Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

NVE40-VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

            Tự do tôn giáo luôn được Đảng, nhà nước ta quan tâm và thực hiện một cách có hiệu quả nhưng mới đây tại một “phiên điều trần” với chủ đề: “Tình trạng tồi tệ về tự do tôn giáo trên thế giới” vừa được Tiểu ban Sức khỏe toàn cầu, Nhân quyền toàn cầu và Ủy ban Đối ngoại của Hạ viện Mỹ, cùng một vài tổ chức quốc tế tiến hành. Tại “phiên điều trần”, đại diện một số tổ chức như: Ủy hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế (USCIRF); Tổ chức Cứu trợ người vượt biển (BPSOS) và đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ phụ trách vấn đề tự do tôn giáo đã đưa ra những phát biểu hồ đồ, vô căn cứ, sai sự thật về việc thực hiện quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam. Họ cho rằng, ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo” và vu cáo Việt Nam “đàn áp và bỏ tù” hàng loạt người dân tộc thiểu số hoạt động tôn giáo...

            Như chúng ta đã thấy thực chất của cái gọi là “phiên điều trần” này không gì khác là nhằm tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân thù địch xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo về tự do tôn giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những phát biểu của một vài tổ chức như đã nói tại “phiên điều trần” về tự do tôn giáo ở Việt Nam là hồ đồ, vô căn cứ, bóp méo, xuyên tạc sự thật một cách trắng trợn. Tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam đã nhiều lần công bố trước thế giới quan điểm, chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời, nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”.

            Những minh chứng cho thấy Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Trong Hiến pháp và các văn bản luật của Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã chứng minh quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

            Công tác bảo đảm tự do tôn giáo luôn phát triển và đồng hành cùng với Đảng, Nhà nước đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% tổng dân số, trên 54.000 chức sắc, trên 135.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm. Mọi người dân Việt Nam hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, không bị ép buộc, cấm đoán. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và đảm bảo. Ở Việt Nam ngày càng có thêm nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động. Số lượng các tín đồ tôn giáo tăng nhanh. Các cơ sở thờ tự liên tục được xây dựng, mở mang, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo. Hoạt động in ấn, phát hành kinh sách được xuất bản tự do theo nhu cầu của các tôn giáo. Công tác giáo dục, đào tạo về tôn giáo được thúc đẩy. Các hoạt động đối ngoại về tôn giáo ngày càng được đẩy mạnh…

            Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc…”. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh, các tôn giáo muốn phát triển đều phải hòa đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những yêu cầu cơ bản mà Nhà nước Việt Nam đặt ra là trong sáng vô tư, không có sự phân biệt hay đối xử thiên vị giữa các tôn giáo. Mục tiêu trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam là đoàn kết dân tộc, phát huy lòng yêu nước, trách nhiệm của đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

            Vì vậy chúng ta cần nhận thức rõ những âm mưu và hoạt động của các cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng tự do tôn giáo nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ chính trị tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ đó, họ thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo. Bằng mọi cách, họ tiến hành các hoạt động xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo sự thật nhằm làm giảm sút uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, tạo cớ hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhưng có một thực tế hiển nhiên họ không thể phủ nhận được là: Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng và đảm bảo, mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này không chỉ được thể hiện trong hệ thống đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà còn được thể hiện sinh động trong thực tiễn./.

 

NVE40- ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 

            Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); Hay ngày 07/8/2023, vụ xịt vòi rồng tàu Philippines… và nhiều nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng và chủ trương giải quyết tranh chấp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

            Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, trên trang blog BBC Tiếng Việt tán phát bài “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào”; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

            Như chúng ta đã biết Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

            Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

            Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

            Còn luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?” là sự kích động nằm trong âm mưu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Philippines. Hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Philippines được thiết lập ngoại giao vào ngày 12/7/1976 sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Cùng với việc mở rộng chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan hệ giữa hai nước đã ấm lên và phát triển không ngừng trên nhiều lĩnh vực và trước thềm hội nghị APEC 2015 ở Manila, Chính phủ hai nước đã ký kết thoả thuận nâng cấp mối quan hệ lên tầm đối tác chiến lược. Đối với Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị, tình cảm hữu nghị giữa hai nước đã được xây dựng qua nhiều thế hệ; đến nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi. Cùng với đó, những năm gần đây, hai nước đã có những đàm phán, ký kết và thỏa thuận là kiên trì giải quyết hòa bình vấn đề Biển đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển đông. Như vậy, luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" chính là sự khiêu khích, bởi quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông đã rõ ràng, chứng tỏ họ không có tinh thần xây dựng đất nước, mà thực chất là đang kích động bạo lực, kích động chiến tranh và làm xấu đi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng.

                Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

                Vì vậy chúng ta cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động, cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay/..

 

NVE40- KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM

 

Giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quyết định đến tiến trình phát triển lâu dài của đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu cùng sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, một số nhiệm vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn định. Nội dung, chương trình nặng lý thuyết, nhẹ về thực hành, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao. Vẫn còn các vụ bê bối trong thi cử, trong quan hệ của giáo viên, bạo lực học đường. Đặc biệt mới đây một số trang mạng xã hội Facebook và Youtube của trang t.b… gần đây có các video clip mang tiêu đề như: “Giáo dục XHCN: Quan ăn cỗ, dân ăn hôi. Dân muốn có chữ phải nhừ thân!”, hoặc “Thấy Tây khen rồi tự sướng…”; còn trang TTV… Điểm chung của các video clip trên có nội dung như sau: Một là phủ nhận hoàn toàn sạch trơn những thành tựu đạt được của nền giáo dục Việt Nam; hai là khoét sâu vào một số biểu hiện đơn lẻ còn tồn tại của nền giáo dục rồi quy đó là bản chất của nền giáo dục Việt Nam; ba là bịa đặt, xuyên tạc về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục, rồi tiếp đến bôi nhọ nền giáo dục XHCN, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam.


Thực tế chứ ng minh Việt Nam vốn là dân tộc coi trọng truyền thống giáo dục, trọng văn hơn trọng võ, từ lâu, ông cha ta rất quan tâm đến sự học và truyền thống hiếu học đã ăn sâu vào tư tưởng, nếp sống của các tầng lớp nhân dân. Trong lịch sử dân tộc, nhiều triều đại rất quan tâm đến sự học, cũng như chăm lo đến công tác giáo dục, đào tạo, phát triển, trọng dụng nhân tài.

Dù vậy, trong bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, trải qua những năm tháng sống dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, bị áp dụng chính sách “chia để trị, ngu để trị”, dân tộc ta bị lâm vào cảnh nhiều người mù chữ. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền còn non trẻ đó là diệt “giặc dốt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan niệm “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, cùng khát khao cháy bỏng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” đã phát động phong trào Bình dân học vụ để diệt giặc dốt và lan tỏa khắp các thôn làng, ngõ hẻm. Suốt 78 năm qua, kể từ phong trào Bình dân học vụ đến phong trào xóa mù chữ và phong trào xã hội học tập ngày nay là những bước tiến quan trọng của nền giáo dục Việt Nam.

Giáo dục là nền tảng của sự phát triển bền vững, quyết định tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc; giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục, nên ngay khi giành được độc lập, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, coi đây là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để xây dựng và phát triển đất nước. Những năm qua, đặc biệt là sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nền giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng. Chất lượng giáo dục, đào tạo từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện, mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo từng bước được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Nước ta không chỉ hoàn thành mục tiêu đưa hầu hết trẻ em đúng độ tuổi đến trường học tập, mà đến nay đã cơ bản hoàn thành phổ cập trung học cơ sở ở khắp các địa phương trong cả nước. Mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và đào tạo được đổi mới theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, hướng vào phát triển con người toàn diện cả năng lực và phẩm chất, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm gần đây, nước ta có nhiều học sinh tham gia thi và đạt nhiều giải cao tại các kỳ thi Olympic quốc tế: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học. Năm 2022, 100% học sinh Việt Nam dự thi Olympic quốc tế đều đoạt giải, gồm 13 huy chương Vàng, 12 huy chương Bạc, 8 huy chương Đồng và 5 Bằng khen (giải Khuyến khích). Việt Nam nằm trong top 10 nước đạt kết quả cao nhất tại các kỳ thi này với nhiều học sinh đạt điểm cao. Đó là những thành tích được cả thế giới ghi nhận, là kết quả từ sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, của thầy cô, gia đình và xã hội đối với giáo dục… Trước tình hình trên, để chủ động đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đưa vào nội dung giảng dạy những tri thức cơ bản giúp học sinh, sinh viên nhận thức rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và góp phần đấu tranh với các quan điểm sai trái.

Thứ hai, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, học đi đôi với hành, coi phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với thực tiễn, quy luật khách quan, với tiến bộ khoa học - công nghệ; hội nhập quốc tế theo tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, gắn với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc.

Thứ ba, bảo đảm công tác quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo hướng dân chủ, thống nhất. Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Thực hiện tốt công tác giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội. Công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Giải quyết dứt điểm, nhanh gọn, không để lan rộng những vấn đề phức tạp trong cơ sở giáo dục, không để các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng vào tuyên truyền phá hoại tư tưởng, lôi kéo, tập hợp lực lượng đối lập.

Thứ tư, đổi mới, toàn diện từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm sai trái, lệch lạc.

Thứ năm, nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Cấp ủy trong các cơ sở Giáo dục và Đào tạo phải thực sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh; phát huy vai trò dựa vào các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường thực sự trong sạch, vững mạnh./.

 

NVD40 - Hãy nắm chắc luật để góp phần xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”

 

Trong những năm qua, chính sách, pháp luật Việt Nam bảo đảm công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các quy định trong Hiến pháp năm 2013 và hệ thống chính sách, pháp luật đã vận dụng phù hợp và tương đồng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1996 (Điều 25 – ICCPR) và Luật Nhân quyền quốc tế. Các quy định này không có bất kỳ sự phân biệt nào giữa các công dân trong việc hưởng thụ quyền vì lý do tôn giáo, giới tính, nguồn gốc, dân tộc, thành phần xuất thân.

Các quy định trong Hiến pháp, pháp luật không chỉ bao quát toàn bộ vấn đề về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này, các hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân mà còn quy định cụ thể về lĩnh vực công dân tham gia, mức độ tham gia để công dân lựa chọn, chủ động tham gia. Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, chính sách, pháp luật Việt Nam ở một khía cạnh nhất định vẫn còn mang tính nguyên tắc.

Công dân có quyền quản lí nhà nước và xã hội vì nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, vì vậy việc tham gia bộ máy quản lý nhà nước nhằm phát huy tích cực quyền làm chủ của mọi công dân dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, nhà nước đảm bảo công dân thực hiện quyền dân chủ của mình trên nguyên tắc “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra”. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lí nhà nước và xã hội bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Trực tiếp có nghĩa là tự mình tham gia các công việc thuộc về quản lí nhà nước, xã hội. Gián tiếp bằng cách thông qua đại biểu của nhân dân để họ kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Quản lý nhà nước và xã hội có đối tượng quản lý rộng, bao quát tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, công dân cần tham gia quản lý nhà nước và xã hội ngay từ khi xây dựng chính sách, pháp luật, đến phổ biến chính sách, pháp luật và giám sát các hoạt động thực tiễn. Trong thực tế, mức độ tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mỗi công dân rất khác nhau, do sự chi phối của các yếu tố, trong đó quan trọng nhất là việc lựa chọn hình thức tham gia quản lý.

Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.

Hình thức tham gia trực tiếp: Công dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mình bằng cách tham gia ứng cử đại biểu quốc hội hoặc ứng cử vào Hội đồng nhân dân các cấp. Khi trúng cử, trở thành đại biểu quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có thể trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Công dân có thể tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước thông qua cơ chế tuyển dụng. Tùy theo năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, công dân có thể được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước hoặc được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước. Khi trở thành công chức của nhà nước, tùy theo vị trí việc làm, cấp bậc quản lý mà công dân có thể có điều kiện và khả năng thuận lợi để trực tiếp tham gia quản lý, ra quyết định, tạo ra những tác động quan trọng cho xã hội.

Công dân có thể tham gia thảo luận, cho ý kiến trực tiếp đối với các vấn đề ở tầm quốc gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý dựa trên quy định của Luật trưng cầu ý dân. Với chính sách dân chủ, mở rộng sự tham gia, Nhà nước kỳ vọng người dân thực hiện quyền và trách nhiệm xã hội ở mức cao, mỗi công dân sẽ trực tiếp đóng góp ý kiến, trí tuệ vào các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tham gia góp ý kiến đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước; phát biểu ý kiến về các vấn đề quản lý nhà nước, về nội dung của các quyết định quản lý, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với những vấn đề xã hội phát sinh. Điều này có thể thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hay gửi ý kiến góp ý đối với cơ quan có thẩm quyền. Kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đấu tranh với tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và những hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Tùy thuộc vào tính chất công việc và vị trí việc làm, công dân có thể tham gia quản lý nhà nước thông qua cơ chế kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá và đấu tranh chống tiêu cực trong bộ máy nhà nước, làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước. Để tham gia vào quản lý nhà nước với chức năng thanh tra, công dân phải thỏa mãn những điều kiện nhất định để trở thành thanh tra viên trong các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra hành chính hoặc thanh tra chuyên ngành. Bên cạnh đó, công dân cũng có thể tham gia quản lý nhà nước với tư cách là thành viên của Ban thanh tra nhân dân.

Công dân tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Phương thức tham gia là cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Công dân, có quyền và trách nhiệm đóng góp ý kiến, phản ánh với Nhà nước về những vấn đề còn vướng mắc, bất cập của các văn bản pháp luật, để Nhà nước sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân tham gia vào việc xây dựng chính sách, pháp luật

Công dân có thể tham gia bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ sở: Xuất phát từ việc sinh sống, làm việc tại các địa phương, cơ quan, công dân có thể góp ý với cơ quan chức năng về những vấn đề bất cập, gây tác động tiêu cực cho sự ổn định và phát triển, đề xuất các giải pháp để giải quyết.

Khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước, tìm kiếm sự giải quyết để đảm bảo sự ổn định và tạo động lực phát triển: Nhà nước ban hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Tiếp công dân, tạo cơ sở cho công dân thực hiện khiếu nại, tố cáo và được cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận, lắng nghe và giải quyết. Nhà nước xác định việc tiếp công dân là công tác quan trọng.

Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Khi thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, cơ quan, cán bộ tiếp công dân thay mặt cơ quan nhà nước lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Thái độ của cán bộ tiếp công dân, của cơ quan tiếp công dân được người dân xem như thái độ của Nhà nước đối với yêu cầu của nhân dân. Công tác tiếp công dân được làm tốt sẽ góp phần phát huy bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân; củng cố mối quan hệ giữa người dân với Nhà nước, giúp Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, đồng thuận với người dân.

Hình thực tham gia gián tiếp: Công dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước bằng việc thực hiện quyền bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Để thực hiện quyền lực nhà nước được Nhân dân trao cho, đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải chịu sự giám sát, chất vấn của cử tri (công dân) về các yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước (Điều 79 và Điều 115 Hiến pháp 2013).

Công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp. Khi công dân có yêu cầu và ý kiến, các tổ chức sẽ tập hợp lại để chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Chính sách của Nhà nước là cho phép công dân thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia nhiều hơn trong hoạt động quản lý của Nhà nước, từ việc phản biện các chính sách, pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và của công chức, cũng như đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình cho các cơ quan nhà nước xem xét, thực hiện.

Hiện nay, một số bài báo viết bài sai sự thật cho rằng nhà nước ta đang ngăn cấm công dân tham gia quản lý nhà nước, chúng đưa ra những điều thiếu căn cứ, cơ sở hoặc lợi dụng những sai lầm ở một số địa phương trong công tác quản lý để quy chụp bản chất Nhà nước Việt Nam, với mục đích cuối cùng là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, mỗi chúng ta cần phải nắm chắc những quyền và nghĩa vụ được quy định rõ trong hiến pháp góp phần lớn vào công cuộc xây dựng đất nước, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.

NVD40 - Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thấm nhuần lời dạy đó của Người, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”.

Thời gian gần đây, lợi dụng một số vụ việc đơn lẻ xảy ra trong ngành giáo dục, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, bôi nhọ hệ thống giáo dục của Việt Nam thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo. Một số yếu kém trong Giáo dục và Đào tạo được họ khai thác triệt để, cho rằng đó là do lỗi của sự lãnh đạo và quản lý, ở đây họ chỉ nhìn thấy lỗi, thấy khuyết điểm mà không hề thấy những thành quả to lớn của giáo dục đã đạt được, những thành quả đó là nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Thứ hai, thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong Giáo dục và Đào tạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào giáo dục nước nhà, cũng là giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Hiện nay, cả hệ thống chính trị cũng như ngành Giáo dục và Đào tạo đang đổi mới tự làm lành mạnh, trong sạch bên trong; quá trình này tất yếu phải loại bỏ những yếu tố tiêu cực, cản trở sự phát triển.

Thứ ba, sùng ngoại, bài nội trong vấn đề giáo dục, một số người chưa biết giáo dục các nước như thế nào, nhưng lại nức tiếng khen họ và chê bai nền giáo dục nước nhà.

Thứ tư, ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây và Mỹ coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Nguy hiểm hơn, họ còn đòi loại bỏ các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi chương trình đào tạo; giảng viên, sinh viên phải được tự do về tư tưởng, không bị chi phối hoặc phụ thuộc vào bất cứ hệ tư tưởng nào.

Từ những luận điệu xuyên tạc trên, để đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo hiện nay, chúng ta cần phải tập trung các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường. Cần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc.

Hai là, phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ, phù hợp quy luật khách quan; chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả.

Bà là, chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.

Thứ tư, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

 

 

NVD40 - Phòng, chống việc lợi dụng chiêu bài dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay

 

Thực hiện mưu đồ của chủ nghĩa Đế quốc nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn luật đổ”. Trong thời đại ngày nay chủ nghĩa Đế quốc và thế lực thù địch tập trung cao vào vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm phá hoại mối đại đoàn kết dân tộc, từ đó ây ra hận thù giữ các dân tộc, các tôn giáo từ đó lấy cơ để can thiệp vào nội bộ của đất nước ta.

Để thực hiện âm mưu đó, chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm các mục tiêu cụ thể sau:

Trực tiếp phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

Kích động các dân tộc thiểu số, tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam; vô hiệu hoá sự quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Coi tôn giáo là lực lượng đối trọng với Đảng, nhà nước ta, nên chúng thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để các phần tử chống đối trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước, chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Tin Lành Đề Ga, Nhà nước Đề Ga độc lập, Mặt trận giải phóng Khơme Crôm, Mặt trận Chămpa để tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam.

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và làm theo. Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”; những vấn đề lịch sử để lại; những đặc điểm văn hoá, tâm lí của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, các tôn giáo; những thiếu sót trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để chống phá cách mạng Việt Nam.

Thủ đoạn đó được biểu hiện cụ thể ở các dạng sau :

Một là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, mà trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Hai là, chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động.

Ba là, chúng tập trung phá hoại các cơ sở kinh tế xã hội; mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, gây mất ổn chính trị - xã hội.

Bốn là, chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, các tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam như: truyền đạo trái phép để “tôn giáo hoá” các vùng dân tộc, lôi kéo, tranh giành đồng bào dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền.

Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất nham hiểm. Tuy nhiên, âm mưu thủ đoạn đó của chúng có thực hiện được hay không thì không phụ thuộc hoàn toàn vào chúng, mà chủ yếu phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của chúng ta.

Trên lĩnh vực tôn giáo, những sự khác biệt giữa người có đạo với người không theo đạo cũng được sử đụng để cường điệu thành mâu thuẫn giữa cộng sản vô thần với nhân dân, khiến một bộ phận các tôn giáo trở thành lực lượng đối lập.

Trên lĩnh vực dân tộc, khối đại đoàn kết dân tộc cũng có các thách thức nghiêm trọng đến từ hoạt động gây chia rẽ giữa dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại các vùng biên cương trọng yếu. Sự nuôi dưỡng, cổ vũ và cung cấp phương tiện cho các phong trào “ly khai” ở những vùng chiến lược như Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Bắc, với tính chất và đặc thù khác nhau nhưng đều có khả năng gây các điểm nóng, mất ổn định chính trị - xã hội nghiêm trọng, dẫn đến hoạt động phá rối an ninh và thậm chí bạo loạn, lật đổ chính quyền địa phương.

Thách thức an ninh về dân tộc và tôn giáo lại càng phức tạp gấp bội khi chúng hòa quyện với nhau như ở Việt Nam, và hòa quyện với các vấn đề giai cấp, tức các vấn đề về kinh tế. Các giải pháp nếu chỉ hướng đến vấn đề kinh tế (tạo công ăn việc làm, thu nhập...) dù rất quan trọng lại luôn chưa đủ và thậm chí kém hiệu quả nếu không quan tâm đến đúng đối tượng để thay đổi nhận thức. Do vậy, về hình thức, người truyền đạo làm điều tốt đẹp, nhưng về mục đích bên trong, các hành động như vậy nhắm tới việc tạo nên sự chênh lệch về kinh tế và văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc, từ đó tác động tới nhận thức của đồng bào dân tộc với chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương.

Để khắc phục lại những quan điểm đó chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản như sau:

Giữ vững các nguyên tắc cốt lõi: Không chấp nhận đa nguyên đa đảng; hòa nhập không hòa tan.

Thống nhất về quan điểm chỉ đạo chung: Đảm bảo an ninh về tư tưởng và thể chế chính trị phải là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhấn mạnh phương châm ứng phó: Lấy giữ vững bên trong là chính, lấy “xây” là chính; tiến hành đồng bộ cả về địa bàn và lĩnh vực. Linh hoạt và sáng tạo trong sử dụng các hình thức tiến hành: kết hợp phòng ngừa với chủ động tiến công.

Để vô hiệu hoá sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch thì giải pháp chung cơ bản nhất là thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, các tôn giáo, củng cố xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng chỉ đạo, về tổng quát, Việt Nam cần: “Nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích tình hình; nhận diện rõ đối tác, đối tượng; phát hiện từ sớm các mối đe dọa đến lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội để chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp về chủ trương, giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự; kiên quyết không để bị động, bất ngờ, nhất là về mặt chiến lược. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, triển khai các biện pháp bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo tinh thần “gỉữ nước từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, góp phần thực hiện hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước”.

Hiện nay, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản, cụ thể sau :

Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch cho toàn dân. 

Hai là, tăng cường xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị- xã hội. 

Ba là, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. 

Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị; của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo tham gia vào phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Tích cực xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc, vùng tôn giáo. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ cả cán bộ lãnh đạo quản lí và cán bộ chuyên môn kĩ thuật, giáo viên là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo.

Năm là, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch; kịp thời giải quyết tốt các điểm nóng. 

Sáu là, cần thực hiện tốt các chính sách tôn giáo dân tộc, phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các nhân sĩ trí thức; đầu tư ưu tiên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo; tôn trọng tập quán và tín ngưỡng đi đôi với chống hủ tục, mê tín, dị đoan.

 

NVC40 - ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, CÔNG AN

 

Thời gian gần đây, trên mạng internet, một số tổ chức, cá nhân thù địch móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những đối tượng bất mãn cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip xuyên tạc, chế nhạo việc tham gia nghĩa vụ quân sự, Công an. Chúng thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế Việt Nam”.

Ngoài ra, chúng còn có những bài viết chỉ trích: “Hiện nay, trong khi các nước quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh niên lập nghiệp, làm ăn kinh tế thì chỉ có Việt Nam mới bắt ép người dân đi nghĩa vụ quân sự, Công an”. Một số trang web còn đăng tải các cảnh bạo lực trong quân đội nước ngoài, cảnh quân đội tham chiến ở một số khu vực trên thế giới rồi cài lời bình xuyên tạc là “chuyện ở trong quân ngũ Việt Nam”.

Nguy hiểm hơn, có những hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Công an nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ, lan tỏa trên mạng xã hội, làm nóng vấn đề. Tung tin thất thiệt về cảnh bạo lực hay “cái chết oan ức” rồi đưa ra những câu hỏi khả nghi, cho rằng “có sự lấp liếm, giấu nhẹm”.

Mục đích của chúng là nhằm bôi nhọ hình ảnh, bản chất, truyền thống, uy tín của lực lượng Công an, Quân đội, gây ngờ vực trong nhân dân. Từ đó, tạo luồng tư tưởng khiến cho thanh niên nhập ngũ “tự diễn biến”, buông lỏng về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với Tổ quốc, làm người dân hoang mang, không muốn cho con em mình thực hiện nghĩa vụ quân sự, Công an. Đó còn là mưu đồ hòng gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội khi các đối tượng phản động kích động người dân biểu tình, chống phá, kích động các quân nhân đào ngũ, chống đối việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc…

Thực tiễn lịch sử cho thấy, dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc, đó chính là truyền thống quý báu của tổ tiên ta. Ðảng ta đã vận dụng, phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”.

Chính sách này ra đời trong bối cảnh một đất nước đất không rộng, người không đông, lại thường bị các thế lực nước ngoài xâm lược. Chính sách “ngụ binh ư nông” là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình.

Bảo vệ Tổ quốc không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ bên ngoài biên giới, lãnh thổ, mà cần hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả bên trong. Không chỉ chiến đấu bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về mọi mặt, bao gồm cả chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... ngay từ thời bình.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” (Điều 45, Chương II) và “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sự nghiệp của toàn dân… Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” (Điều 64, Chương IV). Thể chế hóa Hiến pháp, Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật CAND quy định rõ việc công dân tham gia nghĩa vụ quân sự, Công an.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó QĐND và CAND là nòng cốt". Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

Thực hiện nghĩa vụ quân sự, Công an không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, đó còn là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của công dân đối với dân tộc, với Tổ quốc. Lịch sử minh chứng, dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật trường tồn của dân tộc ta. Biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất. Ngày nay, trong thời bình, ổn định và hợp tác quốc tế, hình ảnh chiến sĩ Quân đội, Công an lại càng sống động hơn khi sát cánh cùng nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh để bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân. Các chiến sĩ bộ đội, Công an đồng hành cùng người dân ở những khu vực biên giới, núi cao, vùng sâu vùng xa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xóa đói nghèo, lạc hậu, chung tay xây dựng nông thôn mới...

Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý nhất của mỗi công dân. Lên đường làm nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm, mà trên hết đó còn là niềm tự hào của tuổi trẻ và trách nhiệm của thanh niên Việt Nam để góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Được sống trong hòa bình, độc lập, tự do mà ai đó nếu chỉ biết đến vun vén, hưởng thụ cho bản thân, nghe theo luận điệu xấu rồi thoái thác, trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm công dân tham gia bảo vệ Tổ quốc thì không những vi phạm pháp luật mà còn có tội với các thế hệ ông cha, với truyền thống lịch sử dân tộc ta.

NVC40 - CHỈ CÓ ÁNH SÁNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI MANG LẠI ẤM NO, TỰ DO, HẠNH PHÚC CHO LOÀI NGƯỜI

 

                Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người.

            Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc.

            Giai đoạn xã hội chưa thành văn, xã hội nguyên thủy mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm.

            Mặt khác từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do.

            Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội.

Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”.

            Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội.

            Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh (1844 - 1845), Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp, nội dung kinh tế và hậu quả xã hội của nó cũng như những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Bằng những chứng cứ sinh động của cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền tư sản, Ph.Ăngghen đã vẽ nên bức tranh hiện thực của cuộc đời những người lao động. Ông viết: “Tính tham lam bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, nhiều người tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ có nguy cơ bị diệt vong, bị kiệt sức và ốm yếu, - mà tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản”.

C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”.

            Đến thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, đa số nhân dân lao động thế giới không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc tiếp tục là khát vọng của nhân loại. Tuy nhiên,trong thời kỳ này,cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã giành được những thắng lợi to lớn. Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới, thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội, chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại.

            Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội.

            Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi.

            C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

            Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

            Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người./.

 

NVB40 - Đấu tranh phòng, chống luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam

 

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, thời gian qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước thường xuyên thực hiện những âm mưu chống phá, xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi, khó lường.

Chúng triệt để sử dụng không gian mạng, nhất là các mạng xã hội như Facebook, Youtube để xuyên tạc, tuyên truyền sai lệch chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chúng cho rằng: Chính sách giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là “ đi ngược lại với xu thế của thế giới”; “đã độc lập tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại đã hội nhập quốc tế thì không có sự độc lập tự chủ”; … Gần nhất, ngày 11/8/2023, trên trang blog VOA Tiếng Việt tán phát bài “ Việt Nam muốn mở thêm Tổng Lãnh sự quán ở Trung Quốc, hứa không tiếp xúc chính thức với Đài Loan”, nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam...Chúng kêu gọi Việt Nam “phải thay đổi biện pháp trong giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông...

Thực tế, không như vậy, Bởi: Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định.

Đặc biệt, từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XII) và theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, đường lối đối ngoại của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc trong đó có 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Bên cạnh đó, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, đồng thời là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế. Nhờ đường lối đối ngoại nhất quán, vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã chung tay cùng cộng đồng quốc tế đưa ra nhiều sáng kiến giải quyết những vấn đề toàn cầu phức tạp, được các quốc gia ghi nhận, đánh giá cao. Thực tiễn đó, một lần nữa làm cho những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động càng trở nên trơ trẽn và kệch cỡm. Đâyminh chứng sống động nhất, để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Tóm lại, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động không nhằm mục đích nào khác là tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Do vậy, mọi cán bộ, đảng viện và nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần bảo vệ vững chắc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...