Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2024

NVB42 - “TỰ DO DÂN CHỦ” - CHIÊU BÀI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

“Tự do dân chủ”, một vấn đề không còn xa lạ trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng là một trong các vấn đề mà thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh hoạt động chống phá, xuyên tạc nhằm gây mất trật tự an ninh xã hội, để thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”.

Thời gian qua, một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ. 

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.


Đáng chú ý nhất, là vụ việc Nguyễn Phương Hằng cùng một số đối tượng tổ chức nhiều buổi livestream với nội dung thông tin không kiểm chứng, xâm phạm đời tư của người khác đã bị cơ quan chức năng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, một số tổ chức, hội nhóm phản động đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, kích động, vu khống các lực lượng chức năng. 

Ðiển hình như trên facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng: "Công an sử dụng Ðiều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái". Còn trang RFA đã phỏng vấn một số cá nhân tự phong là "nhà dân chủ", thiếu thiện chí với Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước, chính quyền, và cho rằng việc bắt Nguyễn Phương Hằng theo Ðiều 331 là "không hợp lý". 


Các đối tượng không ngừng rêu rao luận điệu nhằm xuyên tạc Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là "phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản. Các cơ quan chức năng thực hiện theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là vi phạm quyền tự do dân chủ, nhân quyền". Từ đó quy kết: "Ở Việt Nam, pháp luật không hề tồn tại, quyền dân chủ ở Việt Nam bị bóp nghẹt"; đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ điều luật này với lập luận rằng "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ - một điều luật hoàn toàn thừa thãi", "đây là điều luật mơ hồ", "được tạo ra để chụp mũ lên bất kỳ đối tượng nào mà Việt Nam muốn trừng trị", "cần xóa bỏ điều luật này khỏi Bộ luật Hình sự",...


Một thủ đoạn quen thuộc được các đối tượng chống phá tiếp tục sử dụng đó là "tôn vinh" những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền", để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". 


Có thể nhận thấy mục đích mà các đối tượng kêu gọi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của Nhà nước.


Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. 


Liên quan đến quyền tự do dân chủ, một căn cứ quan trọng để soi chiếu đó là Khoản 2 Ðiều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948: "Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn".

Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác".

Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta. 


Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước.

 

 

NVB42 - VIỆT NAM RẤT QUAN TÂM VÀ TÔN TRỌNG LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG CỦA CAMPUCHIA

 

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc vùng hạ lưu sông Mekong, đều có nguồn gốc nền văn minh lúa nước với lịch sử lâu đời ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt đều có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, là tâm điểm kết nối khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Với nhiều điểm tương đồng, hai nước luôn gần gũi, gắn bó, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Sáng 5-8, Campuchia đã tổ chức lễ động thổ, chính thức khởi công dự án kênh đào Phù Nam Techo (Funan Techo). Lễ động thổ, khởi công kênh đào Phù Nam Techo diễn ra tại thôn Prek Takeo, xã Samrong Thom, huyện Kean Svay, tỉnh Kandal. Khu vực này cách trung tâm thủ đô Phnom Penh khoảng 35km và cũng là điểm khởi đầu của kênh đào Phù Nam Techo tương lai. Dự án kênh đào Phù Nam Techo của Campuchia còn được gọi là Dự án Hệ thống Hậu cần và Đường bộ Giao thông Tonle Bassac. 

Kênh đào dự kiến dài 180km, nối các cảng biển của Campuchia ở phía tây nam với sông Mekong, tạo ra một tuyến đường thủy qua các khu vực trọng điểm như Kadal, Takeo và Kampot, tới bờ biển và quan trọng hơn là tới cảng nước sâu duy nhất của Campuchia tại Sihanoukville. Kênh Phù Nam Techo dự kiến rộng 100m ở thượng lưu và 80m ở hạ lưu, độ sâu 5,4m, tạo ra hai làn đường vận chuyển cho tàu có trọng tải lên tới 3.000 tấn.

Dự án này nằm trong số các dự án cơ sở hạ tầng ưu tiên được chính phủ của Thủ tướng Campuchia Hun Manet công bố kể từ tháng 8/2023. Dự án dự kiến ước tính sẽ mất 4 năm để hoàn thành.

Lãnh đạo hai Đảng đã khẳng định truyền thống lịch sử quan hệ đoàn kết, gắn bó Việt Nam-Campuchia là nhân tố hết sức quan trọng, là nguồn sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập trước đây cũng như công cuộc xây dựng và phát triển của mỗi nước ngày nay.

Việt Nam luôn ủng hộ, vui mừng và đánh giá cao về những thành tựu Campuchia đã đạt được trong thời gian qua.

Đối với dự án kênh đào Funan Techo, Việt Nam rất quan tâm và tôn trọng lợi ích chính đáng của Campuchia theo tinh thần của Hiệp định Mekong 1995, phù hợp với các quy định liên quan của Ủy hội sông Mekong và quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Việt Nam mong rằng Campuchia tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam và các nước trong Ủy hội sông Mekong chia sẻ thông tin, đánh giá đầy đủ tác động của dự án này đối với nguồn nước, tài nguyên nước và môi trường sinh thái của khu vực tiểu vùng sông Mekong cùng các biện pháp quản lý phù hợp nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của các quốc gia ven sông, quản lý, sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn nước và tài nguyên nước sông Mekong, vì sự phát triển bền vững của lưu vực, tình đoàn kết gắn bó giữa các quốc gia ven sông và tương lai của các thế hệ mai sau.

 

NVH41 - Những thành tựu to lớn sau gần 40 năm đổi mới đất nước

 

            Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng gần 40 năm, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”

          Từ sau Đại hội XIII đến nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch COVID-19 kéo dài, gây hậu quả nặng nề; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột Nga -Ukraine diễn biến phức tạp; hầu hết các chuỗi cung ứng bị đứt gãy; các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống;... diễn ra với tần suất cao hơn, tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu. Ở trong nước, dưới tác động của tình hình thế giới và hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu, thiên tai,... kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, rất gay gắt, nặng nề; hầu hết các ngành, các lĩnh vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để chống phá cách mạng nước ta.
          Trong bối cảnh tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đảng ta, đất nước ta vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, đáng ghi nhận trên nhiều lĩnh vực. Nổi bật là:

          * Về kinh tế - xã hội:

          Cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu, rộng và hiệu quả. Đến nay, dịch COVID-19 và các loại dịch bệnh khác đã cơ bản được kiểm soát; đời sống xã hội và các hoạt động sản xuất - kinh doanh đã trở lại tương đối bình thường. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6-6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới; tăng trưởng GDP trong 6 tháng đầu năm 2023 tăng 3,72%, chỉ cao hơn tốc độ tăng 1,74% so với cùng kỳ, nhưng theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, thì cả năm Việt Nam vẫn có thể đạt từ 6 đến 6,5%.
          Đặc biệt, có một điểm mới rất quan trọng của nhiệm kỳ này là, Bộ Chính trị đã ban hành và chỉ đạo tổ chức rất thành công các Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết mới của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở toàn bộ 6 vùng kinh tế - xã hội của cả nước, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng về phát triển vùng - một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, rất quan trọng, cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát triển nhanh, bền vững các vùng nói riêng và cả nước nói chung.
          Các lĩnh vực văn hoá, xã hội vẫn tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, rõ rệt. Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức rất thành công, đã tạo ra một nguồn sinh lực mới, khí thế mới cho sự nghiệp xây dựng, chấn hưng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện; đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách xã hội. Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch COVID-19, đã giải ngân 104.000 tỷ đồng, hỗ trợ cho gần 58 triệu người dân, người lao động và 1,4 triệu người sử dụng lao động.

          * Đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
          Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã tạo ra được sự chuyển biến rất tích cực, kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn hơn giữa “xây” và “chống. Đặc biệt là, công tác cán bộ tiếp tục được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò là “then chốt của then chốt”. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên cũng từng bước được nâng lên, trên cơ sở thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, đặc biệt là Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về vấn đề này. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng tiếp tục được đổi mới, tăng cường trên cơ sở ban hành có chất lượng và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ nhiều quy định mới của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý; các địa phương cũng bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật theo đúng chủ trương của Đảng về việc “có vào, có ra; có lên, có xuống”; thể hiện tinh thần kiên quyết, gương mẫu, nghiêm minh, nhân văn, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe trong đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên; đồng thời, đã khẩn trương chỉ đạo kiện toàn các nhân sự lãnh đạo thay thế, được dư luận cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, đánh giá rất cao.

          Một trong những thành tựu nổi bật trong nửa đầu nhiệm kỳ là Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương "Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới" được ban hành.

          Chúng ta đã tổ chức rất thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Trên cơ sở đó, Quốc hội, Chính phủ khoá XV đã sớm kiện toàn bộ máy tổ chức và nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở Trung ương và địa phương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Chính phủ và chính quyền các cấp tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính; quyết liệt chỉ đạo, thực hiện thành công chương trình phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thúc đẩy phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống các cơ quan tư pháp đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh cải cách tư pháp; tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

          Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo, bao gồm cả chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và phòng, chống “tiêu cực”, trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, coi đây là gốc của mọi vấn đề. Chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bước đầu có kết quả tốt. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được chú trọng đẩy mạnh để tiến tới: “không dám”, “không thể”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng.

          Có thể khẳng định, chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta lại được chỉ đạo một cách mạnh mẽ, bài bản, đồng bộ, quyết liệt, và có hiệu quả rõ rệt như thời gian gần đây; để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

          * Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

          Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo hướng: Tăng cường thế trận lòng dân; chủ động, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.  Xử lý linh hoạt, cân bằng, hài hoà quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước trong khu vực cũng như các tình huống phức tạp trên biển và tuyến biên giới. Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh, an toàn cho các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia cải thiện thứ hạng về chỉ số hòa bình, tăng 4 hạng lên vị trí 41/163 quốc gia và vùng lãnh thổ.

          Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng và đạt nhiều kết quả quan trọng; tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế; tích cực tham gia, đóng góp có trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương, góp phần giải quyết những vấn đề chung thách thức toàn cầu; tích cực thực hiện cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh về chống biến đổi khí hậu COP26 và COP27, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng. Thành công của các chuyến thăm, các cuộc điện đàm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhất là chuyến thăm Trung Quốc, các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước láng giềng, các nước trong khu vực là minh chứng cho sự thành công của các hoạt động đối ngoại thời gian qua.

          Những thành tựu sau gần 40 đổi mới đất nước khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Dự báo tình hình thế giới và trong nước từ nay đến hết nhiệm kỳ, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn, đòi hỏi chúng ta không được chủ quan, tự mãn với những kết quả đã đạt được song cũng không bi quan, dao động trước những khó khăn, thách thức. Cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho nửa cuối của nhiệm kỳ khóa XIII

NVH41 - KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT NAM

 

Trong thế giới hiện đại, nhân quyền trở thành giá trị chung của nhân loại, là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu…

Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy thực hiện nhân quyền là trách nhiệm của tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế hay sự khác biệt về văn hóa, dân tộc, phạm vi lãnh thổ quốc gia.

Đối với Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ cách mạng dân tộc, dân chủ đến công cuộc đổi mới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán mục tiêu, chính sách tất cả vì con người, vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực tế những năm qua, Việt Nam không ngừng nỗ lực để bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của mọi người dân; coi trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Vì vậy, tình hình nhân quyền tại Việt Nam từng bước có những cải thiện tích cực, bảo đảm sự hài hòa thống nhất giữa các quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế.

Thế nhưng thời gian qua, một số đối tượng có tư tưởng thù địch với Việt Nam ráo riết tìm mọi cách xuyên tạc, tung ra những thông tin sai lệch, phiến diện, bóp méo sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Có không ít kẻ cơ hội chính trị lợi dụng internet, viết blog tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống phá chế độ, chính quyền nhân dân, lu loa rằng “Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận”, “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, “ngăn cản hoạt động tôn giáo”… Trên một số diễn đàn quốc tế đa phương và song phương, có nước vẫn giữ thái độ thiển cận luôn xoáy vào vấn đề cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam hiện nay không còn phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, đòi Việt Nam thay đổi cách tiếp cận theo quan điểm nhân quyền của họ.

Phải thấy rằng, từ trước tới nay, sự đánh giá sai lệch, luận điệu vu cáo, xuyên tạc về nhân quyền Việt Nam của các cá nhân, tổ chức ở nước ngoài và một số người bất mãn, cơ hội ở trong nước thường chỉ dựa trên lối tư duy thiển cận, cách nhìn méo mó với những luận điệu cũ rích, thâm thù, tức tối dai dẳng trước sự phát triển của đất nước Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ luôn tìm mọi cách xuyên tạc hòng phủ nhận những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam đạt được trong gần 40 năm đổi mới đất nước. Họ sợ cộng đồng quốc tế ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng… cũng đồng nghĩa giáng một đòn mạnh mẽ vào dã tâm của những kẻ chuyên “bới lông tìm vết” để bóp méo sự thật tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Dù rằng các thế lực thù địch, kể cả những người đang được thụ hưởng thành quả của công cuộc Đổi mới, song lại quay lưng với dân tộc để cổ xúy cho những kẻ xuyên tạc, bịa chuyện, vu cáo, lái hướng dư luận quốc tế hiểu sai tình hình nhân quyền Việt Nam, song sự thật hiển nhiên là trong gần 40 năm đổi mới đất nước, toàn dân Việt Nam luôn đồng lòng với Đảng và Nhà nước, đoàn kết nỗ lực vượt mọi khó khăn, thử thách để làm nên những thành tựu bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Bản Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, tiếp tục khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992; đồng thời bổ sung nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với tình hình mới của đất nước và bối cảnh quốc tế hiện nay để từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về Quyền Dân sự, Chính trị; Công ước về quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về Quyền Trẻ em; Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt các tội ác A-pác-thai; Công ước về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại… Việt Nam cũng đã gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước số 122 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Chính sách việc làm… Trong hầu hết các khuôn khổ đối thoại và hợp tác về quyền con người cả song phương lẫn đa phương, các nước và các đối tác quốc tế đều đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng… Việt Nam chú trọng tăng cường cơ chế đối thoại và hợp tác về vấn đề quyền con người hằng năm với nhiều nước, trong đó có Mỹ, EU, Ô-xtrây-li-a, Na Uy, Thụy Sĩ…

Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục…

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc Đổi mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đưa đất nước vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”.

Mặc dù trong thế giới đương đại còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề nhân quyền; thậm chí các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục lợi dụng vấn đề nhân quyền để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam, song những thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được trong công cuộc Đổi mới là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm thực thi quyền con người. Thời gian tới Việt Nam phải tiếp tục làm tốt hơn việc bảo vệ, thúc đẩy thực thi quyền con người, vừa tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế về nhân quyền, cung cấp thông tin rộng rãi về những việc chúng ta đã làm được để dư luận trong nước và thế giới hiểu rõ, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu chung của thế giới là bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ngày càng tốt hơn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình và an ninh quốc tế, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.



NVH41 - Quy định 148-QĐ/TW: “Liều thuốc đặc trị” nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên

 

Ngày 23 tháng 5 vừa qua, Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành “Quy định số 148-QĐ/TW về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước”. Quy định này đã trao cho người có thẩm quyền được chủ động xử lý cán bộ cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao...

Trong bối cảnh đất nước ta hiện nay, đặc biệt là trong tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững đang đứng trước thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tâm lý ngần ngại, né tránh trách nhiệm, chùn bước, không bản lĩnh, táo bạo thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Ở các tỉnh, thành, địa phương trên cả nước xuất hiện “căn bệnh sợ trách nhiệm” trong một số cán bộ các cấp. Căn bệnh mới này là một trong những nguyên nhân cản trở quá trình thực thi nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, làm chậm tiến trình phát triển đất nước. Vì vậy, việc Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Quy định số 148-QĐ/TW là một quyết sách quan trọng, kịp thời của Đảng ta. Quy định số 148 có 3 điểm đáng lưu ý sau:

Sự cần thiết, cấp bách trong bối cảnh, tình hình hiện nay cần phải khẳng định vị trí, vai trò hết sức to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đặc biệt là tầm quan trọng về sự chỉ đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo quản lý trong thực thi nhiệm vụ được giao mang tính quyết định đến quá trình triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở cơ quan, đơn vị, các địa phương trên cả nước. Thông qua Quy định 148, Trung ương muốn lưu ý, nhắc nhở, đặt trách nhiệm rất cao cả đến toàn bộ đội ngũ, cán bộ, đảng viên về bổn phận phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

Quy định 148 là những phương hướng, giải pháp quan trọng, hiệu quả rất chủ động, kịp thời của Đảng nhằm kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện mới nảy sinh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đồng thời có ý nghĩa là phương thuốc hữu hiệu nhằm giáo dục, cảnh báo đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm, hành động đúng đắn về trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Quy định 148 với 4 chương, 12 điều, 31 khoản quy định cụ thể, Trung ương Đảng đã thật sự phân quyền, trao quyền, giao trọng trách cho người người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền rất quan trọng mang tính quyết định đến sự thành bại trong lãnh đạo, quản lý, điều hành sự phát triển địa phương, cơ quan, đơn vị...

Trong Quy định 148, ở Chương II, Điều 4, căn cứ tạm đình chỉ công tác trong trường hợp cần thiết là nội dung đáng chú ý. Với 5 khoản quy định thì Khoản 2 nói rõ: “Cán bộ cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao” thì người đứng đầu có quyền tạm đình chỉ công tác. Như vậy, Trung ương Đảng đã xây dựng một giải pháp hữu hiệu có ý nghĩa như một “phương thuốc đặc trị” đối với những cán bộ sợ trách nhiệm, không quyết tâm, quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, Nhân dân về thực thi nhiệm vụ được giao. Những cán bộ có suy nghĩ, hành động “cầu an, yên phận”, né tránh trách nhiệm sẽ khó có thể “ngồi im để an toàn giữ ghế”.

Nếu phân tích kỹ hơn, trong Quy định 148, ở Chương II, Điều 6, thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, thì ở Khoản 3 có quy định cụ thể là: “Yêu cầu cán bộ bị tạm đình chỉ công tác chấp hành các yêu cầu của cơ quan chức năng hoặc người có thẩm quyền để phục vụ công tác xác minh, làm rõ, xử lý vi phạm”. Khoản quy định này có giá trị như một “đạo luật” rất chặt chẽ và cứng rắn để yêu cầu, bắt buộc cán bộ bị tạm đình chỉ công tác phải chấp hành, chấp pháp.

Hoặc ở Điều 7, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cũng quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu như: Kịp thời ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới khi có một trong những căn cứ được quy định tại Điều 4, Điều 5 của Quy định này; hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác trong trường hợp không đúng quy định hoặc khi có kết luận không vi phạm, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ. Ở một khoản quy định rất rõ trong Quy định 148 là: Thời hạn để ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ trong trường hợp cần thiết là không quá 15 ngày làm việc, nếu phải gia hạn, tối đa không quá 15 ngày làm việc. Và thủ tục tạm đình chỉ công tác cũng nhanh chóng: Khi xác định có căn cứ tạm đình chỉ công tác được quy định tại Điều 4, Điều 5 của Quy định này thì chậm nhất sau 2 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền và đơn vị tổ chức cán bộ có trách nhiệm tham mưu người đứng đầu ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ.

Như vậy, Quy định 148 của Trung ương lần này là sự tiếp nối một cách bài bản, hệ thống, khoa học, chính xác các quy định trước đây của Đảng ta. Quy định này đã trao cho người có thẩm quyền được chủ động xử lý cán bộ cố tình trì hoãn, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Quan điểm của Đảng đã xác định cụ thể, rõ ràng về công tác kỷ luật, xử lý cán bộ, đảng viên là việc rất hệ trọng, cần thiết, cấp bách.

Quy định 148 của Trung ương có ý nghĩa, giá trị toàn diện, sâu sắc trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, Quy định 148 còn là một cách gián tiếp khuyến khích cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Sau khi Trung ương ban hành Quy định 148, các cấp ủy Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình, ủng hộ, dư luận trong xã hội rất tích cực, tin tưởng Quy định 148 sẽ là hồi chuông cảnh tỉnh, cảnh báo, làm thức tỉnh những cán bộ sợ trách nhiệm, ý thức kém về trách nhiệm công vụ; thờ ơ trước yêu cầu phát triển của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị, vô cảm trước nhu cầu, mong mõi của người dân và đòi hỏi của xã hội; những cán bộ thiếu bản lĩnh, trình độ chuyên môn kém nên e ngại, không dám thực thi nhiệm vụ rồi sẽ phải suy nghĩ lại và hành động tích cực, quyết tâm và quyết liệt với chức trách, nhiệm vụ được giao.

Có thể nói, Quy định 148 chứa đựng những nội dung vừa mang tính toàn diện, bao trùm nhưng cũng vừa cụ thể, chi tiết; đây là một văn bản của Đảng mang tính khoa học, bài bản, chặt chẽ và với sự uy nghiêm, mạnh mẽ, hiệu lực khi được triển khai tổ chức thực hiện sâu rộng, nghiêm túc trong toàn hệ thống chính trị thì chúng ta hoàn toàn hy vọng trong thời gian tới sẽ làm xoay chuyển tình thế trong công tác cán bộ và quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy công việc, thoái thác nhiệm vụ sẽ khó có thể “ngồi im, giữ ghế” mà sẽ phải thay đổi theo hướng tích cực, phải thể hiện bản lĩnh chính trị, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách được giao.

 

NVH41 - NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được khẳng định rõ trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của đất nước: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4). Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được Nhà nước, xã hội, nhân dân công nhận và được hiến định, là sự ghi nhận những cống hiến của Đảng và khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong mọi bước phát triển của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa bao giờ ngừng chống phá, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự chống phá dưới mọi hình thức đó ngày càng tinh vi hơn, từ hình thức vũ trang, bán vũ trang nay chuyển sang núp dưới âm mưu "diễn biễn hòa bình”, nhất là sử dụng internet, các trang báo mạng phản động để đăng tải những nội dung chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 - mà thực chất, là xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng. Họ cho rằng, Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã phủ nhận quyền lực của nhân dân trong việc lựa chọn đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng như phủ nhận quyền lực của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là trái với nguyên tắc của một thể chế nhà nước dân chủ. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn tập trung phê phán, thổi phồng các điểm tiêu cực, hạn chế trong đời sống kinh tế - xã hội, cố tình bôi đen, hạ thấp những thành tựu to lớn của đất nước đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng; đánh lạc hướng dư luận, gây tâm lý dao động, hoang mang trong nhân dân. Từ đó, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh việc kích động, lôi kéo, xúi giục việc chống phá Đảng, Nhà nước ta,...

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu, khách quan, từ mong muốn của nhân dân, đòi hỏi của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng nắm giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền bằng uy tín, năng lực mà không một đảng phái nào có thể thay thế được.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thứ tư, Đảng luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu.

Đảng luôn đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng để tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn...

NVE41 - SÁNG NGỜI NHỮNG GIÁ TRỊ NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

 

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong hàng ngàn năm lịch sử ấy, phụ nữ Việt Nam luôn giữ một vai trò trọng yếu trong sự trường tồn của dân tộc.

Phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước ngàn năm văn hiến, tạo dựng lên truyền thống bản sắc của người Việt nói chung và truyền thống riêng của phụ nữ Việt Nam “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”. Dù bất cứ cương vị nào, phụ nữ cũng phát huy được vai trò, sức mạnh, sự khéo léo vốn có của mình. Họ là những người chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khuất, họ là những người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh, họ là những người gìn giữ giống nòi và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, họ là những người sản sinh ra những thế hệ anh hùng của một dân tộc anh hùng.

 Trong công cuộc đổi mới đất nước, những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam lại được tiếp tục khẳng định và phát huy mạnh mẽ. Các tầng lớp phụ nữ luôn đoàn kết, năng động, sáng tạo, tích cực thi đua, phấn đấu vươn lên đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước, đã xuất hiện nhiều gương phụ nữ tài năng, điển hình tiêu biểu với những cống hiến xuất sắc trong lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình hạnh phúc…Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Việt Nam luôn phấn đấu và trưởng thành về mọi mặt, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện… Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao những nỗ lực phấn đấu và đóng góp to lớn của phụ nữ trong xây dựng gia đình và trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ mới. Họ xứng đáng là những con người được Bác Hồ tặng 8 chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Đất nước sẽ mãi mãi tự hào về người phụ nữ Việt Nam "Giỏi việc nước, đảm việc nhà". Ở phương diện nào người phụ nữ cũng hoàn thành xuất sắc vai trò của mình, tạc vào lịch sử dân tộc một hình tượng cao quý và ngời sáng./.

 

 

NVD41 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

 Đấu tranh phản bác các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết đối với tất cả các lực lượng, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng. Vì vậy, cần thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, tôn giáo và công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Dân tộc, tôn giáo là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, đặc biệt trong những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế cùng với sự du nhập, giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau đã tạo ra những tác động lớn trong mối quan hệ dân tộc – tôn giáo. Vì thế các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm gây chia rẽ  quan hệ đoàn kết gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt. Chủ nghĩa đế quốc đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống Việt Nam, trong đó vấn đề dân tộc, tôn giáo là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạngcùng với việc lợi dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng để chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xoá vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”.

          Trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Tin Lành Đề Ga, Nhà nước Đề Ga độc lậpHọ dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”…, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở khu vực Tây Bắc; “nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên, với “Tin lành Đềga” làm quốc đạo; thành lập “Nhà nước Khmer Campuchia Krom” ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ; các thế lực thù địch đã khai thác triệt để sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng... ở các vùng miền của nước ta như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh khu vực Tây Thanh Hóa - Nghệ An, khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hoá sự quản lí của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Thực chất, đây là thủ đoạn nham hiểm, lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo” để kích động, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam.

Với những thủ đoạn rất thâm độc, tinh vi, xảo trá. Các thế lực thù địch trên mạng Internet đã lập ra hàng trăm trang web, blog, phần lớn máy chủ đặt ở nước ngoài, để thu thập, bịa đặt, nhào nặn, trộn lẫn thật giả, phát tán những thông tin, hình ảnh xấu độc. Chúng tung ra các luận điệu vu cáo, bình luận thâm độc liên quan tới những sự kiện trọng đại của đất nước, thu hút sự phụ họa của những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Triệt để lợi dụng những thông tin về mặt trái, tiêu cực xã hội trên một số cơ quan truyền thông đại chúng của ta, thổi phồng, quy kết thành bản chất. Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Namkích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép; chúng đã triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, chúng khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học; đồng thời cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc, gây mất ổn chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, các tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Namxóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực tiễn đã cho thấy: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, luôn có sự đoàn kết, thống nhất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngay khi bắt tay vào xây dựng nền độc lập cho quốc gia Đại Việt, vua Đinh Tiên Hoàng đã biết phát huy Phật giáo ở cả khía cạnh trí tuệ và cố kết nhân tâm, để đoàn kết, phò Vua, chống giặc, giúp nước. Thời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo trở thành Quốc đạo và đã có công lớn trong việc cố kết nhân tâm và vun bồi trí đức; nhờ đó mà dân tộc ta đã đoàn kết một lòng, đánh tan những đội quân xâm lược mạnh nhất đương thời. Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, dù theo tôn giáo nào thì đều chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc-Hồng, vì vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Chính Sự đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong chiều dài lịch sử dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng từ khi ra cho đến nay đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này cho đến thắng lợi khác, đặc biệt thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thông qua Chiến thắng 30/4/1975  là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

   Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Đảng và Nhà nước ta có đường lối, quan điểm, chủ trương đúng đắn về thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo. Đặc biệt Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”, đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới hiện nay”.

           Đảng và Nhà nước đã đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án quan trọng, có tác dụng to lớn đối với đồng bào dân tộc, như: Quyết định về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số… các Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ... Nhờ vậy, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã ngày càng ổn định và có bước phát triển vững chắc. Đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên; đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, tích cực lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

         Cùng với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc, Đảng và Nhà nước ta cũng thường xuyên thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo. Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm lo đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, nghị định về vấn đề tôn giáo, công tác tôn giáo và Luật Tín ngưỡng Tôn giáo; qua đó, góp phần củng cố, phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật. Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”Những chuyển biến tích cực trong hoạt động của các tôn giáo khẳng định: chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã đi vào đời sống xã hội, đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo về cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay.

         Đó là những cơ sở, minh chứng đã được lịch sử ghi nhận, không thể phủ nhận được; quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo là đúng đắn, hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, phù hợp với nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Chúng ta có đầy đủ luận chứng, luận cứ để đấu tranh phản bác các quan điểm sai tráithù địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay cần phải thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

         Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới

        Hai là, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; thường xuyên chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo 

        Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước ta

        Bốn là, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo, cán bộ người dân tộc thiểu số

 Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân dân cả nước, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên quán triệt và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời luôn nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh chống các thế thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, góp phần tích cực bảo vệ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

 

NV41C - LỢI DỤNG “XÃ HỘI DÂN SỰ” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

        Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề dân chủ, nhân quyền đã trở thành một chủ đề được thảo luận sôi nổi tại nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Một số thế lực thù địch và phản động đã lợi dụng vấn đề này như một công cụ để chống phá cách mạng, gây rối trật tự xã hội và hòng làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là những hành động nguy hiểm, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước, và vì thế, cần được nhận diện rõ ràng và kiên quyết đấu tranh loại trừ.

          Mới đây trên trang mạng “Voatiengviet” phát tán bài viết: “Nhóm tư vấn Nội địa của Liên hiệp châu Âu (DAG  EU) bày tỏ “quan ngại sâu sắc” về Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và việc tiếp tục đàn áp xã hội dân sự ở đất nước Đông Nam Á, đồng thời nhóm này kêu gọi Ủy ban châu Âu (EC) nên thực hiện các biện pháp cần thiết để Việt Nam thực hiện đúng cam kết; Chỉ thị này thiết lập chính sách ngăn chặn việc hình thành các tổ chức chính trị độc lập, kiểm soát quyền tự do ngôn luận và kiểm soát việc phổ biến các thông tin chỉ trích đảng cầm quyền, phủ nhận quyền tự do hội họp, tăng cường giám sát công dân và kiểm soát các công đoàn độc lập của công nhân”… Phải khẳng định rằng, đây là những luận điệu phản động nhằm xuyên tạc Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị, lợi dụng vấn đề “xã hội đân sự” chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu công cuộc đổi mới đất nước.

          Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 13/7/2023 của Bộ Chính trị về bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, với mục đích là quán triệt cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ ANQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt, xung kích; phải nhận thức rõ, bảo vệ ANQG là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Nhiệm vụ bảo vệ ANQG đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, phối hợp đồng bộ, hiệu quả của cả hệ thống chính trị và tham gia tích cực của Nhân dân…Tuy nhiên, một số tổ chức đã mượn danh “xã hội dân sự” nhằm làm phức tạp tình hình chính trị - xã hội, hướng đến mục tiêu thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

          Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình. Nhìn chung, các hoạt động chống phá dựa trên công cụ là tổ chức “xã hội dân sự” trá hình mà họ thường sử dụng, tập trung vào các thủ đoạn chủ yếu sau: đề cao vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức giả danh “xã hội dân sự”, hướng lái hoạt động của các tổ chức này dần đối lập về tư tưởng chính trị với Nhà nước ta; thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp; lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để hướng lái các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật; gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển,… gây phương hại đến an ninh quốc gia.

          Thực tế đã chứng minh rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực không ngừng để mở rộng dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, song song với việc bảo vệ an ninh quốc gia và giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Việc xây dựng một xã hội dân chủ ở Việt Nam phải được hiểu đúng bản chất và mục tiêu, không thể bị lợi dụng bởi các thế lực thù địch để thực hiện các âm mưu chống phá đất nước. Việc kiên định với con đường cách mạng đã chọn, giữ vững độc lập, tự chủ, cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị và pháp luật, là cách thức tối ưu để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh tại Việt Nam. Qua đây, mỗi người dân chúng ta cần nhận thấy rõ hơn bản chất và thủ đoạn của các đối tượng chống đối thế lực thù địch, nêu cao cảnh giác và kiên quyết lên án, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...