụ đại án tham nhũng, đại án kinh tế đã bị phanh phui, đã hoặc đang trong quá trình tố tụng để xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như: Vụ án Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19; vụ án đưa-nhận hối lộ liên quan “chuyến bay giải cứu”; các vụ án thao túng thị trường chứng khoán liên quan tới cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết, Công ty Cổ phần chứng khoán Trí Việt, Công ty Cổ phần Louis Holdings; vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh; vụ án "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát liên quan tới bà Trương Mỹ Lan; vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ..." xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) liên quan đến bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn...

Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18-11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, việc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. 

7. Việt Nam tổ chức thành công SEA Games 31

Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) đã diễn ra thành công rực rỡ. Công tác tổ chức của đại hội đã để lại những ấn tượng đẹp với đoàn thể thao các nước trong khu vực. Với 205 huy chương vàng (HCV), đoàn thể thao nước chủ nhà Việt Nam đã chính thức thiết lập kỷ lục mới về số HCV tại một kỳ SEA Games; trong đó bảo vệ thành công 2 huy chương vàng môn bóng đá nam và môn bóng đá nữ.

SEA Games 31 thành công trọn vẹn là kết quả của sự quyết tâm, trách nhiệm, nỗ lực của Chính phủ trong việc tổ chức một kỳ đại hội thể thao tầm cỡ khi đại dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường tại khu vực cũng như trên thế giới. Sự kiện này ngoài khẳng định vị thế của thể thao Việt Nam tại đấu trường thể thao khu vực, còn là dịp quảng bá hình ảnh của đất nước, con người, truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với các quốc gia Đông Nam Á.

8. Tổ chức thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022

Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 tại khu vực sân bay Gia Lâm (Hà Nội) là sự kiện lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Sự kiện thu hút sự tham gia của 174 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng từ 31 quốc gia và vùng lãnh thổ. Triển lãm đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tới tham quan; 52 đoàn khách nước ngoài từ 28 nước tham dự triển lãm và nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao. Triển lãm nhằm tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đối ngoại về quốc phòng; quảng bá, tuyên truyền năng lực, tiềm lực công nghệ, vũ khí, trang bị do công nghiệp quốc phòng Việt Nam sản xuất; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng, đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ để sản xuất trang bị kỹ thuật, trang bị hậu cần đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang; tìm hiểu xu hướng phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật trên thế giới...

9. Thị trường xăng dầu có nhiều biến động

Năm 2022 là một năm đặc biệt khó khăn đối với thị trường xăng dầu trong nước, giá cả tăng cao theo giá xăng dầu thế giới, nguồn cung hạn chế, một số thời điểm đã xảy ra tình trạng thiếu xăng dầu cục bộ ở một số địa phương. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các thương nhân sản xuất xăng dầu và thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tăng lượng nhập khẩu, tăng công suất sản xuất. Bộ Tài chính thực hiện điều chỉnh các chi phí trong giá cơ sở xăng dầu để phù hợp với thực tế phát sinh tại doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính tạo điều kiện về tín dụng và thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu xăng dầu... Đến nay, nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, tiêu dùng trong nước, không xảy ra tình trạng thiếu xăng dầu cục bộ.

10. Lần đầu tiên, Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam vào vòng chung kết World Cup 

Năm 2022 ghi dấu ấn thành công vang dội của bóng đá Việt Nam trên đấu trường khu vực và thế giới. Đặc biệt, với tinh thần thi đấu quả cảm, kỹ thuật tốt, chiến thuật hợp lý, lần đầu tiên Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam tiến vào vòng chung kết World Cup 2023. Đây là dấu ấn lịch sử của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam nói riêng và của bóng đá Việt Nam nói chung.

 

NVH39 - QUẢN LÝ DÂN CƯ TỪ SỐ HỘ KHẨU GIẤY SANG QUẢN LÝ BẰNG SỐ ĐỊNH DANH CÁ NHÂN

 

Nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thúc đẩy, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về cư trú việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển Chính phủ điện tử là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia hiện nay.

 Vì vậy, Luật Cư trú (sửa đổi năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/07/2021) với những quy định mới đã thay đổi phương thức quản lý công dân từ thủ công, sử dụng giấy tờ sang hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin; quản lý toàn dân thông qua mã định danh cá nhân cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Phương thức quản lý mới này là một bước đột phá trong cải cách hành chính, rất tiện ích, tạo thuận lợi cho cả người dân và cơ quan quản lý nhà nước. Công dân sau này không phải mang nhiều loại giấy tờ đi giao dịch hành chính.

Ngoài ra, ngày 22/12/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định 104 /2022/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ cô

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2023, gồm 15 điều, trong đó từ điều 01 đến điều 13 quy định việc sửa đổi, bổ sung các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công. 

Theo đó, từ ngày 01/01/2023, bỏ quy định về việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, chủ yếu thuộc nhiều lĩnh vực như: việc làm, bảo hiểm y tế, giáo dục, y tế, đất đai, thuế, nhà ở, nhà ở xã hội, điện lực, nuôi con nuôi… Thay vào đó, khi thực hiện các thủ tục trên, người dân chỉ cần xuất trình một trong các loại giấy tờ: Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Nghị định cũng bãi bỏ, thay thế một số cụm từ liên quan tới quy định về sổ hộ khẩu tại các nghị định liên quan tới một số lĩnh vực cụ thể như: điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; hộ tịch, người có công, bảo trợ xã hội…

Theo đó Khoản 3 Điều 38 Luật Cư trú quy định, kể từ ngày 01/01/2023, toàn bộ sổ hộ khẩu, sổ tạm trú bằng giấy sẽ không còn giá trị sử dụng. Những cuốn sổ đã cấp trước đây chỉ được sử dụng đến hết ngày 31/12/2022. Cơ quan nhà nước sẽ quản lý thông tin cư trú của người dân bằng phương thức sang phần mềm công nghệ hiện đại, hiệu quả hơn, thay vì thủ công như trước đây. Việc thay thế phương thức quản lý dân cư thông qua sổ hộ khẩu, sổ tạm trú bằng phương thức quản lý theo số định danh cá nhân, cập nhật thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân, giảm những chi phí mà hiện nay người dân, doanh nghiệp đang phải chi trả trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính. Công dân làm các thủ tục hành chính có liên quan sẽ không cần xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú mà sẽ được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thông qua mã số định danh cá nhân.

Khi quản lý cư trú bằng mã số định danh, người dân sẽ được cập nhật, khai thác thông tin của mình trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Việc tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi giải quyết các thủ tục hành chính sẽ thay thế cho việc phải xuất trình hoặc nộp bản sao có chứng thực các giấy tờ công dân khi thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và thời gian đi lại của nhân dân, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.

Việc bỏ sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy và thực hiện quản lý cư trú trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư còn là cơ sở quan trọng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tra cứu thông tin về công dân khi giải quyết các thủ tục hành chính; mặt khác, thông tin lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là nguồn để cung cấp chính xác, kịp thời thông tin cơ bản về dân cư phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chính đáng của công dân. 

Ngoài ra, ngày 22/12/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định 104 /2022/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công. 

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2023, gồm 15 điều, trong đó từ điều 01 đến điều 13 quy định việc sửa đổi, bổ sung các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công. 

Theo đó, từ ngày 01/01/2023, bỏ quy định về việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, chủ yếu thuộc nhiều lĩnh vực như: việc làm, bảo hiểm y tế, giáo dục, y tế, đất đai, thuế, nhà ở, nhà ở xã hội, điện lực, nuôi con nuôi… Thay vào đó, khi thực hiện các thủ tục trên, người dân chỉ cần xuất trình một trong các loại giấy tờ: Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Nghị định cũng bãi bỏ, thay thế một số cụm từ liên quan tới quy định về sổ hộ khẩu tại các nghị định liên quan tới một số lĩnh vực cụ thể như: điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; hộ tịch, người có công, bảo trợ xã hội…

 

NVH39 - CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TÁC VỀ “VI PHẠM NHÂN QUYỀN” Ở VIỆT NAM

 

Ngày nay, bên cạnh những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, những tác động tiêu cực của thông tin sai trái, độc hại trên Internet ngày càng gia tăng phức tạp. Lợi dụng sự phát triển của Internet, các thế lực thù địch, phản động ra sức sử dụng nó vào mục đích sai trái, chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Có thể thấy, khác với các hành vi vi phạm pháp luật truyền thống, hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Internet xâm hại tới rất nhiều quan hệ xã hội, nhiều lĩnh vực khác nhau như: chính trị, quân sự, an ninh, thương mại, văn hóa...Đăc biệt, trong lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản, lợi dụng chính sách khuyến khích người dân tham gia không gian mở trên Internet để khai thác, chia sẻ thông tin đã xuất hiện rất nhiều hành vi vi phạm trên môi trường mạng chủ yếu như: đăng, phát nội dung không được phép; thông tin, hoạt động báo chí trái phép; thông tin sai sự thật; đăng phát thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam; vi phạm quy định về quảng cáo; thông tin nói xấu lãnh tụ, nói xấu chế độ, bôi nhọ nhân phẩm của tổ chức, cá nhân; đưa các xuất bản phẩm có nội dung trái với đường lối, quan điểm của Đảng…

Thực tế tại các quốc gia trên thế giới đều cho thấy, khi công dân vi phạm pháp luật sẽ phải chịu xử lý theo quy định, không ngoại trừ đó là ai, hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào. Tuy nhiên, mỗi khi Việt Nam khởi tố, điều tra, xét xử công dân hoạt động trong lĩnh vực báo chí có hành vi vi phạm pháp luật, ngay lập tức một số tổ chức, hiệp hội phóng viên, ký giả quốc tế lại lớn tiếng cho rằng đó là "vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí". Không hề quan tâm đến pháp luật Việt Nam cũng như thực tế phát triển của báo chí Việt Nam, các tổ chức quốc tế tự nhận "đấu tranh cho tự do báo chí" hầu như chỉ chăm chăm tập trung vào việc cổ súy, bao biện cho hành vi sử dụng mạng xã hội để vi phạm pháp luật, đăng tải thông tin sai sự thật, thiếu kiểm chứng. Nực cười hơn, khi Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam xử phạt bằng hình thức đình bản, phạt tiền một số cơ quan báo chí vì đăng tải thông tin sai sự thật, thay vì việc ủng hộ thực thi pháp luật các tổ chức này lại đồng thanh kết luận đó là "một bước lùi đối với tự do báo chí"…

Có thể khẳng định, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ và thúc đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên, như mọi quốc gia tôn trọng pháp quyền trên thế giới, Nhà nước Việt Nam tuyệt đối không nhượng bộ, bỏ qua hành động vi phạm pháp luật dưới chiêu bài "tự do ngôn luận, tự do báo chí". Vì thế những tổ chức xưng danh phóng viên, ký giả quốc tế cần xem lại sự nhân danh cũng như hành động thực tế của họ để sớm điều chỉnh hành xử một cách văn minh, không đưa ra các báo cáo sai lệch, thiên vị, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia. Nếu không những hành vi đó sẽ tự làm tổn hại đến uy tín của chính họ và sẽ biến các tổ chức này trở thành lực cản, ngược chiều với xu hướng tự do, dân chủ, văn minh, tiến bộ của thế giới.

Minh chứng rõ rệt nhất là vừa qua, Việt Nam tiếp tục được cộng đồng quốc tế ủng hộ và đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việc trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền lần thứ hai thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến mọi mặt của đời sống con người, bởi vậy, giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đang tiếp tục hướng tới mục tiêu đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của người dân, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, đồng thời chủ động ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn sử dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để chống phá cách mạng Việt Nam.

NVE39 - 10 NĂM BỀN BỈ PHÒNG, CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM”

 

Cách đây tròn 10 năm, không khí đón Xuân Quý Mùi 2013 của các địa phương trên mọi miền Tổ quốc khá vui vẻ so với năm trước đó bởi kinh tế đất nước trong năm Nhâm Ngọ 2012 tăng trưởng khá cao, đời sống của nhân dân sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI đã được cải thiện đáng kể. Thế nhưng người dân vẫn còn băn khoăn, lo lắng bởi “quốc nạn tham nhũng” chưa được đầy lùi. Chính vì vậy, vào giáp Tết Nguyên đán Quý Mùi, khi nhận được thông tin, Bộ Chính trị có Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban, nhân dân khắp cả nước đều phấn khởi. Quyết định này được ban hành ngày 1-2-2013, tức ngày 21 tháng chạp năm Nhâm Ngọ. Ba ngày sau, tức ngày 4-2-2013, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã họp phiên đầu tiên (phiên thứ Nhất), dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Mở đầu phiên họp, đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã công bố Quyết định số 162-QĐ/TW ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, gồm 16 thành viên. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban. 5 Phó Trưởng ban gồm các đồng chí: Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ (nay là Chủ tịch nước); Uông Chu Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có 9 nhiệm vụ: Tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định chủ trương, định hướng về cơ chế, chính sách, pháp luật, giải pháp phòng, chống tham nhũng. Thảo luận, quyết định các nội dung công tác trọng tâm, chương trình làm việc hằng năm và kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo, đôn đốc, điều hòa phối hợp các cấp ủy, tổ chức đảng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai các nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng. Chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương thông qua hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của mình làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng; những sơ hở, bất hợp lý về cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền đưa ra biện pháp ngăn ngừa, khắc phục. Chỉ đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương phối hợp kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra trong phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo đôn đốc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương và cấp ủy viên, đảng viên có thẩm quyền trong xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng và xử lý các thông tin về vụ, việc tham nhũng do các cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp. Chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng còn có trách nhiệm chỉ đạo Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự Đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự Đảng Kiểm toán Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương và các cơ quan có liên quan báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; việc xử lý những vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo với Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.

Tại phiên họp, nhiều thành viên Ban Chỉ đạo đã đóng góp ý kiến về chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo; dự kiến phân công nhiệm vụ các thành viên; Chương trình công tác năm 2013 của Ban Chỉ đạo; một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cần quan tâm chỉ đạo, đôn đốc giải quyết; báo cáo tình hình công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, định hướng nhiệm vụ trong thời gian tới…

Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Phòng, chống tham nhũng là công việc vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự bền vững của chế độ nhưng cực kỳ khó khăn, phức tạp vì liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng, liên quan đến chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, động chạm đến những người có chức, có quyền.

Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã làm nhiều lần, làm quyết liệt nhiều việc, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm và phải làm lâu dài, làm quyết liệt hơn nữa, kiên trì, bền bỉ, không thể nóng vội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo lần này với mong muốn đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, vừa kế thừa những cái đã có trước, vừa có những điểm mới bổ sung, phát triển.

Đồng chí Tổng Bí thư lưu ý: Đối với những vụ án lớn, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng không sa vào xử lý từng vụ án cụ thể, không làm thay chức năng của cơ quan nhà nước; chỉ giám sát việc xử lý các vụ việc; phối hợp với các ngành, các cấp, đôn đốc làm đúng chức năng nhiệm vụ, theo quy định của pháp luật; cho định hướng chỉ đạo đối với một số vụ trọng điểm, phức tạp, để kéo dài, hoặc có ý kiến khác nhau. Mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực. Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con, phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được.

Mười năm qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã họp hơn hai chục lần. Mỗi lần họp, quân và dân cả nước lại trông mong, chờ đợi những quyết sách lớn, làm tăng thêm niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng. Năm 2022 vừa qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã được bổ sung thêm nhiệm vụ là phòng, chống tiêu cực. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng thành lập xong Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh.

Dù các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị có ra sức xuyên tạc sự thật về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Nhân dân đang kỳ vọng vào năm mới 2023, công cuộc phòng, chống “giặc nội xâm” của chúng ta sẽ thu được kết quả cao hơn, đánh dấu mốc 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.


NVE39 - "TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG", "DỌC NGANG THÔNG SUỐT" HIỆN THỰC HÓA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG

 

Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị của Chính phủ với lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vừa qua để lại dấu ấn sâu sắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Đặc biệt, bốn bài học mà Tổng Bí thư nêu ra là sự chắt lọc, kết tinh từ thực tiễn đất nước, có ý nghĩa rất lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đối với cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Năm 2022 có nhiều khó khăn, thách thức lớn với những diễn biến phức tạp hơn dự báo và có lĩnh vực khả năng còn khó khăn hơn nhiều trong năm 2023. Trong bối cảnh ấy, theo nhận định của Quỹ tiền tệ quốc tế, Việt Nam là điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.

Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém, hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ năm 2023, Tổng Bí thư cho rằng cần tiếp tục kế thừa, phát huy ba bài học đã được rút ra trước đây, đồng thời bổ sung thêm một bài học mới, đó là nâng cao hơn nữa năng lực dự báo, chủ động nắm chắc tình hình, xử lý hiệu quả các vấn đề nảy sinh,...

Đoàn kết thống nhất, bài học xuyên suốt mọi thời đại

Đây là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta được Tổng Bí thư nhắc đến nhiều lần trong các sự kiện chính trị quan trọng, hay các hội nghị toàn quốc quán triệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị gần đây.

Tại Hội nghị Chính phủ lần này, thêm một lần nữa, Tổng Bí thư nhấn mạnh bài học này: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện các quyết sách của Đảng.

Không phải ngẫu nhiên, những câu nói ấy được Tổng Bí thư nhiều lần nhắc đến trong các bài phát biểu. Đó là nhận thức của quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 93 năm qua. Tại hội nghị Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 16/8/2021, Tổng Bí thư phân tích rất sâu bài học quý này và cho rằng, đoàn kết là giá trị cốt lõi; đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là động lực to lớn làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Nhờ vận dụng và thực hiện sáng tạo bài học có ý nghĩa lịch sử ấy, giữa bao khó khăn, thách thức của năm vừa qua, như đại dịch Coivd-19, xung đột Nga-Ucraina kéo dài, toàn Đảng, toàn dân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi khá toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ, vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả.

Kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so kế hoạch 6% đến 6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn lại thực tiễn đó, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Lời dạy ấy đã trở thành chân lý.

Đã đoàn kết càng phải đoàn kết hơn nữa

Thành tựu đạt được trong năm 2022 tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đổi mới đất nước đúng đắn của Đảng ta. Nhưng Tổng Bí thư cũng lưu ý trong bài phát biểu, tuyệt nhiên không chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, bởi vì đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt là những khó khăn thách thức gay gắt, mới xuất hiện từ giữa tháng 10/2022 đến nay.

Năm 2023 là năm bản lề, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong khi đó, dự báo tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định.

Như một lẽ tự nhiên, càng đi vào đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước càng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức từ tác động bên ngoài và từ chính những vấn đề nội tại của đất nước. Bên cạnh việc cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh thương mại tiếp tục gay gắt; sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống diễn biến khó lường...

Khó khăn thách thức ngay từ khi dự báo tình hình - điều mà chúng ta đã phải quyết liệt ứng phó trong hai vừa năm qua. Chính vì thế, Tổng Bí thư đã bổ sung đây là một bài học quan trọng: “Nâng cao hơn nữa năng lực phân tích, dự báo; chủ động, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới của tình hình; kịp thời, quyết liệt xử lý có hiệu quả các vấn đề; làm việc nào dứt điểm việc đó, không để kéo dài, gây ách tắc, lãng phí nguồn lực; thích ứng linh hoạt với các tình huống mới phát sinh”.

Nhờ đoàn kết, thống nhất mà chúng ta vượt qua muôn vàn khó khăn để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Bài học không bao giờ quên là đã đoàn kết thì trong khó khăn càng phải đoàn kết hơn bao giờ hết. Đoàn kết để thống nhất khi đánh giá tình hình đất nước, cái gì làm tốt thì phát huy, đâu là tồn tại, yếu kém, cùng tìm cách khắc phục, tuyệt đối không được “cua cậy càng, cá cậy vây” như Tổng Bí thư nhiều lần nhắc nhở.

Trong bối cảnh có nhiều diễn biến khó lường, khó dự báo như hiện nay càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, hội tụ trí tuệ tập thể, phân tích, nhận định tình hình sát thực tế để có giải pháp hiệu quả. Mỗi khi gặp khó khăn càng phải đoàn kết, thống nhất mới vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào đồng chí, đồng đội và nhân dân. Từ đó để thống nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp chung. Đây là bài học từ lịch sử và cũng là đòi hỏi từ thực tiễn hiện nay, nhất là khi giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.

Theo Tổng Bí thư, để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải đoàn kết trong Đảng; đoàn kết trong Đảng là nền tảng, là tiền đề nâng cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những năm qua, nhờ đoàn kết trong Đảng, chúng ta đã phát huy được sức mạnh đoàn kết trong nhân dân; tranh thủ được sự đồng thuận, đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên, góp ý kịp thời của cán bộ, đảng viên, các đồng chí lão thành, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tin, báo chí,... tạo nên sức mạnh tổng hợp, sự đồng tâm nhất trí của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Muốn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, không thể không chăm lo làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương.

Trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết loại bỏ những người vướng vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền; khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,...

Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là định hướng hành động cho Chính phủ mà còn mang đến cho cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên, nhân dân nhiều thông tin quan trọng, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước, đã đoàn kết, đoàn kết hơn nữa “Trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt” hiện thực hóa nghị quyết của Đảng.

NVD39 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐÒI “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Trong thời gian gần đây, một số cá nhân lợi dụng việc chậm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp, tình trạng tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và việc hoạt động chưa thật sự hiệu quả của một số thiết chế trong bộ máy nhà nước... để phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước và tung hô, cường điệu hóa, lý tưởng hóa học thuyết “tam quyền phân lập”. Đây là những luận điệu không mới và đã được các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, kích động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.

Có thể khẳng định ngay rằng, đó là luận điệu sai trái, cực đoan và cơ hội chính trị. Học thuyết “tam quyền phân lập” được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức và một số nước phương Tây mặc dù có mang lại một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu, tham khảo, nhưng không nên vì thế mà cường điệu hóa, lý tưởng hóa và xem nó như là chìa khóa vạn năng của “dân chủ - pháp quyền”, của kiểm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa tham nhũng với những lý do sau đây:

Thứ nhất, về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tư tưởng “tam quyền phân lập” được các nhà hiền triết đề xướng từ thời La Mã cổ đại, nhưng với tư cách là một học thuyết, có thể nói nó là sản phẩm của nền dân chủ phương Tây, gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của kiểu tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến với toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào tay một người là Vua, theo quan niệm Vua là con trời, thể theo lòng trời mà làm vua, ý vua là pháp luật cao nhất. Có thể xem, đây là một học thuyết có giá trị về chính trị - kỹ thuật pháp lý rất to lớn trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi, hạt nhân hợp lý nhất của học thuyết này, là khi quan niệm quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành từ ba quyền cơ bản lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền được giao cho các cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập tương đối với nhau. Giữa ba quyền này có sự kiểm soát, đối trọng lẫn nhau. Với quan niệm đó, học thuyết phân quyền là sự phủ định biện chứng đối với các nhà nước chuyên chế tập quyền.

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nêu ra mặt tiến bộ của học thuyết về “tam quyền phân lập” đã nhấn mạnh rằng, sự phân chia quyền lực, thực chất, không phải là cái gì khác ngoài sự phân công lao động thực tế cơ cấu nhà nước nhằm làm đơn giản hóa và dễ kiểm soát. Ph.Ăngghen viết: “Sự phân quyền... trên thực tế chỉ là một sự phân công lao động tầm thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hóa và kiểm soát”. Dựa trên quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự cần thiết của việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong hiến pháp, nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đã có chung quan điểm: Sự phân chia quyền lực là hệ thống các chế định pháp luật  - nhà nước hướng tới bảo đảm các phương tiện pháp lý có sự độc lập tương đối của các cơ quan nhà nước với nhau.

Thứ hai, về phương diện thực tiễn, do những hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập” mà mức độ, tính chất và đặc điểm của sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế có sự khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Sự áp dụng học thuyết này trong nhà nước theo chính thể cộng hòa tổng thống khác với chính thể cộng hòa đại nghị hoặc chính thể cộng hòa hỗn hợp...; trong hình thức cấu trúc nhà nước liên bang khác với hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất.

Dựa trên học thuyết “tam quyền phân lập”, hơn hai thế kỷ nay, các nhà nước tư sản phương Tây đã tổ chức quyền lực nhà nước của mình. Tuy nhiên, việc vận dụng học thuyết đó là hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, không có nước nào giống nước nào. Cũng phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cách thức tổ chức mỗi quyền thì ở các nước khác nhau quy định rất khác nhau. Có nước thì phân quyền cứng rắn theo chính thể cộng hòa tổng thống (như nước Mỹ); có nước thì phân quyền mềm dẻo theo chính thể Cộng hòa đại nghị (như Liên bang Đức) hay chính thể quân chủ Lập hiến (như Vương quốc Anh); ngược lại, có nước phân quyền lưỡng tính theo chính thể Cộng hòa lưỡng tính (như Cộng hòa Pháp). Cũng tổ chức quyền lực nhà nước gồm ba quyền, nhưng có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp không có sự độc lập, đối trọng chế ước lẫn nhau (như nước Anh) mà dựa vào phe đối lập thiểu số trong Nghị viện. Có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp lại độc lập, kiềm chế và đối trọng một cách cứng rắn (như nước Mỹ); có nước kiềm chế đối trọng một cách mềm dẻo giữa các quyền (như ở Đức). Việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản là rất khác nhau. Bởi tổ chức quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và kỹ thuật pháp lý, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố từ tương quan lực lượng giữa các giai cấp, nhất là trong nội bộ của giai cấp cầm quyền, từ đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở trong nước và trên trường quốc tế, tư tưởng lập hiến của những người đương thời,… Tất cả các yếu tố đó đều là những nhân tố chi phối và ảnh hưởng đến việc vận dụng học thuyết phân quyền, trong tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi nước. Vì thế, không thể nói phân quyền theo nước này thì tốt nước kia thì không tốt, theo mô hình này thì dân chủ, theo mô hình kia thì không có dân chủ. Vì thế, tuyệt nhiên không có sự sao chép, rập khuôn máy móc mô hình phân quyền của nước này cho nước kia; đòi hỏi tổ chức quyền lực nhà nước của nước này phải giống nước kia mới có dân chủ và nhân quyền như một số người mong muốn.

Thứ ba, về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Tư tưởng phân quyền, về bản chất, đối lập với tư tưởng thống nhất quyền lực. G.G.Rútxô phủ nhận sự phân chia quyền lực về mặt chính trị - xã hội và cho rằng, quyền lực cần phải bắt nguồn từ nhân dân. Nói đúng hơn, đó không phải là sự phân chia quyền lực, mà là sự phân công chức năng giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất.

Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Vì thế, những cố gắng phân quyền trong các hiến pháp tư sản đã bị phá sản trong thực tiễn; tư tưởng của những người “sáng lập” ra nó cũng trở nên vô ích.

Ở Việt Nam, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta. Với sự hoàn thiện này, nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân được xác định bởi bốn nội dung quan trọng: thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước ta dựa trên quan điểm về sự thống nhất quyền lực: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” của tư tưởng dân chủ XHCN.

Nguyên lý này không những được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta mà hầu hết các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Theo đó, nhân dân thực hiện quyền dân chủ đại diện bằng cách trao một phần quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp, đồng thời giữ lại một phần quyền lực của mình để thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp. Hiến pháp 2013 khẳng định rõ nguyên tắc phân công phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp khi quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Thực tế ở nước ta chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã chỉ ra.

Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp. Ngược lại, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống nhất. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là Nhân dân.

Từ những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn như đã phân tích ở trên, chúng ta khẳng định rằng: “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam, bởi lẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào là phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Ở nước ta, Nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước, quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của Nhân dân, chứ không thể phân chia. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được bảo đảm thực hiện bởi sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực tiễn và kinh nghiệm qua hơn 35 năm đổi cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không “tam quyền phân lập” mà thống nhất quyền lực của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hơp và kiểm soát giữ các cơ quan nhà nước trong viêc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

NVB39 - TẾT NGUYÊN ĐÁN – NÉT ĐẸP VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI VIỆT

 

Tết cổ truyền là ngày lễ lớn nhất trong năm, mang ý nghĩa quan trọng. Nếu chúng ta từng biết đến một lễ Giáng sinh an lành và ý nghĩa đối với các nước phương Tây (theo đạo Thiên Chúa giáo) thì Tết Nguyên Đán được coi là một ngày lễ đặc biệt của người Việt Nam. Với những tên gọi khác nhau như Tết cổ truyền, Tết Nguyên Đán, Tết âm lịch, hay Tết Cả,… đều thể hiện ngày đặc biệt ý nghĩa quan trọng trong năm. Do cách tính Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành tròn khuyết của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán thường đến muộn hơn Tết Dương lịch và quy luật 3 năm nhuận 1 tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21/1 Dương lịch và sau ngày 19/2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài từ 7-8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày của đầu năm mới (tức là từ 23 tháng Chạp – hết mùng 7 tháng Giêng).

 Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự trường tồn trong cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh.

 Tết được xem là một ngày tốt đẹp nên một trong những ý nghĩa Tết Nguyên Đán chính là dịp giao hòa giữa trời đất, con người với thần linh. Do đó, nhiều người tin tưởng rằng những ý nghĩa, mong ước hay hành động của mình sẽ được tất cả các vị thần linh thấu hiểu và ban phước lành cho bản thân cũng như gia đình mình. Vì thế, trong dịp Tết Nguyên Đán người ta thường làm rất nhiều việc thiện như tặng quần áo mới, chia sẻ miếng ăn, giúp đỡ người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn.

 Tết Âm lịch luôn là một trong những dịp có kỳ nghỉ dài nhất trong năm, vì vậy mọi người thường tạm gác công việc của mình để về quê thăm gia đình cũng như sum họp, quây quần bên nhau sau những khoảng thời gian dài xa cách vì miếng cơm manh áo hay cuốn vào guồng quay của cuộc sống thường nhật. Những khoảnh khắc đoàn viên trong gia đình thật quý báu và thiêng liêng làm cho ý nghĩa Tết Nguyên Đán trở nên hạnh phúc biết nhường nào. Không những vậy, ngày Tết Nguyên Đán còn là dịp để mọi người cùng nhau thể hiện sự yêu thương hòa thuận, quan tâm, che chở và gửi tặng nhau những lời chúc chân thành, tốt đẹp nhất cho nhau. Vào những ngày tết ấm áp như thế, người lớn lẫn trẻ em đều hạn chế những hiềm khích, cãi vã tạo nên một không gian hòa thuận, gần gũi trọn vẹn nhất.

 Không chỉ riêng gì Tết Nguyên Đán mà dường như trong năm luôn có những ngày lễ tạ ơn tổ tiên và hướng về cội nguồn như ngày giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3, ngày rằm tháng bảy… Nhưng theo phong tục tập quán của dân tộc ta, trước khi Tết đến vào những ngày cuối năm thì nhà nhà, người người đều có tập tục đi tảo mộ ông bà, tổ tiên để hướng về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi người. Rồi trong đêm giao thừa, trên bàn thờ ông bà tổ tiên luôn nghi ngút khói hương để thể hiện sự biết ơn của con cháu dành cho những người đã mất. Đặc biệt, trong những ngày Tết Nguyên Đán, bàn thờ lúc nào cũng đầy ắp mứt trái cây, bánh chưng, hoa quả để tỏ tạ ơn trời đất; lòng kính yêu, đạo hiếu vốn có từ xa xưa của dân tộc ta.

 Một ý nghĩa Tết Nguyên Đán mà ai ai cũng biết, đó chính là ngày rước tài lộc. Bởi nhiều người quan niệm rằng Tết đến cũng là ngày ông Thần Tài gõ cửa từng nhà để ban tiền tài, thịnh vượng. Vì vậy, mọi người luôn luôn tranh thủ trong dịp này để mở rộng cổng nhà chào đón rước tài lộc vào nhà, cũng như rước những điều may mắn tốt đẹp giàu có nhất từ ông Thần Tài. Đa số nhiều gia đình thường mở cửa suốt cả ngày để chào đón niềm vui, sự phấn khởi cùng những hy vọng về tiền tài luôn đầy ắp.

 Rất nhiều người cho rằng: những ngày đầu năm mới là ngày may mắn, tốt đẹp và sự may mắn ấy luôn hòa quyện trên sắc thắm của cánh hoa đào, rực rỡ màu vàng của hoa mai hay những chiếc lá non xanh hoặc trong những mâm ngũ quả. Vì vậy, rất nhiều người khi đi hái lộc trong đêm giao thừa thường ngắt một vài cành hoa tươi để mang về nhà với hy vọng họ sẽ thu thập được nhiều may mắn của mùa xuân.

 Người Việt Nam ta còn tin rằng ý nghĩa Tết Nguyên Đán chính là khởi đầu cho một năm mới, là ngày lạc quan và hy vọng với nhiều niềm tin, đổi mới đồng thời tạm biệt những quá khứ của năm cũ. Và gắn với ý nghĩa Tết Nguyên Đán đặc biệt này người ta thường tân trang lại nhà cửa cho thật sạch đẹp, ngăn nắp mới mẻ để chào đón những cái mới của năm mới. Những gì không may mắn, thuận lợi của năm cũ sẽ được xua đuổi đi để chào đón lạc quan, hy vọng mới mẻ sẽ đến.

 Trong suy nghĩ của rất nhiều người, ngày Tết cũng chính là ngày ông Tơ bà Nguyệt, ông Mai bà Mối sẽ se duyên cho những người còn đang độc thân, lận đận trong chuyện tình cảm. Bởi thế mà ngày Tết luôn là ngày cầu duyên, nên duyên và đẹp đôi tại nhiều nơi, nên những bài hát nhạc đám cưới cứ tưng bừng rộn rã vang lên cùng với những bài chào đón mùa xuân rất sôi động, náo nhiệt.

 Trong 365 ngày qua chúng ta có lúc hối hả tất bật, có lúc lại chợt thấy thanh thản, bình yên sau những ngày tháng bận rộn. Dường như hôm nay, những ngày cuối năm mọi lo toan, mọi gánh nặng đều được trút bỏ, để thấy những khoảnh khắc yên lắng, là chan chứa, yêu thương…

NVB39 - Tam quyền phân lập không phù hợp với thể chế chính trị ở nước ta

 

            Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo việc củng cố, từng bước hoàn thiện bộ máy nhà nước. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta hết sức coi trọng việc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; đồng thời, có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước.


             Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta.

Với sự hoàn thiện này, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta được xác định bởi bốn nội dung quan trọng: thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Trong suốt quá trình xây dựng Hiến pháp, thực thi Hiến pháp một số người đã cổ súy cho việc thực hiện cái gọi là “tam quyền phân lập”, đòi tách biệt quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để “kiềm chế”, “đối trọng” giữa ba quyền này theo mô hình nhà nước tư sản. Mục đích của vấn đề là chúng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xoá bỏ vài trò lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng đối với toàn xã hội. Đây là những luận điệu không mới và đã được các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, kích động nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


            Cần khẳng định “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với thể chế chính trị nước ta, bởi lẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào là phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Ở nước ta, nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước, quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của nhân dân, chứ không thể phân chia, chia cắt, phân rã. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được bảo đảm thực hiện bởi sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp (tức là nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội, giám sát hoạt động của Nhà nước) và dân chủ đại diện (tức là nhân dân phân công và ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước).


            Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ chính trị, xã hội, pháp lý của mình đều hướng tới phục vụ nhân dân, thực hiện “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, không để lập pháp vị lập pháp, hành pháp vị hành pháp, tư pháp vị tư pháp như các thể chế “tam quyền phân lập”. Quyền lực nhà nước là thống nhất do tất cả quyền lực nhà nước thuộc nhân dân và thống nhất về mục tiêu chính trị: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự phân công rành mạch giữa các cơ quan nhà nước là tiền đề quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mặt khác, sự phân công đó cũng rất cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia ổn định, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Yếu tố kiểm soát ở đây không phải là sự “kiềm chế”, “đối trọng”, mà là để tăng sự giám sát giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước.


            Như vậy chúng ta có thể khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

 

NVA39 -Một số chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ năm 2022

 

HSQ, BS phục vụ tại ngũ thời hạn đủ 30 tháng, khi xuất ngũ được trợ cấp thêm hai tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng; trường hợp xuất ngũ trước thời hạn 30 tháng thì thời gian phục vụ tại ngũ từ tháng thứ 25 đến dưới 30 tháng được trợ cấp thêm một tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng. HSQ, BS hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ theo quy định được trợ cấp tạo việc làm bằng 6 tháng tiền lương cơ sở. Khi xuất ngũ, HSQ, BS được đơn vị tổ chức buổi gặp mặt chia tay, mức chi 50.000 đồng/người; được đơn vị tiễn và đưa về địa phương nơi cư trú theo quy định hoặc cấp tiền tàu, xe (loại phổ thông) và phụ cấp đi đường từ đơn vị về nơi cư trú.

Nếu HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang học tập hoặc có giấy gọi vào học tại các trường thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học thì được bảo lưu kết quả, được tiếp nhận vào học tại các trường đó. Trường hợp HSQ, BS hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, khi xuất ngũ nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề thì được hỗ trợ đào tạo nghề theo quy định tại Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 9-7-2015 của Chính phủ, quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm.

HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội thì khi xuất ngũ, cơ quan, tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm thu nhập không thấp hơn trước khi nhập ngũ; trường hợp cơ quan, tổ chức đó đã giải thể thì cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm bố trí việc làm phù hợp. Trường hợp cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp đó đã giải thể hoặc không có cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp thì sở lao động-thương binh và xã hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan cùng cấp để giải quyết việc làm.

HSQ, BS trước khi nhập ngũ đang làm việc tại tổ chức kinh tế thì khi xuất ngũ, tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm tiền lương, tiền công tương xứng với vị trí việc làm và tiền lương, tiền công trước khi nhập ngũ; trường hợp tổ chức kinh tế đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc phá sản thì việc giải quyết chế độ, chính sách đối với HSQ, BS xuất ngũ được thực hiện như đối với người lao động của tổ chức kinh tế đó theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành; cơ quan BHXH địa phương nơi tổ chức kinh tế nói trên đóng BHXH chịu trách nhiệm thanh toán chế độ BHXH theo quy định hiện hành.

HSQ, BS được tiếp nhận vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức, các cơ sở kinh tế thuộc các thành phần kinh tế được xếp lương theo công việc đảm nhiệm, thời gian phục vụ tại ngũ được tính vào thời gian công tác và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của cơ sở kinh tế đó. HSQ, BS xuất ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 43 và khoản 1 Điều 48 Luật Nghĩa vụ quân sự, khi về địa phương được chính quyền các cấp, cơ quan, tổ chức ưu tiên sắp xếp việc làm và cộng điểm trong tuyển sinh, tuyển dụng công chức, viên chức; trong thời gian tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của ngạch tuyển dụng tương ứng với trình độ đào tạo.

Ngoài ra, khi hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề thì HSQ, BS còn được cấp thẻ học nghề bằng 12 tháng lương cơ sở và 1 túi quà Tết Nguyên đán theo hướng dẫn của Cục Tài chính (Bộ Quốc phòng).

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...