Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

NVD39 - Những luận điệu lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo để tuyên truyền một số tà đạo trên không gian mạng hiện nay

 

Thời gian qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

        Để làm được điều đó, chúng thiết lập các website, blog, facebook, youtube, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”… phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu độc để chống phá; đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống cách mạng, bản chất cách mạng cao đẹp của lực lượng vũ trang, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Bọn chúng sử dụng không gian mạng để tuyên truyền một số tà đạo, kích động, lôi kéo, tập hợp dư luận, gây hoang mang trong dư luận xã hội để truộc lợi. Chuyển hóa các bài viết có sẵn thành thể thơ hoặc bài hát phát trên các kênh âm nhạc trực tuyến làm công cụ tuyên truyền, chống phá trên lĩnh tín ngưỡng tôn giáo.

        Đặc biệt thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán  như khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo.

            Một số đặc điểm chủ yếu của các tà đạo có thể nhận diện các tà đạo như sau:

        Về người đứng đầu: Luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần”…, nhiều người trước khi tạo dựng tà đạo hay “đạo lạ” còn mắc bệnh tâm thần hoặc từ nước ngoài tuyên truyền phát triển vào trong nước trước để tạo thanh thế. Các tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện, nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người dân.

            Về lý thuyết, “giáo lý”, “giáo luật”: Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống (đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng “nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống chế quần chúng.

        Về mục đích hoạt động: Hầu hết các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ” (người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng, “thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào các hoạt động chống chính quyền.

        Về nghi lễ hành đạo: Mang nặng yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ, các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục tập thể hoặc với giáo chủ để “đắc đạo” (“tà đạo Chân không” của Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh khuyên tín đồ quan hệ tình dục với “người trời” là Lưu Văn Ty); hủy hoại tài sản, của cải, hủy hoại một phần cơ thể hoặc cả thân xác con người để sớm “siêu thoát” (“tà đạo Chân không” khuyên đốt bỏ một phần tài sản, đầy đọa thân xác mới “đắc đạo”; tà đạo “chặt ngón tay” do Phạm Thị Hải ở TP Hồ Chí Minh khởi xướng năm 1993 quy định người tu theo muốn thành “chính quả” phải chặt một ngón tay để bỏ đi một phần thể xác giúp siêu thoát phần hồn...); kích động tự sát để sớm về “nước trời” (như vụ hơn 50 người ở bản Pahé, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo tà đạo “Phạ tốc” đã tuân lệnh “giáo chủ” Cà Văn Liêng tiến hành tự sát tập thể).

        Về cách hoạt động: Thường thiên về hoạt động thực tiễn, nhưng lén lút, thường xuyên thay đổi địa điểm nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng; lợi dụng sơ hở của pháp luật, trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở để tuyên truyền phát triển “đạo”; tán phát tài liệu tuyên truyền ở trên mạng Internet hay ở những nơi công cộng, nơi tập trung đông dân cư; tập luyện “dưỡng sinh” ở công viên, quảng trường, vườn hoa; lợi dụng những vùng đồng bào trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện sống, chăm sóc sức khỏe còn khó khăn để dụ dỗ, lừa bịp, khống chế, lôi kéo theo “đạo”. Điển hình như đối với tà đạo “Bà Cô Dợ” thường sử dụng các đoạn video clip quay các buổi sinh hoạt của điểm nhóm ở Mỹ và phát trực tiếp trên mạng xã hội Facebook, kênh Youtube để giới thiệu, hướng dẫn mọi người sử dụng điện thoại, máy tính bảng... kết nối Internet vào xem trực tuyến và làm theo hướng dẫn.

        Về đối tượng tin theo: Phần lớn người tin theo các tà đạo là những người gặp rủi ro, bế tắc trong cuộc sống, do ốm đau, bệnh tật, nghèo khó; những người có trình độ văn hóa thấp, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cũng có những tà đạo do biết khai thác, lợi dụng, tạo vỏ bọc xuyên tạc các sự kiện thực tế (dịch bệnh, thiên tai, hiểm họa môi trường...) để “khoác áo” cho các “tín điều” nên đã thu hút được những người trẻ tuổi ưa cái mới, kể cả những người có trình độ nhận thức và chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc cán bộ các cơ quan chính quyền và nhất là số cán bộ nguyên là lãnh đạo các ngành, giáo sư, tiến sỹ nghỉ hưu tiếp tay cho tà đạo hoạt động.

        Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta:

        Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo;... thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc...”. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24). Đồng thời, “nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

        Thực tế các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, cho thấy rất rõ ràng chính sách nhất quán của Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Bất cứ tổ chức hay cá nhân nào cũng không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Đồng thời, không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đó là chính sách rất đúng đắn, rõ ràng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

        Như vậy, âm mưu và chiến lược diễn biến hòa bình, vấn đề tôn giáo, dân chủ nhân quyền được sử dụng như một vũ khí lợi hại, lợi dụng lòng yêu nước, sự sùng đạo của người dân để khoét sâu những bất cập, tồn tại trong đời sống xã hội, nhằm lôi kéo, tập hợp những người dân nhẹ dạ cả tin hoặc thiếu thông tin gây rối, gây phức tạp về an ninh, trật tự, gây bất ổn xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội cần phải tự ý thức và chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, nếu như những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không được ngăn chặn kịp thời thì sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

NVD39 - Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái về chính sách quốc phòng “bốn không”

 

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”.

Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, chúng lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.

Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của các thế lực thù địch để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.

Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó. Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu?./.

NVI39 - “Biểu dương lực lượng quân đội tham gia cứu hộ nhân đạo ở Thổ Nhĩ Kỳ”

 

Ngày 18/2, Đại tướng Phan Văn GiangỦy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư biểu dương lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia hỗ trợ cứu nạn, cứu hộ nhân đạo khẩn cấp tại Thổ Nhĩ Kỳ do động đất gây ra.

Phát huy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc, trên tinh thần: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hợp quốc; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quyết định cử 76 đồng chí sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp cùng trang thiết bị sang hỗ trợ Thổ Nhĩ Kỳ khắc phục hậu quả động đất.

Mặc dù triển khai nhiệm vụ trong thời gian rất ngắn, phải đối mặt với điều kiện vô cùng khắc nghiệt về thời tiết, những hiểm nguy từ các rung chấn còn tiếp diễn, những khó khăn về ngôn ngữ, ăn ở, sinh hoạt và làm việc. Nhưng với bản lĩnh, trình độ và ý chí quyết tâm cao, các đồng chí đã phát huy tốt tinh thần quốc tế cao cả, truyền thống của dân tộc và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ,” bình tĩnh, tự tin, không quản khó khăn, gian khổ và hy sinh, chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút để phối hợp tìm kiếm cứu nạn; kịp thời xác định nhiều điểm có người mắc nạn bàn giao cho chính quyền và lực lượng chức năng nước sở tại tìm kiếm giải cứu, xử lý.

Việc làm của các đồng chí, thể hiện trách nhiệm, năng lực, uy tín của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống, được cộng đồng quốc tế, Chính phủ, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận, đánh giá cao. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng biểu dương, ghi nhận và đánh giá cao những kết quả, tinh thần, trách nhiệm và sự nỗ lực của các đồng chí.

Nhiệm vụ trong những ngày tới còn rất nặng nề, khó khăn và nguy hiểm; mỗi giây phút đi qua thì sự sống của người bị nạn càng ngắn lại. Tôi mong rằng, các đồng chí đã cố gắng, quyết tâm rồi thì càng cố gắng, quyết tâm nhiều hơn nữa, sự sống và hạnh phúc của nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đang cần sự giúp đỡ của chúng ta. Tổ quốc và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tự hào, đồng hành cùng các đồng chí. Chúc các đồng chí luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.

NVI39 - LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ ĐỂ CHỐNG PHÁ, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả...

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

NVC39 - TRÙM THAM NHŨNG VIỆT TÂN BÀY ĐẶT CHÊ NGƯỜI ĐỐT LÒ

 


Việt Tân vừa đăng bài của A My Truc Trân trên Facbook với nhan đề: “Khi trùm tham nhũng viết sách chống tham nhũng”. Đây là sự vu cáo, bịa đặt láo xược, bỉ ổi nhất của những tên ba que thể hiện sự cay cú, điên cuồng của chúng trước sự vững vàng không gì lay chuyển nổi của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự phát triển cường thịnh của đất nước đẩy lũ chống cộng vào thế vô vọng.

Vu khống mà không đưa ra được bất cứ một bằng chứng, luận cứ nào để gán cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, A My Truc Trân nói bừa rằng: “Phải chăng muốn chống tham nhũng thì người ta phải tạo ra tham nhũng trước”. Ô hay! Vậy muốn chống thiên tai thì phải tạo ra thiên tai trước? Muốn chống đói nghèo thì phải tạo ra đói nghèo? Muốn chống mù chữ thì phải tạo ra mù chữ trước phải không? lịch sử loài người và ngay ở Việt Nam không phải như vậy.  Nạn đói năm 1945 khiến 2 triệu người chết đói có phải do Cộng sản gây ra không? Sau Cách mạng tháng Tám 90% dân số mù chữ có phải do Đảng Cộng sản không? Sao lúc đó Đảng và Nhà nước Việt Nam ra sức lãnh đạo nhân dân diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Sau kháng chiến chống Mỹ, năm 1986 tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam tới 57% đâu phải do Đảng Cộng sản gây ra mà bởi hoàn cảnh lịch sử sau 30 năm chiến tranh chống ngoại xâm, bị các thế lực thù địch bao vây cấm vận suốt 25 năm, ấy vậy mà Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân giảm nghèo đến 2022 chỉ còn 1,7% hộ nghèo. Với con mắt cú diều chuyên xuyên tạc đổi trắng thay đen và giọng lưỡi bỉ ổi của lũ chống cộng, nếu Việt Nam chống tham nhũng không thật sự quyết liệt thì chúng bảo “làm lấy lệ, ai cũng tham nhũng cả thì ai chống, chống ai?” nhưng chúng ta làm thật sự, quyết liệt để gạn đục khơi trong, làm trong sạch Đảng và bộ máy Nhà nước vì sự trường tồn của chế độ, vì lợi ích của nhân dân, để Đảng luôn xứng đáng là đảng cầm quyền, làm bài bản, có lý luận soi đường bằng cuốn sách của TBT Nguyễn Phú Trọng thì chúng lại nói láo rằng: “Ông Trọng đang viết sách tự ca ngợi mình”, thử đọc xem 600 trang đó có câu chữ nào TBT Nguyễn Phú Trọng tự tâng bốc mình không hay chỉ toàn là những lời gan ruột, tâm huyết nói về giữ gìn nhân cách, đạo đức, nhân phẩm của con người, nhất là người Cộng sản?

Nạn tham nhũng đâu phải chỉ có ở Việt Nam, do cơ chế một đảng cầm quyền như bọn chống cộng xuyên tạc. Cuối năm 2022 thông tin phương Tây rộ lên việc Phó chủ tịch Nghị viện Châu Âu Eva Kaili và 3 người liên quan bị bắt giam vì cáo buộc nhận hối lộ tới 1 triệu Euro để tác động chính sách của EU theo hướng có lợi cho một quốc gia Trung Đông. Báo chí Phương tây cũng cho biết số tiền tham nhũng ở Đức là 250 tỷ euro/năm. Mỹ truy tố 47 đối tượng biển thủ 250 triệu USD cứu hộ trong đại dịch Covid-19. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye cũng bị cách chức, phạt tù về tham nhũng. Cựu Thủ tướng Malaysia Najib Razak bị cáo buộc biển thủ ít nhất 3,5 tỷ USD từ Quỹ 1Malaysia Development Berhad – Quỹ phát triển kinh tế được Thủ tưởng Najib Razak thành lập năm 2009… Còn tổ tiên của Việt Tân và A My Truc Trân thì sao? Từ năm 1968, nhà báo Mỹ William J. Lederer đã nhận xét: “Kẻ thù tồi tệ nhất là nạn tham nhũng của Quân đội VNCH, hàng tỷ USD viện trợ của Mỹ bị tham ô rồi bán ra chợ đen, có những kho hàng lậu đầy ắp vũ khí, quân dụng, có cả nghìn khẩu súng… ” Nhà sử học Vũ Ngự Chiêu viết: “Cả guồng máy chống cộng sản của quốc gia VNCH như một siêu thị, người ta mua bán bất cứ thứ gì để sinh lợi từ chức tước, thuốc men, vật tư chiến tranh… hễ có tiền là mua được…. Dòng máu tham nhũng ấy vẫn di truyền đến lũ chống cộng hải ngoại ngày nay khiến chúng trở thành “quần khuyển tranh cốt” (bầy chó tranh xương) như cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ mô tả: “Ở hải ngoại, bất cứ một ông chính trị gia, một tờ báo nào cũng ra rả: “Chúng ta có sức mạnh, chúng ta có trí tuệ, chúng ta có tiền, chỉ cần chúng ta đoàn kết là có thể có sức mạnh để hỗ trợ làm thay đổi chế độ ở trong nước”. Nhưng 30 năm chưa bao giờ làm được việc đó và tôi nghĩ sẽ không bao giờ làm được bởi kinh nghiệm 30 năm cho thấy: Nếu mà tất cả tiền tụ lại cho một anh thì anh ấy ôm tiền đi… trốn luôn”.

Nhà lãnh nước Đức cuối thế kỷ 19 Otto von Bismarck đã nói: “Luật chưa hoàn hảo mà quan chức có lương tâm thì vẫn hơn là có luật hoàn hảo mà quan chức không có lương tâm”. Người xưa cũng đã dạy: “Qua điền bất nạp lý/ lý hạ bất chỉnh quan” – nghĩa là: Đi qua vườn dưa không sửa giày, đi dưới vườn mận không sửa mũ. Làm người phải giữ ý, giữ mình như vậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua vĩ đại, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Cuốn sách: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu  cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng vững mạnh” của TBT Nguyễn Phú Trọng là đóng góp mới vào kho tàng lý luận của Đảng ta trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam XHCN hùng cường, thịnh vượng, vì thế trở thành cái gai trong mắt lũ chống cộng vì nếu Đảng, Nhà nước ta trong sạch vững như bàn thạch, toàn dân tin tưởng đoàn kết xung quanh Đảng, đất nước phát triển ngày càng giàu mạnh thì âm mưu chống phá của chúng càng trở nên vô vọng, trò “chống cộng” trở thành “dã tràng xe cát” nên chúng hằn học công kích là không có gì lạ. Điên cuồng vì thất vọng, A My Truc Trân còn láo xược cho rằng: “Rồi đến ngày cả người viết sách chống tham nhũng đến các bộ trưởng, chủ tịch các tỉnh, thành đều bị bỏ tù vì tham nhũng… là ngày hội toàn dân khui bia ăn mừng”. Đó chỉ là giấc mơ dưới âm phủ của những tên phản động cực đoan cay cú đến vô vọng trước thế thượng phong của đất nước đang lớn lên như Phù Đổng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NVB39 - Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

 

        Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết.


        Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo.


        Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Đảng ta luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. 


        Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.


        Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.


         Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.


        Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

 

 

NVB39 - DÂN CHỦ THỰC SỰ LÀ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI

 

Dưới chế độ nô lệ và phong kiến, tư tưởng thần quyền và phân biệt đẳng cấp hà khắc đã tước bỏ tự do, dân chủ của nhân dân. Giai cấp tư sản đã lật đổ chế độ chuyên chế quân chủ, đồng thời dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở phủ định chế độ chuyên quyền phong kiến, vì vậy, nó cũng thể hiện sự tiến bộ nhất định so với dân chủ thời chiếm hữu nô lệ và phong kiến. Nhưng “dân chủ tư sản chỉ mang tính nửa vời, không triệt để”, thực tiễn cho thấy dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cũng đồng nghĩa với dân chủ không bao giờ thuộc về quảng đại nhân dân. Do đó, quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh để xây dựng một nền dân chủ thực sự là tất yếu. Và nền dân chủ mà xã hội loài người đang hướng đến chính là dân chủ xã hội chủ nghĩa - Nền dân chủ ưu việt, khác hẳn về chất so với dân chủ tư sản.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã khẳng định, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp, thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Với bản chất và đặc điểm nêu trên, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là chế độ dân chủ thực sự, không phải là dân chủ hình thức, cực đoan, vô chính phủ. Nó đối lập với chuyên quyền độc đoán, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, quan liêu. Khẳng định điều này, trong bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chúng ta cần một xã hội, mà trong đó, sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”; “Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”.

Tuy nhiên, thời gian qua có không ít tổ chức, cá nhân vu cáo trắng trợn, xuyên tạc, bôi nhọ vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước ta, thường tập trung vào phủ nhận thành tựu, thực tiễn về các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền; lợi dụng các hiệp định, dự án hợp tác với nước ngoài, nhằm phá hoại và làm chệch định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; kích động vấn đề dân tộc thiểu số và xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo; xuyên tạc Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận; kích động khuynh hướng cực đoan nhằm phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, thành quả cách mạng; bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam tra tấn, bức cung, nhục hình, phân biệt đối xử đối với tù nhân chính trị, những nhà “bất đồng chính kiến”, ngăn cản thân nhân vào thăm tù nhân…

Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở trong nước thường nhại lại những luận điệu của một số tổ chức quốc tế và một số nước phương Tây, đa phần dựa trên những thông tin cóp nhặt, cắt xén rời rạc, nghiên cứu không sâu nên phiến diện và xuyên tạc.

Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn trên, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn của dịch bệnh và thiên tai thời gian qua, những chính sách hỗ trợ trực tiếp, kịp thời đối với người dân là nền tảng để bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho thấy nỗ lực và quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Đặc biệt sau sự kiện Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kì 2023 – 2025), càng khẳng định vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường Quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Có thể khẳng định rằng, nền dân chủ mà toàn Đảng và toàn dân ta đang xây dựng là một nền dân chủ thực sự, đề cao quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, một nền dân chủ công bằng, công lý, hiện đại và nhân văn, đúng với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định.

NVA39 - Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 

Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta.

            Do vậy, cần nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá:

           Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

            Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

            Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

            Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

            Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

 

Trước những vấn đề trên cần nhìn nhận như sau:

Trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:“Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như:“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”của Phật giáo;“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”của Công giáo;“Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc”của đạo Tin lành;“Nước vinh, đạo sáng”của đạo Cao Đài;“Vì đạo pháp, vì dân tộc”của Phật giáo Hòa Hảo...

Kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.

Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.

Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

 

NVA39 - CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

 

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiên tai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã xây dựng nguyên tắc của chính sách dân tộc ở Việt Nam là: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Những nguyên tắc này được quán triệt và thực hiện nhất quán, có hiệu quả trong mọi thời kỳ cách mạng.

Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), đường lối, quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng là đảm bảo quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Lúc này, vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân và nhiệm vụ chính sách dân tộc là “ruộng đất cho dân cày”. Đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn đó của Đảng đã thu phục được trái tim, khối óc của đông đảo đồng bào các dân tộc, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Đảng ta tiếp tục thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc, trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để kháng chiến và kiến quốc, giúp nhau tiến bộ về mọi mặt. Đảng và Nhà nước ban hành nhiều quy định nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc, động viên được sức mạnh của đồng bào các dân tộc tham gia xây dựng chiến khu cách mạng, kháng chiến và kiến quốc. Việc quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ này đã tạo được bước biến chuyển lớn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đánh thắng các thế lực xâm lược.

Từ khi đất nước thống nhất, quá độ đi lên CNXH, nhất là quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta tiếp tục thực hiện nhất quán quan điểm, nguyên tắc về chính sách dân tộc; đồng thời bổ sung, phát triển những nội dung mới phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Cùng với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc, Đảng và Nhà nước ta cũng thường xuyên thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo. Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hết sức chăm lo đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng có nhiều đổi mới và phát triển. Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị (khoá VII) về công tác tôn giáo khẳng định: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo; kiên quyết khắc phục thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá CNXH, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) chỉ rõ: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo  là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.  Ngày 18-6-2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ đã ban hành các chỉ thị, nghị định… về tôn giáo và công tác tôn giáo, từng bước hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật về tôn giáo, đảm bảo hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân chức sắc, tín đồ các tôn giáo theo pháp luật. 

Là một bộ phận quan trọng trong cộng đồng dân tộc, đồng bào các tôn giáo luôn gắn bó, đoàn kết, đồng hành với đồng bào cả nước, phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc, của cách mạng. Mong muốn của đại bộ phận tín đồ tôn giáo là xóa bỏ áp bức, bất công, xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Điều mong muốn của đồng bào có đạo cũng là mục tiêu, lý tưởng của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Bởi vậy, dù theo bất cứ tôn giáo nào, đồng bào ta luôn quan tâm đến sự nghiệp chung của dân tộc; tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Hoạt động tôn giáo tự do, bình đẳng, đúng pháp luật; các tôn giáo đều có sự phát triển mạnh về tín đồ, chức sắc, chức việc. Hệ thống các trường, lớp đào tạo chức sắc của các tôn giáo được mở rộng. Tính đến nay Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân, đăng ký hoạt động tôn giáo đối với 30 tổ chức tôn giáo, trên 70 nghìn chức sắc, nhà tu hành và hàng vạn người hoạt động bán chuyên nghiệp; có hàng trăm người theo đạo đang theo học các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước trên thế giới; hơn 22.000 cơ sở thờ tự đã được xây dựng, tu bổ và được pháp luật bảo hộ… Với phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và CNXH”, “Nước vinh, đạo sáng”, “Sống phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc”, gắn bó với dân tộc, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng bào có đạo tham gia tích cực, có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện. Các tổ chức tôn giáo đã vận động, quyên góp được hàng trăm tỷ đồng ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão lũ; tổ chức hàng trăm lớp học tình thương cho trẻ em nghèo, các trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, người tàn tật, người bị bệnh hiểm nghèo; khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân... Qua đó, góp phần cùng nhân dân cả nước khắc phục khó khăn, phát triển KT - XH, củng cố quốc phòng - an ninh, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những chuyển biến tích cực trong hoạt động của các tôn giáo khẳng định: chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đã đi vào đời sống xã hội, đáp ứng được nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo trong cả nước...

Rõ ràng, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo là đúng đắn, hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, phù hợp với nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Thế nhưng, hiện nay các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo ở nước ta, nhằm phục vụ cho âm mưu thâm độc của chúng để tuyên truyền tà đạo, mê tín dị đoan, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động tâm linh mờ ám, phản văn hóa, nhằm mục đích chống phá đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo.

Thực chất, đây là thủ đoạn nham hiểm, lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo” để kích động, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội… Nhưng những luận điệu đó không đánh lừa được ai, bởi thực tế hoàn toàn bác bỏ điều đó.

 

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...