Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

NVC41 - CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI KINH TẾ VIỆT NAM

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế nhờ vào việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đa tầng nấc.

Đến nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 hiệp định thương mại tự do, trong đó có 10 hiệp định đã có hiệu lực và đang thực thi cam kết, 3 hiệp định đã ký kết hoặc kết thúc đàm phán nhưng chưa có hiệu lực, 4 hiệp định đang đàm phán. Bài viết phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với nền kinh tế Việt Nam và kiến nghị giải pháp nhằm tận dụng những cơ hội mà các hiệp định này mang lại cũng như hạn chế tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Thuật ngữ “Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” được sử dụng để chỉ các FTA với những cam kết sâu rộng và toàn diện, bao hàm những cam kết về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống”; mức độ cam kết sâu nhất (cắt giảm thuế gần như về 0%, có thể có lộ trình); có cơ chế thực thi chặt chẽ và hơn thế, nó bao hàm cả những lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như: Lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa, cơ chế giải quyết tranh chấp về đầu tư…

Việt Nam hiện nay đã tham gia một số FTA thế hệ mới, trong đó nổi bật là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA, cụ thể:

- Hiệp định CPTPP: Các nước cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 65-95% số dòng thuế và xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế quan trong vòng 5-10 năm.

Trong CPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ số dòng thuế ở mức cao, theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 khi Hiệp định có hiệu lực. Đối với thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu theo lộ trình từ 5-15 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.

- Hiệp định EVFTA: Các nội dung chính của Hiệp định, bao gồm: Thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, hàng rào kỹ thuật trong thương mại, đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững; các vấn đề pháp lý, hợp tác và xây dựng năng lực.

Trong EVFTA, Việt Nam và EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99% số dòng thuế trong khoảng thời gian 7 năm đối với EU và 10 năm đối với Việt Nam. Theo đó, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, sau 3 năm là 58,7% số dòng thuế, sau 5 năm là 79,6% số dòng thuế, sau 7 năm là 91,8% số dòng thuế và sau 10 năm là 98,3% số dòng thuế.

Đối với thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu hàng hóa sang EU với lộ trình lên đến 15 năm.

Tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam

Việc ký kết và tham gia các FTA thế hệ mới sẽ có tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, theo đó, kim ngạch xuất nhập khẩu sang các nước đối tác sẽ tăng, củng cố thị trường truyền thống, khơi thông nhiều thị trường tiềm năng trên cơ sở thúc đẩy quan hệ với các đối tác chiến lược kinh tế quan trọng. Cụ thể:

Thứ nhất, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu: Tự do hóa thương mại nói chung và các FTA thế hệ mới nói riêng có tác động thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Những quy định trong các FTA này buộc nền kinh tế thành viên, trong đó có Việt Nam, phải tái cấu trúc, mở ra những thị trường mới và tạo sức hút về hàng hóa. Trong thời gian tới, khi việc thực hiện cắt giảm thuế quan theo các FTA bước vào giai đoạn cắt giảm sâu thì xuất khẩu của Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh do: (i) Sự nỗ lực của các bộ, ngành liên quan trong việc phấn đấu đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 7-8% mà Quốc hội đề ra; (ii) Khi thuế suất giảm, đặc biệt là đối với các mặt hàng nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu như: Nguyên phụ liệu dệt may, chất dẻo, ngô, cao su…; (iii) Hiệp định CPTPP và EVFTA đi vào thực thi sẽ là động lực cho xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

Đặc biệt, với cam kết mở cửa thị trường trong EVFTA sẽ giúp mở rộng hơn nữa thị trường hàng xuất khẩu, nhất là những sản phẩm mà cả hai cùng có lợi thế như nông thủy sản, đồ gỗ, dệt may, giày dép… của Việt Nam, máy móc, thiết bị, ô tô, xe máy, đồ uống có cồn của EU. 

Thứ hai, đối với sản xuất trong nước: Việc tham gia các FTA thế hệ mới sẽ khiến cho nhiều mặt hàng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nước có giá thấp hơn, do đó, chi phí sản xuất của các doanh nghiệp được cắt giảm, từ đó, giá cả hàng hóa sẽ cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước để xuất khẩu. Việc cắt giảm thuế quan sẽ khiến hàng hóa nhập khẩu từ các nước, đặc biệt là các nước EU vào Việt Nam sẽ nhiều hơn do giá thành rẻ, mẫu mã phong phú và đa dạng, tác động tích cực đến sản xuất trong nước.

Thứ ba, đối với môi trường kinh doanh: Việc tham gia các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP về các vấn đề thể chế, chính sách pháp luật sau đường biên giới… sẽ tạo điều kiện và động lực cơ hội để thay đổi, cải thiện chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch hơn, thuận lợi và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Các FTA thế hệ mới sẽ giúp Việt Nam kiện toàn hơn bộ máy nhà nước, theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách nhiệm, kỷ cương kỷ luật của cán bộ, từ đó, hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam.

Thứ tư, đối với thu hút đầu tư nước ngoài (FDI): Trong các FTA thế hệ mới đều có các cam kết đối xử công bằng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam nhanh hơn. Các FTA thế hệ mới cũng có các quy định về phát triển bền vững, giúp hạn chế bớt những công nghệ lạc hậu và thúc đẩy phát triển các công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường. Những xu hướng này mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam và cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong giai đoạn tới, khi các FTA thế hệ mới có hiệu lực, việc dỡ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và dịch vụ, mở cửa thị trường mua sắm Chính phủ, dịch vụ tài chính… sẽ mở ra cơ hội lớn đối với lĩnh vực đầu tư của Việt Nam.

Với các quy định trong các FTA thế hệ mới, các nhà đầu tư sẽ đầu tư chiều sâu vào thị trường Việt Nam, do đó, chất lượng đầu tư nước ngoài sẽ được cải thiện, tạo động lực cho phát triển nền kinh tế. Ví dụ: EVFTA sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư chất lượng cao của EU và các đối tác khác vào Việt Nam. Tính đến nay, các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.

Một số thách thức đặt ra

Bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện các FTA thế hệ mới đặt ra một số thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, thách thức về hoàn thiện thể chế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Quá trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế đã có những tác động sâu rộng đến nền kinh tế Việt Nam. Công tác xây dựng thể chế, chính sách dần được hoàn thiện, giúp nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến rõ nét. Hội nhập quốc tế góp phần mở rộng thị trường, tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam so với các nước trong khu vực; qua đó, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có chuyển biến về chất.

Tuy nhiên, so với thông lệ quốc tế, thể chế kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam còn khoảng cách lớn. Nếu chúng ta không nỗ lực cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường thì đây chính là rào cản ngăn dòng vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng vào Việt Nam, không nâng được năng lực cạnh tranh của hàng hóa, sản phẩm Việt Nam trong thương mại quốc tế.

Thứ hai, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp Việt Nam cũng như từng sản phẩm hiện nay còn thấp. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết dẫn đến các hàng hóa sản xuất trong nước chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ hàng hóa nhập khẩu, đồng thời các ngành sản xuất trong nước chịu tác động trực tiếp của những biến động trên thị trường hàng hóa quốc tế. Mặt khác, hầu hết các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là gia công lắp ráp, nguyên phụ liệu đầu vào chủ yếu phải nhập khẩu; Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu thấp, trong khi tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm chậm được cải thiện...

Thứ ba, đối với nhập khẩu, mặc dù việc ký kết FTA với nhiều đối tác song trong ngắn hạn, nhập khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào các thị trường truyền thống (như Trung Quốc), do mức độ cam kết thuế sâu cũng như vị trí địa lý thuận lợi sẽ khiến cho vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc chưa thể giải quyết dứt điểm. Bên cạnh đó, việc cắt giảm thuế cũng tạo nhiều áp lực đến hoạt động của doanh nghiệp trong nước.

Thứ tư, có một số vấn đề đặt ra đối với dòng vốn FDI: (i) Đóng góp của FDI trong việc nâng cao năng lực công nghiệp, còn hạn chế; (ii) Mối liên kết giữa khối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu kém; (iii) Các doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực gia công lắp ráp, thâm dụng lao động và ít có khả năng tạo tác động lan tỏa về mặt công nghệ; (iv) Khung pháp lý và chính sách mở cửa FDI, hội nhập kinh tế quốc tế tuy đã được cải thiện, song vẫn còn nhiều hạn chế trong quản lý, dẫn tới các vấn đề như ô nhiễm môi trường, chuyển giá, trốn thuế…; (iv) Dòng vốn liên thông hơn với quốc tế cũng khiến cho những nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động cũng đặt ra những thách thức trong việc xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô.

Thứ năm, tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ thuế xuất nhập khẩu trên tổng thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm, do thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi và ưu đãi đặc biệt vào lộ trình cắt giảm sâu.

Thứ sáu, thị trường dịch vụ tài chính trong nước chưa thực sự phát triển. Mở cửa thị trường theo cam kết đã tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt trên cả 3 cấp độ gồm: Cạnh tranh giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm nước ngoài; cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài và cạnh tranh giữa các chính phủ về thể chế và môi trường kinh doanh.

Thứ bảy, trình độ đội ngũ cán bộ và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục tăng cường để đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát thị trường, cải cách thủ tục hành chính, hạn chế gian lận thương mại…

Một số khuyến nghị

Để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế những thách thức trong thực hiện cam kết của các FTA thế hệ mới, thời gian tới, cần chú trọng đến một số giải pháp sau:

Đối với Nhà nước

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách gắn với việc thực hiện các cam kết hội nhập, nhằm nâng cao hiệu quả huy động, sử dụng vốn đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; Thay đổi chính sách thu hút FDI theo hướng chọn lọc các dự án, đối tác phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; Chú trọng hướng phát triển bền vững để giảm thiểu tác động tiêu cực; Tăng cường công tác kiểm soát các doanh nghiệp FDI, nhất là các doanh nghiệp thường báo lỗ để tránh các hiện tượng chuyển giá. 

- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế theo lộ trình. Trong việc sửa đổi, bổ sung các chính sách, cần đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả, duy trì ổn định môi trường đầu tư, kinh doanh, không gây xáo trộn, ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng như các nhà đầu tư mới. Kịp thời rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, bãi bỏ quy định không phù hợp với các cam kết quốc tế nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế song phương, đa phương và khu vực mà Việt Nam là thành viên.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực về đầu tư, xây dựng, đất đai, thuế, hải quan, xuất nhập khẩu phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; Giám sát chặt chẽ việc ban hành và áp dụng các giấy phép, điều kiện kinh doanh; Đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế tài chính, đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế.

- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các cam kết, hiệp định mà Việt Nam tham gia đến từng ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân để các đối tượng có liên quan thực hiện hiệu quả các cam kết; Hoàn thiện các chính sách thương mại cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và không xung đột với các cam kết trong các FTA mà Việt Nam đã và sẽ tham gia.

- Xây dựng và quy hoạch, đồng bộ hóa các ngành công nghiệp hỗ trợ xác định ngành công nghiệp phụ trợ phù hợp với Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, đảm bảo tính hiệu quả trong thực thi chính sách, nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.  

Đối với các hiệp hội

- Tiếp tục triển khai các hoạt động cung cấp và tư vấn cho doanh nghiệp về pháp luật kinh doanh, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện quốc tế, những rào cản thương mại của các thị trường xuất khẩu; Tổ chức nhiều chương trình xúc tiến thương mại – đầu tư theo thị trường, ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh cụ thể để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.

- Tiếp tục đẩy mạnh vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý, tạo điều kiện kết nối giao lưu giữa các doanh nghiệp hội viên; tăng cường phổ biến thông tin hội nhập về pháp luật của các nước, sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, quản lý chất lượng, các quy tắc xuất xứ… cho các doanh nghiệp hội viên, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu.

Đối với doanh nghiệp

- Tăng cường liên kết với nhau, tạo những cơ hội đầu tư nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh; Chủ động xây dựng năng lực sản xuất, kinh doanh, cải thiện chất lượng, mẫu mã sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh và xây dựng thương hiệu; Tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ, đầu tư vào các vùng trồng nguyên liệu để giảm thiểu phụ thuộc nguyên phụ liệu của các nhà cung cấp nước ngoài.

- Đổi mới hoạt động quản trị doanh nghiệp và công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường quảng bá thương hiệu; Cùng với đó, chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh, phát triển sản xuất để có thể cạnh tranh với hàng hóa từ các nước trong khu vực ngay cả trong thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu, nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí về quy tắc xuất xứ để được hưởng các ưu đãi về thuế quan. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần theo dõi sát sao các thông tin, lộ trình cam kết... từ đó, đưa ra định hướng đúng, xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý. Quan trọng hơn, cộng đồng doanh nghiệp phải có lộ trình thích nghi, thay đổi phù hợp. Bởi vì, nếu rào cản thuế quan được gỡ bỏ hoàn toàn và mang lại lợi ích kinh tế lớn, thì quy tắc xuất xứ nổi lên như một rào cản mới.

- Cần có cơ chế đầu tư nguồn nhân lực sớm, có chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần thỏa đáng cho người lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề cao. Đây chính là đầu tư cho nguồn nhân lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh khi hội nhập. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần đổi mới cơ chế quản lý tiền lương gắn với năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh, khuyến khích người lao động tự động nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của mình.   

 

 

NVC41 - GIỮ VỮNG TÌNH HỨU NGHỊ VIỆT NAM- NHẬT BẢN

 

Việt Nam và Nhật Bản có mối quan hệ lâu đời từ nhiều thế kỷ trước. Đầu thế kỷ 17, Nhật Bản đã tiến hành giao thương với nước ngoài bằng con thuyền có tên gọi là Châu Ấn và cảng Nagasaki là cảng duy nhất lúc bấy giờ được phép tham gia vào hoạt động giao thương này. Trong đó, một thương nhân của Nagasaki là ông Araki Sotaro thông qua Châu Ấn thuyền đã tăng cường giao thương với nước An Nam (nay là Việt Nam), đóng góp vào phát triển quan hệ hai nước và tạo được sự tin tưởng từ Chúa Nguyễn.

Với lý do đó, Araki Sotaro đã được Chúa Nguyễn gả con gái nuôi là Công chúa Ngọc Hoa. Sau đó, Công chúa Ngọc Hoa đã chuyển về Nagasaki, sinh sống cùng chồng và được người dân địa phương gọi với cái tên trìu mến là “Nàng Anio”. Cũng như Nhật Bản, hiện nay, tại Việt Nam vẫn còn lưu giữ những dấu ấn ngày xưa liên quan đến Nhật Bản, trở thành di sản chung của cả hai nước.

Bước qua giai đoạn của phong trào Đông Du do nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu khởi xướng, quan hệ song phương có lúc thăng lúc trầm. Ngày 21/9/1973, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đánh dấu sự phát triển mới trong quan hệ hai nước trong bối cảnh mới. Sau năm 1975, Đại sứ quán được mở tại Thủ đô mỗi nước, đồng thời hai bên ký thỏa thuận về việc Chính phủ Nhật Bản bồi thường chiến tranh với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại đối với Việt Nam. Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Từ đó đến nay, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, giao lưu văn hóa… được mở rộng; sự hiểu biết và tin cậy giữa hai nước từng bước được tăng lên.

Có nhiều dấu ấn quan trọng ngoại giao song phương Việt Nam - Nhật Bản: Năm 1995, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Tổng Bí thư Việt Nam đầu tiên thăm chính thức Nhật Bản; tiếp theo Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm năm 2002 và 2009. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Nhật Bản từ ngày 15 - 18/9/2015. Trong chuyến thăm này, hai bên khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục hợp tác và hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế bền vững, tăng cường hợp tác lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực hướng tới lợi ích chung của nhân dân hai nước. Năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Nhật Bản. Sau đó, Thủ tướng Phan Văn Khải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên tục thăm Nhật Bản.

Về phía Nhật Bản, năm 1994, ông Murayama Tomiichi trở thành Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên thăm Việt Nam. Tiếp đó lần lượt các Thủ tướng Hashimoto Ryutaro(1/1997), Thủ tướng Obuchi Keichi (12/1998), Thủ tướng Koizumi Junichiro (4/2002 và 10/2005), Thủ tướng  Abe Shinzo (11/200, 1/2013, tháng 1 và tháng 10/2017) và Thủ tướng Naoto Kan (10/2010), Thủ tướng Suga Yoshide (10/2020) thăm Việt Nam.  28/2 - 5/3/2017, Nhà Vua Nhật Bản Akihito và Hoàng Hậu thăm chính thức Việt Nam. Chuyến thăm này thể hiện Nhật Bản rất coi trọng tăng cường hợp tác với Việt Nam. Giai đoạn này được đánh giá là tốt đẹp nhất trong lịch sử quan hệ hai nước. Bên cạnh đó, Hoàng thái tử Nhật Bản (2/2009), Hoàng tử Nhật Bản (6/1999 và 8/2002) cũng đã thăm Việt Nam.

Trong khuôn khổ những chuyến thăm trên, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển, nhiều  khuôn khổ quan hệ được thiết lập: Tháng 4/2002: Nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Koizumi, hai nước thiết lập quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”. Tháng 7/2004: Tuyên bố chung giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao xác định “Vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững”.

Tháng 11/2006, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Abe Shinzo, hai bên ra Tuyên bố chung xác định “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”. Tháng 11/2007, nhân chuyến thăm cấp nhà nước lần đầu tiên tới Nhật Bản, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda đã ký Tuyên bố chung “Làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật Bản” và “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”.

Năm 2009, nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Aso Taro đã ký Tuyên bố chung về “Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” nhất trí đưa quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược. Nhật Bản là nước G7 đầu tiên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam (tiếp theo là Anh năm 2010, Đức năm 2011).

Tháng 10/2010, nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan, Thủ tướng hai nước đã ký Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á. Tháng 10/2011, trong chuyến thăm Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Noda đã ký Tuyên bố chung “triển khai hành động trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản”. Tháng 3/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản. Hai bên ra Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.

Tháng 11/2021 trong chuyến thăm Nhật Bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính và người đồng cấp - Thủ tướng Kishida Fumio, hai bên đã đưa ra Tuyên bố chung tái khẳng định: nhất trí đưa quan hệ "Đối tác Chiến lược Sâu rộng Việt Nam - Nhật Bản" phát triển lên tầm cao mới, ngày càng sâu sắc, thực chất và hiệu quả trên mọi lĩnh vực

Và nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản để tham dự Lễ kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, chiều ngày 27 tháng 11 năm 2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Thủ tướng Kishida Fumio đã công bố nâng cấp quan hệ hai nước lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới



NVD41 - Từ trái tim đến trái tim và hợp tác không giới hạn trong quan hệ Việt - Nhật

         Thủ tướng Phạm Minh Chính ấn tượng với học thuyết 'từ trái tim đến trái tim' của cố Thủ tướng Fukuda. Còn Thủ tướng Kishida khẳng định sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Với khoảng 40 hoạt động trong 4 ngày qua, chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 50 năm quan hệ ASEAN-Nhật Bản và hoạt động song phương tại Nhật Bản từ ngày 15-18/12 đã thành công tốt đẹp và đạt nhiều kết quả thực chất, quan trọng, hoàn thành tất cả các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra.

Trong đó phải kể đến các hoạt động song phương góp phần cụ thể hóa, triển khai quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới” với Nhật Bản. Đây là chuyến công tác đến Nhật Bản đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam chỉ sau 2 tuần kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ. Trong 40 hoạt động suốt cả chuyến công tác có đến 30 hoạt động, Thủ tướng Phạm Minh Chính dành nhiều thời gian để gặp gỡ chính giới và giới kinh tế Nhật Bản. Điều đó thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ Việt Nam trong việc đưa quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển thực chất, hiệu quả, toàn diện theo khuôn khổ quan hệ mới, triển khai các dự án cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước.

"Từ trái tim đến trái tim"

Cụ thể, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã hội kiến Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản; hội đàm với Thủ tướng Kishida Fumio; hội kiến Chủ tịch Hạ viện, Thượng viện; tiếp 2 cựu Thủ tướng Nhật Bản. Tại các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc song phương với lãnh đạo cấp cao của Nhật Bản, hai bên đều thể hiện tinh thần “tình cảm, chân thành, tin cậy, thực chất, hiệu quả”. Nhiều lần nhắc lại học thuyết "từ trái tim đến trái tim" của cố Thủ tướng Fukuda, Thủ tướng cho biết chuyến công tác lần này để cụ thể hóa thỏa thuận cấp cao của 2 nước.

Sự gắn kết “từ trái tim đến trái tim” được cộng hưởng và nhân lên qua nhiều cấp độ: Giữa hai dân tộc, hai đất nước, nhân dân hai nước; giữa các địa phương của Việt Nam và các địa phương của Nhật Bản; giữa các gia đình, cá nhân Việt Nam với các gia đình, cá nhân Nhật Bản. Trong đó, sự gắn bó thân thiết của các thành viên gia đình cựu Thủ tướng Fukuda với Việt Nam là một ví dụ điển hình.

Cũng với tình cảm chân thành, sâu sắc đó, Thủ tướng đã tới thăm gia đình cố Thủ tướng Abe Shinzo. Ông người bạn lớn, thân thiết của Chính phủ, nhân dân Việt Nam, một cái tên không thể không nhắc tới trong các chuyến công tác đến Nhật Bản của lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Đáp lại tình cảm chân thành của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Kishida cũng như các lãnh đạo và cựu lãnh đạo khác của Nhật Bản đều bày tỏ tình cảm đặc biệt dành cho Thủ tướng Phạm Minh Chính nói riêng và Việt Nam nói chung bằng sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm cùng với những cái ôm, nắm tay rất chặt và nụ cười đầy niềm nở.

Chính giới Nhật đều tái khẳng định ủng hộ sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện quan hệ hai nước, nhất trí tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực. Tinh thần “tình cảm, chân thành, tin cậy, thực chất, hiệu quả” cũng được lan tỏa tại các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc của Thủ tướng với một số lãnh đạo địa phương, ngành của Nhật Bản.

Trong đó phải kể đến sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp mà chính quyền và nhân dân tỉnh Gunma dành cho Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam trong ngày đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản.

Hợp tác Nhật Bản - Việt Nam là không giới hạn

Thông điệp “hợp tác Nhật Bản - Việt Nam là không giới hạn” đã được hai bên nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các cuộc gặp gỡ. Thủ tướng Kishida cùng lãnh đạo nhiều địa phương, ngành và doanh nghiệp Nhật Bản đều tiếp tục khẳng định hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Hai bên cùng nhất trí mở rộng hợp tác trong lĩnh vực các lĩnh vực mới chuyển đổi xanh, ứng phó biến đổi khí hậu… thông qua các dự án thiết thực.

Trong đó, Nhật Bản sẽ thúc đẩy hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải thông qua Trung tâm Sáng kiến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 ở Châu Á (AZEC) do Nhật Bản thành lập...Qua 50 năm, Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam, đứng thứ 2 về hợp tác lao động, đứng thứ 3 về hợp tác đầu tư và du lịch, đứng thứ 4 về hợp tác thương mại. Hai nền kinh tế có tính bổ trợ, bổ sung cho nhau cùng phát triển.

Hợp tác thương mại, đầu tư tiếp tục là một trong những nội dung trọng tâm được Thủ tướng quan tâm trong chuyến công tác lần này. Thủ tướng đã tham dự và phát biểu tại 4 tọa đàm, diễn đàn, hội nghị với các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản về kinh tế, đầu tư, tài chính, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chất bán dẫn….Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam cũng dành thời gian tiếp một số đối tác lớn của Việt Nam: Chủ tịch Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC),… và tiếp lãnh đạo một số tập đoàn lớn hàng đầu của Nhật Bản.

Tại diễn đàn kinh tế Việt Nam – Nhật Bản với sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật Bản, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam thực sự là điểm đến an toàn trong "cơn bão" khi kinh tế thế giới có nhiều rủi ro. Thủ tướng kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục đến đầu tư và thành công tại Việt Nam với lời nhắn nhủ "thành công của nhà đầu tư cũng là thành công của Việt Nam". Với tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”, Chính phủ cam kết luôn hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhật Bản triển khai hoạt động đầu tư kinh doanh có hiệu quả và bền vững tại Việt Nam.

Lãnh đạo các doanh nghiệp Nhật Bản đều đánh giá cao sự phát triển, ổn định của kinh tế Việt Nam cũng như triển vọng kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam, sẵn sàng đầu tư, mở rộng kinh doanh trong các lĩnh vực Việt Nam ưu tiên. Hai bên khẳng định, việc sớm triển khai các dự án ODA mới của Nhật Bản với tính ưu đãi cao, thủ tục đơn giản, linh hoạt cho các dự án mang tính chuyển đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế trong 5 lĩnh vực trọng tâm mà Việt Nam có nhu cầu, trong đó thúc đẩy trao đổi khả năng hợp tác xây dựng đường sắt tốc độ cao Hà Nội – TP.HCM.

Ngoài ra, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị các đối tác Nhật Bản tích cực cùng tham gia xử lý những vướng mắc liên quan tới một số dự án FDI tỷ USD như chuỗi dự án khí Lô B-Ô Môn, dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn. Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio đã nhất trí thành lập nhóm điều phối chung giữa hai Chính phủ để thúc đẩy tiến độ và hiệu quả của một số dự án kinh tế đang triển khai giữa hai nước, trong đó có dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Thủ tướng đã tham dự tọa đàm với 10 doanh nghiệp vi mạch bán dẫn hàng đầu Nhật Bản, qua đó khẳng định Việt Nam mong muốn và quyết tâm phát triển đột phá ngành công nghiệp bán dẫn. Nhiều doanh nghiệp bán dẫn cũng nhìn nhận Việt Nam là một trong những điểm đến đầy hứa hẹn để xây dựng các nhà máy sản xuất chất bán dẫn. Nhân dịp này, các bộ, ngành và doanh nghiệp hai nước đã trao đổi hơn 30 văn kiện hợp tác, trị giá gần 3 tỷ USD, trong đó có giấy chứng nhận đầu tư nhà máy điện khí LNG gần 2 tỷ USD tại Thái Bình.

Hai nước cũng ký kết 3 công hàm về hợp tác ODA với tổng trị giá hơn 200 triệu USD, góp phần đưa tổng giá trị hợp tác ODA giữa hai nước trong năm 2023 đạt hơn 100 tỷ yên (tương đương gần 800 triệu USD), cao nhất kể từ năm 2017. Phần lớn các văn kiện này thuộc những lĩnh vực hợp tác mới như: Xây dựng thành phố thông minh, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, logistics, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, robot...Những kết quả này đã mở ra cơ hội hợp tác giữa hai nước, là bước khởi đầu cho một làn sóng đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam trên các lĩnh vực mới trong thời gian sắp tới./.

 

                                                                     

                     

NVB41 - XÂY DỰNG LÝ LUẬN VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

             Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gồm 612 trang, được chia thành ba phần. Có thể khẳng định cuốn sách góp phần làm sáng rõ bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam.

Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhất là từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm nhất quán: “Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc”; “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” đã mang lại kết quả rất đáng ghi nhận.


            Đó là thực tiễn thể hiện tư tưởng nhất quán, kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay; giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững, quán triệt và tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong 

NVB41 - CÔNG ĐIỆN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG

 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 1426/CĐ-TTg về các giải pháp quản lý thị trường vàng.

Công điện gửi: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ trưởng các Bộ: Công an, Công Thương, Tài chính, Tư pháp, Thông tin và Truyền thông; Tổng Thanh tra Chính phủ, nêu rõ:

Trong thời gian vừa qua, thị trường vàng thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, giá vàng trong nước biến động mạnh, tăng nhanh, tác động tiêu cực đến an toàn thị trường tài chính, tiền tệ và tâm lý xã hội. Để ổn định và phát triển thị trường vàng an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo dõi sát diễn biến giá vàng thế giới và trong nước để khẩn trương thực hiện ngay các giải pháp theo quy định để bình ổn thị trường vàng; chủ động xây dựng các kịch bản, phương án ứng phó với biến động của giá vàng thế giới và trong nước để sẵn sàng các biện pháp xử lý, sử dụng các công cụ theo thẩm quyền phù hợp, hiệu quả, kịp thời, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, dứt khoát không để tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế, không để tác động tiêu cực đến tỷ giá, lãi suất, thị trường tiền tệ, ngoại hối và an toàn, an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

Khẩn trương có giải pháp hiệu quả để quản lý, điều hành giá vàng miếng trong nước theo nguyên tắc thị trường, không để tình trạng chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế ở mức cao như thời gian qua ảnh hưởng tiêu cực đến điều hành kinh tế vĩ mô, báo cáo kết quả thực hiện trong tháng 1 năm 2024.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, giám sát chặt chẽ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm đối với thị trường vàng, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, các cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng và các chủ thể khác tham gia thị trường; kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập để xử lý chủ động, tích cực, hiệu quả theo thẩm quyền và báo cáo những vấn đề vượt thẩm quyền, đề xuất cấp thẩm quyền biện pháp xử lý phù hợp, đúng quy định; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật, nhất là các hành vi buôn lậu, trục lợi, đầu cơ, thao túng, lợi dụng chính sách đẩy giá của các tổ chức, cá nhân… gây mất ổn định, an toàn thị trường vàng; trường hợp phát hiện hoạt động kinh doanh vàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, kịp thời chuyển tài liệu, hồ sơ cho cơ quan chức năng để xử lý nghiêm, công khai, minh bạch theo quy định pháp luật.

Đánh giá tổng thể, toàn diện về tình hình thị trường vàng trong nước và công tác quản lý nhà nước về thị trường vàng, bao gồm cả các nội dung về sản xuất, kinh doanh vàng miếng, vàng thương hiệu SJC, vàng trang sức... và xác định cụ thể những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập, tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý trong thời gian tới, bảo đảm chặt chẽ, khả thi, hiệu quả, đúng quy định, đúng thẩm quyền, ổn định thị trường vàng, ngoại hối, tiền tệ, góp phần hạn chế tình trạng vàng hóa nền kinh tế, bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

Rà soát khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý thị trường vàng và hoạt động kinh doanh vàng miếng, vàng trang sức..., đồng thời tổng kết thực hiện Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3-4-2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng để kịp thời đề xuất cấp thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định, bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công cụ quản lý nhà nước đối với thị trường vàng, phát triển thị trường minh bạch, lành mạnh, hiệu quả và bền vững, hoàn thành trong tháng 1 năm 2024.

Chủ động hơn nữa trong công tác thông tin, truyền thông, kịp thời cung cấp các thông tin chính thức công khai, minh bạch về chủ trương, chính sách quản lý thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại hối và vàng, củng cố niềm tin vào giá trị đồng Việt Nam và ổn định tâm lý người dân, tạo đồng thuận xã hội.

Các cơ quan chức năng, thanh tra, kiểm tra, bảo vệ pháp luật phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương thực hiện ngay các biện pháp công tác để kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến thị trường vàng và hoạt động kinh doanh vàng, nhất là các hành vi buôn lậu, thao túng, đầu cơ trục lợi…, bảo đảm thị trường vàng hoạt động ổn định, minh bạch, an toàn, lành mạnh, hiệu quả.

Các Bộ: Công an, Công Thương, Tài chính, Tư pháp, Thông tin và Truyền thông, các cơ quan liên quan và các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được chủ động phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quản lý thị trường vàng, kịp thời chia sẻ, cung cấp thông tin và chủ động xử lý các công việc, nhiệm vụ theo thẩm quyền, kịp thời báo cáo các cấp thẩm quyền các vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.

Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.


 

NVA41 - Phản bác các quan điểm phủ nhận thành tựu đổi mới ở Việt Nam

 

        Qua gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cho thấy, đất nước ta, dân tộc ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Điều đó cũng khẳng định quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo. Tuy nhiên, vì những mục tiêu đen tối, các thế lực có dã tâm với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã và đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả mà công cuộc đổi mới mang lại.

          Luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng đường lối đổi mới ở Việt Nam là “mù mờ”, “thiên đường mù”, “không tưởng”… Họ viết rằng, đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là hình thức, thực chất là “đỏ vỏ xanh lòng”, trên thực tế là đang phát triển chủ nghĩa tư bản. Luận điệu của họ là những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua là Việt Nam đã quá độ sang chủ nghĩa tư bản, đi theo chủ nghĩa tư bản. Chủ trương của Đảng lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo, tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, vì thế, phải phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

          Họ xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, với luận điệu của các thế lực thù địch là: Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì đất nước mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Họ cho rằng, sau gần 50 năm thống nhất đất nước, 37 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là “nước tụt hậu, nhân dân còn đói nghèo, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy đồi, xã hội vô kỷ cương”.

Thực tiễn đã chứng minh, 37 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đất nước phát triển nhanh và bền vững. Nổi bật là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6% – 6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

          Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển của đất nước. "Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 4,6 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,5% so với năm 2021. Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 3,6%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với năm 2021; có 23,5% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau".

          Nhờ những kết quả đã đạt được trong phát triển kinh tế mà niềm tin của nhân dân vào chế độ XHCN, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng được nâng cao, xã hội ngày càng đồng thuận. Đây cũng là bằng chứng thuyết phục cho thấy sự lựa chọn con đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn chứ không phải là sự “lạc đường” như các thế lực thù địch thường rêu rao. Những thành tựu mà Việt Nam đạt được về kinh tế, chính trị… trong công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là những luận cứ thực tiễn đầy thuyết phục để tấn công trực diện vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

          Cùng với đó, những thành tựu nổi bật về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng hiện nay. Điều này được ghi nhận qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, có thể nhận thấy chủ trương chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, nhất là với việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ngày càng đi vào thực chất. Trong 10 năm qua (2012 – 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36 ủy viên Trung ương, nguyên ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Kết quả này đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trong việc phát hiện, điều tra, xử lý dứt khoát tình trạng tham nhũng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, với cả những người đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo các cấp của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

          Những thành tựu đạt được trong gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; chỉ số phát triển con người (HDI) tăng lên, nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

          Những kết quả nổi bật đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định đường lối đổi mới của Việt Nam là đúng đắn, vừa phù hợp với xu thế khách quan, vừa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân.

NVH40 - Củng cố và phát triển quan hệ láng giềng với các nước Lào và Cam-pu-chia

 

Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia là ba nước láng giềng gần gũi, cùng trên bán đảo Đông Dương, khu vực hạ lưu sông Mê Công, có chung đường biên giới trên bộ và trên biển. Quan hệ đặc biệt giữa ba nước Việt Nam – Lào - Cam-pu-chia bắt nguồn từ cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, được vun đắp và phát triển qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng. Đó là tình đoàn kết thủy chung, là niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà ba dân tộc dành cho nhau, là sự giúp đỡ hết lòng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ba dân tộc.

Thực tiễn đời sống quan hệ quốc tế cho thấy, các quốc gia đều dành sự quan tâm thỏa đáng trong việc xử lý mối quan hệ với các nước láng giềng có chung đường biên giới. Bởi đây là mối quan hệ tác động trực tiếp đến vấn đề bảo đảm ổn định an ninh, chính trị và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước.

Quan hệ giữa các nước láng giềng, khu vực luôn là một trong những mối quan hệ quan trọng, nhưng cũng mang tính phức tạp và nhạy cảm. Mặc dù có những nét tương đồng về lịch sử, văn hóa và sự chia sẻ những giá trị chung trong cùng môi trường sinh thái, vị trí địa - chiến lược... song trên thực tế, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mối quan hệ giữa các nước láng giềng cũng phát sinh một số vấn đề, nên xử lý thiếu khôn khéo có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường, tác động không nhỏ đến sự ổn định và phát triển của nhiều quốc gia. Chính vì thế, để có một môi trường hòa bình và ổn định, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nước, vấn đề đặt ra đối với các quốc gia trước hết là phải xây dựng được mối quan hệ hợp tác, hữu nghị, hòa bình với các nước láng giềng khu vực.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại theo hướng rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, đồng thời xác định rõ, đây là vấn đề chiến lược, tác động trực tiếp đến lợi ích quốc gia - dân tộc; tác động đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy, cách tiếp cận để xem xét các vấn đề thời đại, giải quyết tổng thể các vấn đề trong nước để có thể linh hoạt xử lý trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình khu vực và thế giới, vì một mục tiêu chung là bảo đảm ổn định, phát triển. Theo đó, Đại hội VI của Đảng xác định nhiệm vụ “phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương,... hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em... Việt Nam trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia(1). Đặc biệt, sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trật tự thế giới thay đổi đã tác động mạnh đến môi trường khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, quan hệ với các nước láng giềng tiếp tục được Đảng ta quan tâm và coi đó là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt giữa Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân Cam-pu-chia anh em. Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, quan hệ với các nước láng giềng tiếp tục được khẳng định  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, đến từng bước chuyển sang định hướng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”; “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, đặc biệt Đảng ta nhấn mạnh: “Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng”. Định hướng ưu tiên mà Đảng đề ra trong quan hệ với các đối tác là các nước láng giềng, các đối tác lớn, đối tác quan trọng, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cần phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống; thúc đẩy quan hệ với các đối tác phát triển, có tiềm lực lớn, phục vụ thiết thực cho mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Việt Nam đặc biệt coi trọng vấn đề cải thiện quan hệ với các nước láng giềng, trong đó xác định giải quyết vấn đề Cam-pu-chia là một điểm “đột phá” vừa góp phần tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định ở khu vực, vừa tạo điều kiện thuận lợi phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam tích cực phối hợp với Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia nhằm thúc đẩy đối thoại giữa các bên hữu quan, nhanh chóng tìm kiếm một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được. Ngày 23-10-1991, Hiệp định hòa bình Pa-ri được ký kết đưa đến giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Đây là một thắng lợi của Đảng ta trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại với các nước láng giềng, tạo điều kiện thuận lợi góp phần đưa Việt Nam thoát  khỏi sự bao vây, cô lập, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Việc tạo lập được mối quan hệ hợp tác với các nước láng giềng dựa trên cơ sở tùy thuộc lẫn nhau về an ninh và phát triển là một bảo đảm hết sức quan trọng nhằm xác lập được vị thế có lợi, giảm thiểu được những bất lợi trong quan hệ của Việt Nam với các nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong sự nghiệp đổi mới và nâng cao vị thế của đất nước. Trên cơ sở đó, Việt Nam từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới, tạo dựng thế và lực mới cho đất nước phát triển bền vững hơn trong tương lai.

 

 

NVH40 - Tiếp tục thúc đẩy quan hệ láng giềng Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trong bối cảnh mới

 

Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến nhanh chóng, khó lường, với những hình thái tập hợp lực lượng đa dạng và sự cạnh tranh quyền lực phức tạp, nhất là giữa các nước lớn ở khu vực, thì việc củng cố quan hệ hợp tác với các nước láng giềng và khu vực nhằm tạo lập môi trường hòa bình, ổn định lại càng có giá trị to lớn và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo đảm an ninh và phát triển của Việt Nam. Quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay rất cần một tầm nhìn chiến lược đối với các vấn đề địa - chính trị ở cả khu vực Đông Nam Á, rộng hơn là châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới. Tầm nhìn này thể hiện ở sự gắn kết chặt chẽ an ninh, phát triển của đất nước với khu vực, từ đó làm cơ sở nền tảng cho thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng.

Một là, cần xác định nhiệm vụ to lớn và quan trọng của công tác đối ngoại trong tình hình mới như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Cần xây dựng một chiến lược đối ngoại toàn diện, trong đó bao gồm những định hướng chính sách phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa thành những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục và hạn chế những vấn đề còn tồn đọng, thúc đẩy quan hệ hợp tác với Lào, Cam-pu-chia, cũng như quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả hơn. Để có một chiến lược đối ngoại như vậy thì việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và thấu đáo thực tiễn phát triển quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng và động thái phát triển của mối quan hệ đó trong bối cảnh khu vực và thế giới có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Hai là, Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tham gia góp phần giữ vững môi trường quốc tế hòa bình, đặc biệt là môi trường khu vực của các nước láng giềng, tạo thuận lợi để phát triển đất nước về mọi mặt, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nắm vững quan điểm biện chứng về hợp tác và đấu tranh, về đối tác và đối tượng để không bị động, rơi vào thế bị cô lập, “chọn bên” và lệ thuộc. Trong một môi trường địa - chính trị đầy cạnh tranh, khó dự báo như hiện nay, cần dành sự quan tâm, đầu tư hơn nữa để phát triển quan hệ với các nước láng giềng có chung đường biên giới, tạo bước đột phá mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quan hệ hợp tác với Lào và Cam-pu-chia nói riêng và các nước trong khu vực nói chung.

Ba là, cần quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIII của Đảng về tư tưởng chỉ đạo định hướng mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và khu vực là giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, lấy đó làm tiêu chí hàng đầu để xác định hay điều chỉnh biện pháp, chính sách một cách kịp thời, linh hoạt, khôn khéo, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược. Độc lập, tự chủ là lợi ích cao nhất của đất nước và cũng là nguyên tắc bất di, bất dịch của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Cần quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa sống còn của mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Cam-pu-chia đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong tình hình mới. Các mối quan hệ đó phải được coi trọng đúng tầm trong tổng thể hoạt động đối ngoại, theo tinh thần hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn cho thấy, vấn đề bảo đảm an ninh và phát triển của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia có liên quan mật thiết với nhau, không thể tách rời, bất ổn ở nước này sẽ tác động trực tiếp đến nước kia và ngược lại. Vì vậy, việc giữ gìn, củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào; quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam - Cam-pu-chia có tầm quan trọng đặc biệt. Do vậy, hơn bao giờ hết, Việt Nam cần chủ động triển khai hợp tác cụ thể, thực chất với Lào và Cam-pu-chia, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, thiết thực và hiệu quả trong quan hệ hợp tác giữa các bên.

Bốn là, trong quá trình phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, cần tiếp tục coi trọng phương châm “phát triển kinh tế là trung tâm” và “phát triển kinh tế - thương mại gắn kết với quốc phòng - an ninh với hoạt động đối ngoại”; mọi chủ trương, chính sách đối với các nước láng giềng đều tập trung vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, trong quan hệ với Lào và Cam-pu-chia cần xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển và an ninh, theo hướng coi phát triển kinh tế là nhân tố quyết định bảo đảm an ninh, phát triển và ngược lại, bảo đảm an ninh nhằm phục vụ phát triển kinh tế.

Năm là, cần phát huy cao nhất tính chủ động và linh hoạt, nâng cao tính thiết thực, thực tế trong quan hệ đối ngoại giữa ba nước, không để các thế lực bên ngoài kích động chia rẽ, chống phá quan hệ của nước ta với các nước láng giềng. Chúng ta cần thúc đẩy hợp tác, đồng thời chủ động, kiên quyết, khôn khéo đấu tranh để bảo vệ, duy trì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân cả ba nước nhận thức rõ ràng, thực chất về tầm quan trọng của mối quan hệ láng giềng, đồng thời cảnh giác với mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trước những thông tin trái chiều, sai sự thật và những vấn đề nhạy cảm liên quan đến mối quan hệ láng giềng, liên quan đến xử lý quan hệ với các nước lớn, cần chủ động tuyên truyền kịp thời, chính xác để nhân dân hiểu đúng sự việc và định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận trong xã hội đối với chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ biết trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với Lào và Cam-pu-chia.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, tất cả các quốc gia đều phải chịu những ràng buộc bởi luật chơi chung, mỗi quốc gia không còn là một cá thể riêng biệt mà phải chấp nhận hoặc gắn bó với nhau trong các mối quan hệ. Củng cố và phát triển quan hệ với các nước láng giềng có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong đường lối, chính sách và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Giải quyết hiệu quả mối quan hệ này sẽ là cơ sở để Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả hơn./.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...