Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

NVB40 - PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc, lố bịch về một Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận và đàn áp mạng xã hội, hòng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Nhằm thực hiện âm mưu này, chúng không ngừng tìm cách phủ nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trong nhiều năm qua. Gần đây, ngày 22/12/2023, trên trang blog Bauxite Việt Nam tán phát bài “Bất tuân dân sự: Dòng chảy âm ỉ vượt thời gian”, nội dung phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về quyền con người; vu cáo chính quyền sử dụng các “điều luật mơ hồ” để “ngăn cản” thực hiện phản biện xã hội; đồng thời, kích động thực hiện hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm gây rối tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.

Thực chất đây là âm mưu nhằm đánh vào lòng tin của cán bộ đảng viên và nhân dân nhằm chuyển hóa lòng tin ấy, từ chỗ xa rời Đảng, xa rời chế độ đi đến chống đối Đảng, chống đối chế độ...

Đối với Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, khi mất chủ quyền thì người dân không có tự do, dẫn đến các quyền con người bị chà đạp, “Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô”. Do đó, để giành quyền tự do của mỗi cá nhân thì trước hết phải giành quyền tự do cho cả dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nền tảng, là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền con người. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Dân chủ Cộng hòa ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946.

Có thể thấy rằng, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cho đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền con người. Cùng với sự phát triển của đất nước, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố. Tại Hiến pháp 2013 đã dành riêng Chương II để nói về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Điều này có thể thấy rõ nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và tình hình thiên tai, bão lụt tại các địa phương gây thiệt hại nặng nề về kinh tế - xã hội, nhưng với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng. Trang liberationnews.org của Mỹ kết luận: Thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19 “không đơn giản là một phép màu”, mà đó là “kết quả của một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế”. Đó là mô hình “để không ai bị bỏ lại phía sau”.

Trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24-9-1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18-12-1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19-3-1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20-2-1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22-10-2007… Những công ước này đều được luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Việt Nam cũng tích cực tham gia đối thoại về quyền con người với nhiều quốc gia, như: Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Thụy Sỹ và Liên minh Châu Âu... nhằm trao đổi quan điểm, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, hướng tới nâng cao hơn sự hưởng thụ quyền của người dân ở mỗi quốc gia. Trên cơ sở này, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tham gia các điều ước quốc tế, phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng nhằm thực hiện tiến bộ xã hội, mang lại những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, hiện nay Việt Nam đang từng bước thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” - đây chính là biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của quyền con người Việt Nam, của sự khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong LLVT nói riêng và các tầng lớp nhân dân nói chung cần phải tỉnh táo, theo dõi thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Tuyệt đối không nghe, không xem, không đọc những thông tin xuyên tạc trên các trang mạng phản động để tránh rơi vào “bẫy thông tin” của các thế lực thù địch!

NVB40 - Nhận diện âm mưu kích động “bất tuân dân sự” trên không gian mạng

 

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở Việt Nam. 

Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền… tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, khôn lường, tác động đến sự ổn định và tình hình an ninh, trật tự của đất nước.

“Bất tuân dân sự” - một phong trào không mới

“Bất tuân dân sự” (thực chất là chống đối chính phủ dân sự) được nêu ra lần đầu tiên trong tập tiểu luận nhan đề “Dân sự bất hợp tác” của Henry David Thoreau - một phạm nhân phải ngồi tù ở bang Massachusetts (Mỹ) vì tội không đóng thuế. Thế nên, nội dung chủ đạo trong tập tiểu luận là quan điểm cực đoan, vô chính phủ và được khoác ngôn từ hoa mỹ là “bất tuân dân sự”. Mặc dù ở thời điểm mới xuất hiện, tiểu luận “Dân sự bất hợp tác” không gây được sự ảnh hưởng nào,

song sang thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Henry David Thoreau được một số kẻ lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh. Theo thời gian, “bất tuân dân sự” đã bị các thế lực biến tướng, lợi dụng vào các mục đích khác nhau, đặc biệt là để chống phá các nước XHCN, các quốc gia, vùng lãnh thổ không phù hợp với lợi ích của họ. Theo giải thích của từ điển mở Wikipedia thì: “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”.

Cũng theo từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như chiến dịch của Gandhi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của Mandela ở Nam Phi. Phương thức hoạt động này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ XX, làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2019...

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự” nhưng thực chất đó là các hoạt động vi phạm cố ý đối với một số đạo luật nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền. Vì thế, bản chất đây là hành vi vi phạm pháp luật nếu chiểu theo pháp luật của bất kỳ quốc gia nào.

Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là thiểu số phục tùng đa số, lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung, lợi ích cá nhân, nhóm người phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

Phong trào này không có gì mới mẻ bởi nó đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia phương Tây ráo riết thực thi chiến lược "diễn biến hòa bình" với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, “bất tuân dân sự” dần trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hiện nay thủ đoạn nói trên đã được đẩy lên cấp độ mới trắng trợn, ráo riết hơn rất nhiều để chống phá những quốc gia vẫn lựa chọn đi theo con đường XHCN hoặc các quốc gia có chế độ “nghịch mắt” với phương Tây. Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại luôn rất nặng nề, kéo dài, gây bất ổn, chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội, giữa người dân trong một quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế, các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kéo dài tại một số quốc gia đã minh chứng rõ điều này.

Thủ đoạn kích động “bất tuân dân sự” trên không gian mạng

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước.

Những năm qua, các thế lực phản động, thù địch đã triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là “bất tuân dân sự” để chống đối chính quyền như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng xấu đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Vụ đình công phản đối Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; vụ lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017. Một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự" như: Bất tuân cưỡng chế của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắk Nông, Gia Lai...; bất tuân quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...

Đặc biệt, hiện nay các đối tượng đẩy mạnh các hành vi “bất tuân dân sự” vào các lực lượng như Cảnh sát đang làm nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ tại các trụ sở tiếp công dân, sau đó quay video tung lên mạng xã hội nhằm xuyên tạc và tuyên truyền kích động người dân thực hiện các hành vi chống đối tương tự.

Qua thực tiễn tình hình có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Hoạt động kích động “Bất tuân dân sự” trên không gian mạng được tổ chức ngày càng chặt chẽ, các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh xã hội còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để kích động chống phá, làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự".

Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...

Nhìn vào thực tế những gì đã diễn ra ở các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ), Trung Đông, Bắc Phi… có thể thấy rất rõ “bất tuân dân sự” luôn có xu hướng leo thang thành bạo lực, bạo động, gây ra bất ổn xã hội, thậm chí khủng hoảng nghiêm trọng. Các hành vi của cái gọi là “bất tuân dân sự” nhằm chống đối, không phục tùng những điều luật, quy định đã được ban hành, thi hành và thừa nhận trên thực tế tại các quốc gia, vùng lãnh thổ chính là coi thường kỷ cương pháp luật, đi ngược hoàn toàn với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân.

 

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

NVG40 - Cảnh giác với hiện tượng lợi dụng, xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

 

Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”...

Thoạt nhìn, không ít người lầm tưởng đó là tài khoản chính thức của một cơ quan, đơn vị nào đó trong Quân đội, song kỳ thực không phải như vậy. Đây là những trang cá nhân đang lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để "câu view", "câu like", đánh bóng tên tuổi, bán hàng, xuyên tạc... nhằm thu hút và “thao túng tâm lý” người xem. Đáng lo ngại hơn là một số cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận một cách thấu đáo hiện tượng này, đã vội vàng ủng hộ bằng cách nhấn yêu thích, thả tim và có những bình luận tỏ ra a dua, đồng lõa.

Chiếc áo không làm nên thầy tu

Qua theo dõi và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng các trang này phần lớn là của những người thiếu hiểu biết về Quân đội, trong đó có không ít bạn trẻ đã lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để kiếm tiền một cách bất chính. Đáng nói là mặc dù họ muốn làm giàu nhưng năng lực tư duy lại hạn chế, không có khả năng sáng tạo nội dung mà thường xuyên cóp nhặt, cắt ghép, dàn dựng, đăng tải những thông tin, hình ảnh làm sai lệch bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Việc một số cá nhân lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để trục lợi ngày càng nhiều trên không gian mạng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín, danh dự của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Còn nhớ, đầu tháng 7-2023, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất hiện một đối tượng tự xưng là Phan Quốc Khải, công tác tại Ban CHQS huyện Xuân Lộc, gọi điện cho ông Nguyễn Duy Sáu, chủ cửa hàng dụng cụ nông nghiệp tại huyện Cẩm Mỹ để chèo kéo, môi giới nhằm thực hiện hành vi lừa đảo nhưng bất thành. Ông Sáu cho biết: Họ thường đặt một số mặt hàng giá trị lớn mà cửa hàng không có, sau đó cung cấp một đơn vị khác có những loại hàng hóa trên để chúng tôi đặt mua qua mạng cho kịp thời gian giao hàng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản.

Tiếp đó, trên cổng thông tin chính thức của một số bệnh viện uy tín như: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Quân y 103 cũng đã đưa ra cảnh báo về việc gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều trang, nhóm mạo danh các cơ sở y tế quân sự để thực hiện hành vi chào bán thuốc, thực phẩm chức năng, dịch vụ y tế kém chất lượng, làm tổn hại sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngành y học Quân đội. Tất nhiên, các đối tượng này đã bị vạch trần và xử lý theo pháp luật.

Nguy hại hơn, lợi dụng sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều đối tượng đã giả mạo một số chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của các cơ quan, đơn vị Quân đội để gọi video trực tuyến, nhắn tin qua Messenger, Zalo... “thông báo” đến các gia đình có quân nhân tại ngũ về một số vấn đề liên quan đến pháp luật, kỷ luật như: Làm hư hỏng, thất thoát tài sản chung, phải bồi thường; tham gia cá độ, chơi lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi quá khả năng chi trả; mất đoàn kết, gây thương tích... Từ đó đe dọa, buộc gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản để “chạy án”, nếu không sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”...

Có thể thấy rằng, trong những vụ việc nêu trên, mặc dù thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo rất đa dạng, tinh vi, xảo quyệt nhưng đều có chung một phương thức, đó là lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để “mua chuộc” lòng tin của nhân dân nhằm phục vụ hành vi lừa đảo. Nếu không tỉnh táo, không chủ động xác minh thông tin kỹ lưỡng, chúng ta sẽ bị đánh lừa bởi những “vở kịch” mà kẻ gian đã công phu dàn dựng, để rồi... “tiền mất tật mang”.

Không dừng lại ở đó, một số tài khoản vốn đã núp bóng Bộ đội Cụ Hồ nhưng lại thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh người quân nhân cách mạng theo kiểu “ăn không nói có”, “chuyện bé xé ra to”, “vơ đũa cả nắm”... Đặc biệt, các đối tượng xấu còn thường xuyên giật tít “rất kêu” nhằm kích thích sự tò mò của cộng đồng mạng, dạng như: “Thông tin mật”, “góc khuất của lính”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, “sự thật về bộ đội”... Thời điểm đăng tải, tán phát thông tin cũng rất nhạy cảm, nhất là những lúc đơn vị thực hiện nhiệm vụ khó khăn, đột xuất; trước mỗi mùa tuyển quân; trong các kỳ huấn luyện chiến sĩ mới; khi quân nhân chuẩn bị hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào môi trường quân ngũ.

Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Trường Quân sự Quân khu 7 hồi tháng 1-2023. Chỉ vỏn vẹn vài giờ sau khi bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài đăng tải nội dung bịa đặt, sai sự thật về việc một nữ sinh viên bị hiếp dâm tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh trên fanpage UFH Confession, bài viết đã tạo ra “làn sóng” tương tác dữ dội với hàng trăm nghìn lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ. Trong đó có rất nhiều người phản ứng một cách thái quá, mặc dù chưa rõ bản chất của vấn đề. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá. Hậu quả là Tòa án Quân sự Quân khu 7 đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính” theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Quân đội là trường học lớn của tuổi trẻ. Bên cạnh hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, vẫn còn đó những quân nhân, những cán bộ, đảng viên chưa thực sự gương mẫu, tự giác trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, dẫn tới vi phạm các chế độ quy định. Tuy nhiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm mà đã xem xét, xử lý nghiêm minh; đồng thời thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị nói riêng, toàn quân nói chung. Điều đó lại càng khẳng định bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đúng với tư tưởng: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngọc càng mài càng sáng...

Trong bom đạn, giữa tâm bão hay trên tuyến đầu chống dịch... không có bất cứ nơi nào trên đất nước này vắng bóng Bộ đội Cụ Hồ. Chính bởi gần dân, trọng dân, sẵn sàng hy sinh vì dân mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã được nhân dân gửi trọn niềm tin. Do đó, không thể vì một vài sự việc đơn thuần, cộng thêm hành động “hà hơi thổi ngạt” của những đối tượng xấu mà dễ dàng làm lay chuyển tình cảm, phai nhạt truyền thống gắn bó keo sơn, máu thịt giữa quân với dân.

Không chỉ sáng trong lòng nhân dân mà Bộ đội Cụ Hồ còn đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Tinh thần "tương thân tương ái", “lá lành đùm lá rách”, giúp bạn như giúp mình, trong hoạn nạn vẫn dốc lòng, dốc sức giúp đỡ về tài chính, thiết bị, vật tư y tế để nước bạn Lào, Campuchia, Myanmar... chống dịch Covid-19; hay gần đây, trước thảm họa động đất kinh hoàng tại Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn cứu hộ của Quân đội ta đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... là minh chứng sống cho những nỗ lực, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ hôm nay trong việc gìn giữ, phát huy truyền thống ông cha.

Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: “Quân đội đã làm tốt rồi, nay cần làm tốt hơn nữa”; đã là Bộ đội Cụ Hồ thì phải luôn “chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu”. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần đề cao trách nhiệm, quyết tâm thực hiện “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”, để có đủ phẩm chất, năng lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Có thể thấy rằng, từ lịch sử đến hiện tại; từ chức năng, nhiệm vụ đến thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều hoàn toàn khác xa với những gì mà các TikToker, Facebooker, YouTuber vì bị “đồng tiền làm mờ con mắt” nên đã thường xuyên thêu dệt, đăng đàn một cách phiến diện, làm méo mó cách nhìn của một bộ phận công chúng, nhất là trong cộng đồng mạng về hình ảnh và phẩm chất cao đẹp trong nhân cách người quân nhân cách mạng. Và những hành động đáng xấu hổ, đáng lên án ấy cũng tựa như tư duy tầm gửi, mặc dù đã mang “phận ký sinh”, sống nhờ dinh dưỡng từ “cây mẹ” nhưng chẳng những không làm cho “vật chủ” tốt lên mà còn làm phương hại đến chính “nguồn sống” của bản thân mình.

Để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tác động tiêu cực của những thông tin xấu độc, sai sự thật đến đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ cần đề cao trách nhiệm trong đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh liên quan đến cá nhân, đơn vị và Quân đội lên các nền tảng mạng xã hội; hay nói cách khác là phải “cắt nguồn cung”, không “tự tạo cớ”, không a dua, cổ xúy, tiếp tay... để đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Bởi lẽ, Quân đội là môi trường đặc thù nên không phải ai cũng có thể dễ dàng tự do, tự tiện quay phim, ghi hình, chụp ảnh để đăng đàn. Hơn nữa, nếu mỗi người mỗi ngày đều lan tỏa những hình ảnh đẹp, đúng với bản chất người quân nhân cách mạng và thực tiễn những gì diễn ra trong môi trường quân ngũ thì đâu có “tài nguyên” để cho những kẻ trục lợi “chế biến”, nhào nặn?

Hơn ai hết, mỗi quân nhân đều nhận thức sâu sắc được những thông tin, hình ảnh nào là sai sự thật về bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Do đó, bên cạnh việc “cắt cung”, chúng ta cũng cần “giảm cầu” đối với những sản phẩm do các đối tượng lợi dụng tán phát trên nền tảng mạng. Phải tự nâng cao “sức đề kháng” cho chính bản thân, tuyệt đối không tiếp cận, tương tác với những nội dung xấu độc để tránh “nối dài cánh tay” kiếm tiền bất chính của kẻ xấu và âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch./.

 

 

NVG40 - VIỆT NAM KHÔNG “TỰ MÌNH CÔ LẬP MÌNH” TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “4 KHÔNG”

 

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại...". Đồng thời: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng những biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”.

Thời gian qua, các thế lực phản động, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, nhóm người tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với vận mệnh quốc gia-dân tộc đã gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị”, viết bài tán phát với những giọng điệu xuyên tạc, bóp méo đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Chúng cho rằng, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quốc gia luôn có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và chính sách quốc phòng “4 không” (không liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “bảo thủ, lỗi thời”, “tự mình cô lập mình”, “tự trói tay, chân mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là sự nhất quán về đường lối, chủ trương và luật pháp về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là tư tưởng quốc phòng đúng đắn, được lựa chọn và xác lập phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; là sự kế thừa truyền thống, tinh hoa văn hóa dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, được nâng lên và cấu thành nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Việt Nam ban hành nhiều chính sách quốc phòng, là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quân đội, phù hợp với bối cảnh quốc tế, thực tiễn đất nước, hòa bình hoặc chiến tranh, xung đột mà Việt Nam đang phải đối diện. Nhờ đó, Việt Nam không chỉ bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn phá vỡ thế bao vây, cấm vận, mở đường hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, giữ vững nền hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Lịch sử và hiện tại đều chứng minh, Việt Nam có đủ sức mạnh để tự bảo vệ mình mà không cần lệ thuộc, phụ thuộc vào bất cứ khối và liên minh quân sự nào. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chính là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại...

Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đồng thời tăng cường khả năng quốc phòng; phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam thực hiện chiến lược quốc phòng dựa trên tổng thể các hoạt động chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - xã hội và quân sự nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh. Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài.

Đó còn là sức mạnh của thực lực quân sự, quốc phòng Việt Nam đã không ngừng được xây dựng, lớn mạnh cả về lực lượng, tiềm lực, thế trận, khoa học - công nghệ, nghệ thuật chỉ huy, tác chiến, sự tập trung thống nhất về lãnh đạo và quản lý quốc phòng - an ninh quốc gia, vùng, miền chiến lược, địa phương và cơ sở. Các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội được nhanh chóng xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia trách nhiệm và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Rõ ràng, những thành tựu, cùng thực lực sức mạnh quân sự, quốc phòng của Việt Nam đã tạo tiền đề vững chắc cho sự lựa chọn, kiên định, thống nhất triển khai thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình; là điều kiện thuận lợi cho xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời tự nó là minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay./.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NVH41 - Tăng cường và phát triển quan hệ láng giềng Việt Nam với các nước Lào và Cam-pu-chia

 

Ba nước Việt Nam  - Lào - Campuchia  cùng nằm trên bán đảo Đông Dương. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, ba nước cùng chung một kẻ thù, cùng một chiến trường đánh giặc. Nhân dân ba nước có lòng yêu nước nồng nàn, dưới sự lãnh đạo của Đảng mình đã luôn kề vai sát cánh, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau để làm nên những thắng lợi vẻ vang trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ ba nước Việt Nam  - Lào - Campuchia  là gắn bó và tin cậy, làm nên sự vững chãi “như kiềng ba chân”.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác, hữu nghị, hòa bình với các nước láng giềng khu vực, trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại theo hướng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, đồng thời xác định rõ, đây là vấn đề chiến lược, tác động trực tiếp đến lợi ích quốc gia - dân tộc; tác động đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy, cách tiếp cận để xem xét các vấn đề thời đại, giải quyết tổng thể các vấn đề trong nước để có thể linh hoạt xử lý trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình khu vực và thế giới, vì một mục tiêu chung là bảo đảm ổn định, phát triển. Theo đó, Đại hội VI của Đảng xác định nhiệm vụ “phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương,... hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em. Tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân Cam-pu-chia anh em. Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, quan hệ với các nước láng giềng tiếp tục được khẳng định  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, đến từng bước chuyển sang định hướng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”; “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, đặc biệt Đảng ta nhấn mạnh: “Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng”. Định hướng ưu tiên mà Đảng đề ra trong quan hệ với các đối tác là các nước láng giềng, các đối tác lớn, đối tác quan trọng, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cần phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống; thúc đẩy quan hệ với các đối tác phát triển, có tiềm lực lớn, phục vụ thiết thực cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việc tạo lập được mối quan hệ hợp tác với các nước láng giềng dựa trên cơ sở tùy thuộc lẫn nhau về an ninh và phát triển là một bảo đảm hết sức quan trọng nhằm xác lập được vị thế có lợi, giảm thiểu được những bất lợi trong quan hệ của Việt Nam với các nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong sự nghiệp đổi mới và nâng cao vị thế của đất nước. Trên cơ sở đó, Việt Nam từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới, tạo dựng thế và lực mới cho đất nước phát triển bền vững hơn trong tương lai.

Hiện nay, xuất hiện một số quan điểm phản động xuyên tạc chống phá mối quan hệ hữu nghị, hợp tác của ba nước Việt Nam  - Lào - Campuchia, tiêu biểu là gần đây chúng xuyên tạc Giao lưu Hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam  - Lào - Campuchia lần thứ nhất diễn ra ở Kon Tum, phủ nhận các hoạt động phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới ba nước và hạ thấp uy tín, hình ảnh của quân đội nhân dân Việt Nam. Để đẩy lùi những âm mưu ấy, cùng với việc tiếp tục tăng cường, phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị quý báu giữa ba nước Việt Nam  - Lào - Campuchia, phải luôn giữ được nhất quán trong đường lối đối ngoại, hợp tác, cảnh giác, tỉnh táo trước mọi thủ đoạn chia rẽ, tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy giữa chính quyền và nhân dân ba nước. Đặc biệt, phải làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, không ngừng chung tay vun đắp tình hữu nghị, không để những "lỗ hổng" hiểu biết cho kẻ xấu kích động, xuyên tạc.

NVH41 - Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta

 

Sau 37 năm đổi mới, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền dân chủ và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Điều đó được thể hiện sinh động trên thực tế và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị, các thế lực thù địch, phản động chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc đến mức lố bịch, họ cho rằng: ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Có thể nói, tôn giáo ở Việt Nam được ví như bức tranh thu nhỏ của tôn giáo trên thế giới, từ các hình thức sơ khai, như: Tô tem giáo, Ma thuật giáo, Saman giáo đến các tôn giáo lớn, được hình thành từ rất sớm, có tổ chức chặt chẽ, như: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Hồi giáo,… trong đó có những tôn giáo du nhập từ bên ngoài, nhưng cũng có nhiều tôn giáo nội sinh, như: Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiền phái Trúc Lâm, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, v.v. Loại hình tổ chức của các tôn giáo cũng đa dạng: có những tôn giáo chỉ có một tổ chức duy nhất (Phật giáo, Công giáo) và cũng có những tôn giáo có rất nhiều tổ chức khác nhau (Tin Lành, Cao Đài), v.v. Nếu như nhiều quốc gia thường có một tôn giáo giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội, thì ở Việt Nam có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng cùng tồn tại và bình đẳng về vị thế, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng quyết định đến đời sống xã hội Việt Nam.

Lợi dụng đặc điểm đó, các thế lực thù địch, phản động luôn coi vấn đề dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” trong mưu đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Họ câu kết với các phần tử cơ hội chính trị, chống đối, cực đoan lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chính trị hóa, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ở trong nước, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của chính quyền một số địa phương trong thực hiện các chính sách về kinh tế, xã hội, một số chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để lồng ghép yếu tố chính trị, kích động, gây ra điểm nóng tôn giáo, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, ngăn cấm xây sửa cơ sở thờ tự, cản trở hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, v.v. Ở ngoài nước, một số nhóm, cá nhân người Việt lưu vong thông qua các trang mạng thường xuyên đăng tin, bài vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo, kích động nhân dân mà trước hết là tín đồ tôn giáo đấu tranh “đòi tự do tôn giáo”, “nhân quyền”, kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước lên tiếng can thiệp. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đưa ra các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo trên thế giới, trong đó có nêu một số nội dung nhận định thiếu khách quan, sai lệch dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tế tại Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế khi chính quyền sách nhiễu các tổ chức tôn giáo ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số khu vực ở Đồng bằng sông Cửu Long; sách nhiễu những thành viên của các nhóm tôn giáo tham gia vào các hoạt động vận động nhân quyền hoặc có liên hệ với các cá nhân và tổ chức chỉ trích chính quyền; cản trở việc thực hành tôn giáo của phạm nhân. Đồng thời, nêu quan ngại về một số trường hợp “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”,... đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo - SWL”. Lợi dụng việc đó, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị “té nước theo mưa”, ra sức xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phê phán chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ ra mắt “Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là tài liệu chính thống, kịp thời cung cấp những thông tin cơ bản về tôn giáo, chính sách tôn giáo ở Việt Nam và những thành tựu, cũng như thách thức của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; một trong những công cụ chuyển tải thông tin trung thực tới các nước, các tổ chức quốc tế quan tâm đến lĩnh vực nhân quyền, tôn giáo, làm cơ sở tham chiếu, chứng minh cho nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua đó, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Những thành tựu thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta cho thấy, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của  nhân dân là quan điểm, chính sách xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Quan điểm đó được thể hiện trong các văn bản của Đảng ngay từ khi mới thành lập, nhất là trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ về công tác tôn giáo được ghi dấu bằng nhiều nghị quyết, tiêu biểu như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”, Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, v.v. Trong đó, khẳng định rõ: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi trọng giữ gìn và “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước”; “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”1.

Quan điểm nhất quán ấy đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các chính sách nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tế của người dân, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm 1946) và các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau này, đều  khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người. Hiến pháp (năm 2013) ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Thực hiện các nguyên tắc đã được hiến định, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Trong đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được kỳ họp thứ 2, Quốc hội (khóa XIV) thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 là dấu son trong lộ trình cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, khẳng định với quốc tế rằng, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong đảm bảo quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Các cấp tiếp tục tham mưu, triển khai thực hiện hiệu quả Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cùng với đó, quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng hiến chương, điều lệ, pháp luật của Nhà nước; chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo chính đáng của quần chúng tín đồ; kịp thời nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tổ chức tôn giáo, quần chúng tôn giáo và có hướng giải quyết thấu đáo các vụ việc phát sinh. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

NVH41 - Gìn giữ, phát huy vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở, nền tảng quan trọng trong phát huy toàn diện sức mạnh trí tuệ, sự sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, là động lực lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống đại đoàn kết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ lớn lao và vinh quang của toàn thể cán bộ, nhân dân, của toàn hệ thống chính trị.

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

“Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(1). Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang”. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Nhìn chung, việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện trực tiếp ở việc nâng cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Theo đó, yếu tố “quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới.

 Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”; đồng thời, nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn”.

 Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa phương thức vận động quần chúng, coi trọng các phong trào thực tiễn, hạn chế việc ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo điều hành chung chung; phương thức vận động các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào theo tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và người Việt Nam ở nước ngoài được đổi mới; chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để thu hút, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”. Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”. Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

NVE41 - ANH HÙNG GIUSE ĐỖ VĂN CHIẾN: NGƯỜI ANH HÙNG CỦA “TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH”, NHIỀU LẦN RƠI NƯỚC MẮT CẦU NGUYỆN CHO ĐỒNG ĐỘI HY SINH, TRỞ THÀNH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐÚNG DỊP GIÁNG SINH

 

Hầu như ai trong chúng ta cũng đã từng học qua bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng “nguồn cảm hứng” và “nguyên mẫu” của bài thơ ấy chính là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Công giáo Giuse Đỗ Văn Chiến.

Chàng trai Giuse Đỗ Văn Chiến sinh ra tại Hải Hậu, Nam Định. Đây là một vùng quê Công giáo từng che chở cho bộ đội thời chống Pháp, cất giấu vũ khí và không ít người lính từ vùng quê này tham gia lực lượng Việt Minh. Tháng 9/1966, vợ của anh Chiến sinh con giữa lúc chiến trường miền Nam vào giai đoạn khốc liệt… Anh Chiến nói với vợ rằng anh đất nước lâm nguy, là một con của Việt Nam, anh không thể thờ ơ, mong rằng Chúa sẽ soi đường, giúp anh bình an trở về với vợ con khi Tổ Quốc hòa bình…

Anh Chiến trở thành chiến sĩ đoàn 559 lái xe Trường Sơn tại tỉnh Khăm Muộn ở nước bạn Lào. Từ năm 1966 đến 1979, người lính Giuse Đỗ Văn Chiến đã tham gia hơn 700 chuyến xe, vượt qua bão táp bom đạn… Có lần, đoàn lái xe của anh bị tập kích tại ngã ba Phu Kheng, anh điều khiển xe trú ẩn theo lệnh của chỉ huy rồi lao ra ngoài bom đạn cứu đồng đội. Nhưng tiếc thay, những người đồng đội của anh đã hy sinh và thịt nát xương tan dưới bom đạn. Anh và các đồng đội làm lễ truy điệu nhanh và anh xung phong cầu nguyện cho đồng đội rồi tất cả lên đường…

Cứ mỗi khi bắt đầu chuyến đi, anh thường dành một chút thời gian để cầu nguyện. Anh bảo với đồng đội rằng “Tớ là người Công giáo và tớ yêu đất nước này”. Anh Chiến có rất nhiều đồng đội theo đạo Phật, đạo Mẫu… Dù có theo tôn giáo nào, anh và các đồng đội đều đặt mục tiêu rằng sẽ sẵn sàng hy sinh cho Tổ Quốc.

Năm 1968, sau khi trả hàng hóa tại điểm tập kết. Anh Chiến và đồng đội bị tập kích bất ngờ. Anh bị đứt rời ngón tay, còn đồng đội của anh bị thương dập mu bàn tay, còn chiếc xe Zil 3 cầu 157 nát tươm, vỡ toang kính xe. Hai anh vẫn bình thản đến lạ, vẫn phóng xe giữa làn bom đạn. Vì nếu có hy sinh thì nhiệm vụ đã hoàn, nếu có nổ tung thì máy bay địch sẽ rút đi để các anh em đồng chí khác được thoải mái làm nhiệm vụ… Với lại trong thời chiến, sự hy sinh là bình thường, không ít lần anh đã cầu nguyện tiễn đưa bạn bè hy sinh. Và anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho ngày anh hy sinh, không bao giờ hối tiếc!

Và đó chính là niềm cảm hứng mà nhà thơ Phạm Tiến Duật đã sáng tác ra bài thơ “Tiểu đội xe không kính”...

Mùa Giáng Sinh 1969, cụ thể là vào ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 22/12/1969, anh Giuse Đỗ Văn Chiến được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành người lính Công giáo đầu tiên được phong tặng danh hiệu cao quý này.

Có hàng ngàn người lính Công giáo đã chiến đấu vì độc lập dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc trong những cuộc kháng chiến của dân tộc… Như Đại tá Albert Phạm Ngọc Thảo, Thiếu tướng Trần Tử Bình, Thiếu tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Viết Hồng….

Họ đều là những con người anh hùng, đã làm nên Đất Nước.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...