Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

NVH41 - ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, BẢO VỆ ĐƯỜNG LỐI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG

 

Trước diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, quốc tế thời gian qua, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối tiếp tục tập hợp lực lượng và thành lập các tổ chức phản động, tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, gây mất đoàn kết, chia rẽ dân tộc, nhằm hạ uy tín của Đảng, chống phá công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng; gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Do đó, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh; bác bỏ những luận điệu thù địch, sai trái với quan điểm, đường lối của Đảng, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ trên, mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân cần thực hiện tốt nội dung đấu tranh sau:

Một là, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, xuyên tạc con đường đi lên CNXH của nhân dân ta; khẳng định con đường đi lên CNXH đã được Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn là con đường đúng đắn, đưa dân tộc ta đến hạnh phúc ấm no; khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Hai là, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định giá trị đạo đức, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ba là, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về nhân quyền, tôn giáo; khẳng định Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách và các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, quan tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo xây, sửa nơi thờ tự theo đúng quy định của pháp luật. Nhiều nhà thờ, chùa chiền... được xây dựng mới, trùng tu, tôn tạo ngày càng khang trang, tạo điều kiện cho tín đồ sinh hoạt tôn giáo.

Bốn là, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng; khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, đã góp phần to lớn, nâng cao uy tín nước ta trên thế giới, tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.


NVH41 - Phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia hiện nay

 

Phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia đòi hỏi việc nhận thức và giải quyết vấn đề phải đặt trong tính tổng thể, song đồng thời thấy được các mặt, các yếu tố, các lĩnh vực trọng tâm, cấp bách để Đảng và Nhà nước ta có những định hướng, giải pháp phù hợp nhằm giữ vững an ninh quốc gia trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, trên thế giới, vấn đề “an ninh” được tiếp cận ở nhiều phương diện khác nhau, điển hình như: an ninh tập thể (collective securty); an ninh chung (common security); an ninh con người (human security); an ninh toàn diện (comprehensive security)… Quan điểm “an ninh toàn diện” được chính thức đưa ra dưới thời chính phủ Ohira ở Nhật Bản vào giữa thập niên 70 của thế kỷ XX để chỉ các mối đe dọa quân sự và phi quân sự đối với sự phát triển của một quốc gia. Để đối phó với những mối đe dọa đó, theo quan điểm này, cần huy động tổng hợp nguồn lực, từ nguồn lực chính trị đến nguồn lực kinh tế, văn hóa, ngoại giao; trong đó, nguồn lực kinh tế được coi là công cụ hữu hiệu, có vai trò quan trọng trong đối phó với các vấn đề liên quan đến an ninh. Quan điểm này được cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á ủng hộ, do đó, được mở rộng từ phạm vi an ninh quốc gia đến an ninh khu vực với sự ra đời của Tuyên bố Khu vực hòa bình, tự do và trung lập được ký kết vào ngày 27-11-1971, tại Malaysia, với mong muốn hòa bình, ổn định, cũng như ý thức về tự cường khu vực. Với tinh thần đó, năm 2003, Tuyên bố về Thỏa ước ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) II (Tuyên bố Bali II) nhấn mạnh: “Cộng đồng an ninh ASEAN tán thành nguyên tắc an ninh toàn diện như là những khía cạnh rộng về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội”. Năm 2007, Hiến chương của ASEAN tiếp tục khẳng định: “Đối phó hữu hiệu với tất cả các mối đe dọa, các loại tội phạm xuyên quốc gia và các thách thức xuyên biên giới, phù hợp với nguyên tắc an ninh toàn diện”.

Phương châm “an ninh toàn diện” được tiếp cận, xem xét trên nhiều mặt, từ an ninh quốc gia, an ninh khu vực, an ninh quốc tế; từ an ninh truyền thống đến an ninh phi truyền thống; từ an ninh chính trị đến an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh con người, an ninh mạng… Cần phải nhận rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của từng loại an ninh để có những chính sách, biện pháp xây dựng và phát huy cho phù hợp. Song, yếu tố đầu tiên của an ninh là an ninh quốc gia, là an ninh đối với chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của nhà nước và nhân dân. Việc theo đuổi an ninh khu vực và quốc tế phải dựa trên cơ sở an ninh quốc gia; vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống quan hệ mật thiết với nhau. Những vấn đề an ninh phi truyền thống, như: an ninh môi trường, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe... ngày càng có vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Nguyên tắc xác định phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia

Luật An ninh quốc gia (2004) quy định: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Theo đó, “bảo đảm an ninh quốc gia” là sự cam đoan, làm cho an ninh quốc gia có được sự vững chắc, mạnh mẽ; phát huy sức mạnh tổng hợp, củng cố mọi tiềm lực và chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa, đấu tranh làm thất bại các hoạt động ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Từ Đại hội VII, Đảng ta đã chỉ ra những nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ, của an ninh quốc gia, bao gồm: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về mặt kinh tế, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ nạn quan liêu, nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các nguy cơ này, cho đến nay, vẫn còn hiện hữu, thậm chí có một số mặt diễn biến có tính chất phức tạp hơn. Bên cạnh đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; sự khó khăn trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội ở một số địa bàn. Những mối đe dọa về an ninh phi truyền thống xen lẫn các mối đe dọa an ninh truyền thống đang dần gia tăng. Đó là sự căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, bệnh dịch, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp”.

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt, trên nhiều lĩnh vực, phạm vi ảnh hưởng rộng; vấn đề hợp tác và xung đột, chiến tranh và hòa bình tồn tại đan xen nhau, tạo ra nhiều thách thức đối với việc bảo đảm an ninh quốc gia. Vì vậy, phải thật sự quán triệt phương châm an ninh toàn diện, nghĩa là quan tâm chú ý thực hiện trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực, tránh phiến diện, một chiều. Điều này phải được thể hiện từ mục tiêu, quan điểm, chính sách đến nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia; từ việc kết hợp giữa phòng ngừa và đấu tranh; từ lý luận về bảo đảm an ninh quốc gia đến thực tiễn hiện thực hóa điều đó...

Phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia cần thiết phải chú ý đến mối liên hệ giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, coi đây là hai vấn đề gắn bó chặt chẽ và cần thiết giải quyết đồng bộ. Trong Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng nhấn mạnh: “Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”.

Những mối liên hệ đến an ninh quốc gia, bảo đảm an ninh quốc gia tuy khách quan, phổ biến, nhưng đồng thời cũng có tính đa dạng, có vai trò, vị trí, tầm quan trọng khác nhau. Bởi vậy, cách nhìn nhận tổng thể khi quán triệt phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia đòi hỏi cần tiến hành vừa bao quát về diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm, xác định được yếu tố, lĩnh vực, mặt hoạt động nào là cơ bản, cần thiết, cấp bách là bên trong, chủ yếu, bản chất, phải tập trung giải quyết trước; yếu tố, lĩnh vực, mặt hoạt động nào là bên ngoài, không bản chất, có thể giải quyết sau.

Phương châm an ninh toàn diện đòi hỏi trong xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, phải “đặt độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, đồng thời phải luôn coi trọng lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân”; chủ động tiến công, tích cực phòng ngừa, lấy phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào dân, yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Đặc biệt, trong giải quyết các vụ, việc phức tạp về an ninh quốc gia, phải từ cơ sở, dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương theo phương châm “chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ và hậu cần tại chỗ”; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó công an nhân dân đóng vai trò tham mưu, nòng cốt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Phải xây dựng và lãnh đạo vững chắc lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân, bảo đảm đánh thắng bất cứ kẻ thù nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào”. Theo đó, một nguyên tắc quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia từ phương châm an ninh toàn diện chính là “công tác bảo vệ an ninh quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành; người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm chính”.

Việc bảo đảm an ninh quốc gia theo phương châm an ninh toàn diện thời gian qua ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu. Theo đó, chúng ta đã “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, để phát triển đất nước… Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường, thế trận lòng dân được chú trọng”. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, việc bảo đảm an ninh quốc gia còn có những hạn chế nhất định, như lý luận về bảo đảm an ninh quốc gia chưa hoàn thiện; công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược có lúc thiếu chủ động; tội phạm và các tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh trên một số địa bàn chưa thật vững chắc, nhất là an ninh mạng, an ninh trong đầu tư nước ngoài. Một số yếu tố ảnh hưởng đến an ninh, an toàn con người chưa được quan tâm xử lý triệt để. Việc kết hợp giữa bảo đảm an ninh quốc gia với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở một số địa phương thiếu chặt chẽ, hiệu quả.

Phát huy vai trò của phương châm an ninh toàn diện trong bảo đảm an ninh quốc gia hiện nay

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu này đã thể hiện rõ tầm nhìn tổng thể, toàn diện trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng ta; đồng thời, xác lập nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia: “Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại”. Cùng với mục tiêu, nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia, thì các biện pháp để thực hiện bảo đảm an ninh quốc gia cũng cần thiết phải được xem xét một cách toàn diện.

Trong giai đoạn hiện nay, để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong bảo đảm an ninh quốc gia theo phương châm an ninh toàn diện, cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, nhận thức một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề có liên quan đến bảo đảm an ninh quốc gia, hoàn thiện lý luận về quốc phòng, an ninh; gắn chặt lý luận với thực tiễn; nắm tình hình một cách khách quan, đầy đủ, tránh bị động, thiếu thông tin; kết hợp chặt chẽ giữa bảo đảm an ninh quốc gia với các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế cục bộ mà coi nhẹ an ninh; xem xét và chủ động có biện pháp giải quyết tất cả những yếu tố, lĩnh vực, mặt hoạt động, những nguy cơ đối với an ninh quốc gia, từ an ninh quốc gia tới khu vực và an ninh quốc tế; từ an ninh truyền thống đến an ninh phi truyền thống; lưu ý đến những vấn đề mới nảy sinh trong bảo đảm an ninh quốc gia, không để sót phương diện nào.

Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu, xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo đảm an ninh quốc gia, cần có sự phân loại, xác định các nội dung cần thiết, trọng tâm, cấp bách và chủ động có những quan điểm, giải pháp tác động phù hợp. Kiên định bảo đảm an ninh quốc gia theo phương châm đặt độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; giữ vững nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với việc bảo đảm an ninh quốc gia; kịp thời xử lý có hiệu quả những vấn đề chiến lược, cấp bách, phức tạp nổi lên trên lĩnh vực an ninh; phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ, không để xảy ra khủng bố, phá hoại; kiềm chế gia tăng tội phạm, tạo sự chuyển biến tích cực về an ninh, trật tự tại các địa bàn chiến lược; chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số an ninh, an sinh, an toàn quốc gia nhằm phát triển bền vững; rà soát, bổ sung, điều chỉnh, luyện tập, diễn tập các phương án bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng đề án bảo đảm an ninh, trật tự ở các cấp, các lĩnh vực.

Thứ ba, xây dựng công an, quân đội - lực lượng nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia - cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, trên cơ sở phát huy vai trò, nguồn lực của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước. Thúc đẩy phát triển các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh,… trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất, phối hợp với các yếu tố của khoa học - công nghệ của thời đại, như xã hội số, công dân số, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, nguồn lực quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo trong hệ thống chính trị, trên các lĩnh vực có tầm nhìn chiến lược, tư duy sáng tạo, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tinh thần nêu gương, nói đi đôi với làm; có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có kiến thức về quốc phòng - an ninh, nhận thức đúng đắn về bảo vệ an ninh quốc gia để không chỉ bảo đảm được an ninh, quân sự, mà còn bảo đảm vững chắc toàn diện trên các trận địa an ninh chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, ngoại giao...; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo đảm an ninh quốc gia. Thúc đẩy hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Để giải quyết các vấn đề an ninh, trong đó có an ninh môi trường, an ninh năng lượng… thì không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được. Theo đó, thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đồng thời, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc./.

NVH41 - Phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

 

Nhằm phủ nhận đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc đường lối đó với nhiều quan điểm sai trái. Vì vậy, nhận diện đúng và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị và cá nhân mỗi chúng ta.

Bằng quan điểm xuyên tạc, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đã đồng nhất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và chỉ có một loại kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hoặc không thể có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cần khẳng định ngay rằng, việc các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi đây là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mà đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều được thực hiện thông qua thị trường. Kinh tế thị trường chỉ là một kiểu tổ chức kinh tế mà xã hội loài người sáng tạo ra, tồn tại ở nhiều chế độ xã hội khác nhau và được chủ nghĩa tư bản sử dụng làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Chính sự phát triển của sức sản xuất đạt đến một trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan cho kinh tế hàng hóa - điểm khởi đầu của kinh tế thị trường tồn tại. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện ấy đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản và vẫn tiếp tục tồn tại trong chủ nghĩa xã hội, nên việc duy trì và phát triển kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta là đúng với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự “xoay trục sang con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”.

Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế chưa phát triển, bỏ quan chế độ tư bản chủ nghĩa nên việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết, nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển, từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động được nâng lên rõ rệt; kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện đáng kể; huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh, đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng nhanh và chất lượng, hiệu quả được cải thiện… Nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá, Việt Nam là nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Những kết quả đó là minh chứng thuyết phục, tự nó đanh thép phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về phát triển nền kinh tế thị trường  định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

NVI41 - PHÊ PHÁN, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 

Đảng ta xác định: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà Việt Nam đạt được qua 35 năm đổi mới theo mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học và phù hợp với thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sáng tạo, là kết quả của một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay1.


     Thực tiễn là vậy, song các thế lực thù địch lâu nay vẫn thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ trương đúng đắn này của Đảng hòng mưu toan chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Có thể nhận diện các luận điểm sai trái theo các nhóm vấn đề sau:

    - Họ xuyên tạc rằng,  kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, qua đó theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa.  Không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    - Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều.

    - Việt Nam đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong khi vẫn tuyên truyền, mị dân bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội.

    Những luận điểm trên đã bộc lộ mưu đồ đen tối là xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin đến một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong xã hội. Vì vậy, xin được trao đổi để làm rõ về vấn đề này:
    Thứ nhất, về sai lầm của những luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, qua đó theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


    Trước hết, nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa, chịu sự tác động các quy luật (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..) của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Do đó, kinh tế thị trường có thể tồn tại và thích ứng với nhiều hình thái xã hội khác nhau, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường được xác định là sản phẩm chung của văn minh nhân loại.


    Như vậy, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển. Đối với Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhất định phải phát triển kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là xã hội tương lai, một xã hội bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Mặt khác, không có nền kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia,  không phải là một cơ chế hoàn hảo. Do đó, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một tất yếu, khách quan. Và vì vậy, kinh tế thị trường không nhất thiết phải phát triển theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa.


    Thứ hai, rất sai lầm khi cho rằng kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều.
    Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao đổi, tiêu dùng...chịu sự tác động các quy luật kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..). Qua đó, buộc các  chủ thể kinh tế trong sản xuất phải năng động, sáng tạo, hợp lý hóa tổ chức sản xuất; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tăng năng suất lao động...thực chất để giảm chi phí, tăng chất lượng, mẫu mã hình thức, tăng sức cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kinh tế thị trường do chạy theo lợi nhuận có những mặt tiêu cực như:

 Cạnh tranh không lành mạnh, cắt xén tiền công người lao động, vi phạm sở hữu trí tuệ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường... Trong nền kinh tế thị trường, những người sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ nên dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của cơ chế tự điều tiết của thị trường trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại phải có quản lý của nhà nước, nhằm phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường mang lại và hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực. Cụ thể, nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triển như kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường phối hợp ở Nhật Bản, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc... dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội, như phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội...


    Ở Việt Nam, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tuân theo các quy luật thị trường, Nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, thúc đẩy, tôn trọng cạnh tranh lành mạnh; ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh; điều tiết và giải quyết các thất bại của thị trường; khắc phục những mất cân đối lớn, khủng hoảng chu kỳ do tự điều tiết của cơ chế thị trường gây ra. Đó chính là định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây phải được hiểu là nhằm phát huy tốt nhất những mặt tích cực của kinh tế thị trường, hạn chế tối đa mặt tiêu cực để phát triển kinh tế - xã hội phục vụ nhân dân. Đồng thời, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Công sản Việt Nam lãnh đạo, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước, nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là mục đích cao nhất của nhân dân và toàn thể dân tộc. Do đó, kinh tế thị trường mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng, phù hợp với các quy luật phát triển, là xu hướng tiến bộ, văn minh của xã hội loài người.


    Thứ ba, sai lầm của những luận điểm cho rằng Việt Nam đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong khi vẫn tuyên truyền, mị dân bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội.
    Các thế lực thù địch đã sai lầm khi chỉ căn cứ vào việc phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội để quy chụp Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi vì, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự tồn tại, phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan.  Qua nhiều kỳ đại hội, Đảng ta đã đề cập những nét cơ bản của nền kinh tế nhiều thanh phần. Đặc biêt, Cương lĩnh năm 1991 xác định đường lối của Đảng là: “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Cương lĩnh nêu rõ: Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo...Kinh tế cá thể còn có phạm vi lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh ở những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định. Đến nay, các thành phần kinh tế, các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân đều có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời nhằm phát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta xác định:  Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta không phải phát triển một cách tự phát mà phải tuân thủ pháp luật, chính sách của Nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước.

    Nhằm tạo động lực cho kinh tế tư nhân phát triển, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động, tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp thông qua các chính sách như: Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền sử dụng đất trong những năm đầu hoạt động; tư vấn, hướng dẫn thủ tục thành lập doanh nghiệp, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh; tổ chức công tác tài chính, kế toán; cung cấp thông tin; hướng dẫn quản trị doanh nghiệp và tư vấn pháp luật. Hoàn thiện và bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo tiền đề hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân sở hữu hỗn hợp, bao gồm cả việc góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước có tiềm lực vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, nông nghiệp. Bảo đảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành bao cấp, phục vụ "lợi ích nhóm" dưới mọi hình thức. Không biến việc chấp thuận, xác nhận, chứng nhận đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật thành giấy phép con, gây cản trở hoạt động của kinh tế tư nhân...
    Mặt khác, cũng cần nhận thức, giữa nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự khác nhau căn bản và điểm khác biệt rõ nhất là trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, người làm chủ là giới chủ tư bản, là giai cấp tư sản, còn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, người làm chủ là Nhân dân. Vấn đề này, Đại hội VI Đảng ta xác định: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
    Nhằm khẳng định lại những quan điểm trên, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những nội hàm cơ bản về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như sau: “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã - hội”.
    Vì vậy, những luận điểm sai trái về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là những quan điểm chủ quan, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, trong tình hình mới...nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

NVI41 - VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN

 

Hiến pháp năm 2013 thừa nhận quyền tự do ngôn luận của công dân, khi thực hiện quyền này đang nảy sinh suy nghĩ nhận thức ở một số người cho rằng:  tự do ngôn luận là được tự do nói năng, phát ngôn, bình luận chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ trách nhiệm hay ngăn cản nào, thậm chí đó là những phát ngôn xuyên tạc sự thật, thông tin sai lệch, bình luận thiên lệch, phiến diện tùy tiện... nếu ai hạn chế quyền nói năng, bình luận, phát tán thông tin của người khác là vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân, vậy bản chất của vấn đề ở đây là gì, thực chất nhận thức như vậy là  phiến diện và không chính xác nếu không muốn nói là sai lầm, chúng ta biết rằng trên thực tế không bao giờ có quyền tự do tuyệt đối cả, mà nó còn bị giới hạn bởi các yếu tố như luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức xã hội. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô chính phủ, tự do kiểu hoang dã, ai cũng nói năng, phát ngôn bừa bãi, xuyên tạc sự thật, bịa đặt, chia sẻ thông tin không kiểm chứng, bất chấp đúng sai sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây rối loạn xã hội, nhiễu loạn thông tin, có thể tạo ra khủng hoảng thông tin xã hội, dẫn đến bất ổn định an ninh trật tự xã hội

      Cần nhận thức rằng, tự do ngôn luận hoàn toàn khác về chất với ngôn luận tự do, thực tiễn chỉ ra rằng để đảm bảo quyền tự do ngôn luận một cách chính đáng cho công dân, cần thiết phải có những khuôn khổ pháp lý nhất định để vừa đảm bảo thực hiện quyền tự do ngôn luận, vừa để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, tung tin giả, phao đồn tin nhảm, bịa đặt gây hoang mang dư luận, và hoang mang trong dân chúng, bởi tự do ngôn luận khác với ngôn luận tự do nên Liên Hợp Quốc cũng lưu ý trong Hiến chương của mình rằng: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu giới hạn do luật pháp đặt ra, nhằm đảm bảo những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn” (điều 29 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nước Pháp tại điều 11 cũng biểu đạt: “Tự do trao đổi suy nghĩ, và ý kiến là một trong nững quyền quý giá nhất của con người. Vì thế bất cứ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do, tuy nhiên họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp nước ta khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí… của công dân, nhưng cũng quy định “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25 hiến pháp 2013).
      Như vậy ta thấy rằng quyền phải đi liền với trách nhiệm, con người muốn tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình trước pháp luật, trước xã hội, mình được làm gì, và không được làm gì, quyền tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ như vậy.
Thời gian qua cả nước không chỉ đối mặt với đại dịch Covid mà còn là bão lũ nghiêm trọng, Đảng, nhà nước và nhân dân đã và đang xử lý có hiệu quả việc phòng chống đại dịch, chống và khắc phục sự tàn phá của bão lũ, thành công của chúng ta trong phòng chống dịch bệnh và thiên tai được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, thành công đó ngoài những hành động cụ thể thiết thực và kịp thời, còn là việc làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Tuy nhiên vẫn có những người cố tình lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát tán thông tin sai sự thật, bịa đặt, xuyên tạc sự thật, bình luận không trung thực, thiếu khách quan… trên mạng xã hội, nhiều hành vi đã bị xử lý kịp thời thích đáng, nhưng những hành vi trên vẫn chưa dừng lại, vẫn còn gây nhiễu thông tin, các cấp chính quyền ngoài việc cung cấp kịp thời thông tin và tuyên truyền trong nhân dân, cần tăng cường công tác kiểm tra, sử dụng các biện pháp kỹ thuật cũng như những biện pháp hành chính, hình sự để ngăn chặn và xử lý, không để những hành vi đó tái diễn.

NVE41 - ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ NỀN KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế đặc thù trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, chưa có tiền lệ trong nền kinh tế thế giới. Thời gian qua, các thế lực thù địch, những đối tượng cơ hội chính trị có nhiều quan điểm sai trái, lệch lạc về vấn đề này, nhằm mục đích xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong phát triển nền kinh tế, phủ nhận các yếu tố tạo điều kiện phát triển cho thành phần kinh tế tư nhân, kêu gọi các quốc gia không công nhận cơ chế kinh tế thị trường của Việt Nam.

Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn.

Từ thực tiễn quá trình đổi mới đã khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, như đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ… Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

Đảng xác định mục tiêu xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là: “Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn”.

Về mục tiêu cụ thể, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

Trong điều kiện đó, các quy luật của kinh tế thị trường vận hành đồng bộ, các chủ thể kinh tế cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông hàng hóa phải chú ý đến tín hiệu giá cả, quan hệ cung - cầu trên thị trường; thị trường đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất,… Các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường gắn với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thực tiễn sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 

NVD41 - “Việt Tân” hãy hành động thực tiễn đừng xuyên tạc

 

Mới đây trên trang mạng facebook của “Việt Tân” có bài viết “Nước mất do đâu?”, nội dung phủ nhận các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn đang diễn ra tại đồng bằng sông Cửu Long; tuyên truyền sai sự thật, vu cáo chính quyền “bỏ mặc” người dân các tỉnh ở miền Tây, hạ thấp uy tín, vị trí, vai trò của Đảng với quần chúng nhân dân.

Trong những năm gần đây, vấn đề ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành một thách thức lớn đối với người dân và nền kinh tế của Việt Nam. Trước tình hình này, Đảng và nhà nước đã có những nỗ lực đáng kể để xử lý tình trạng ngập mặn và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, không ít người đã xuyên tạc và phủ nhận vai trò quan trọng của Đảng, nhà nước trong việc giải quyết vấn đề này.

Đảng và nhà nước đã chủ động trong việc xác định nguyên nhân và hậu quả của ngập mặn, đồng thời đề xuất các biện pháp giải quyết một cách khoa học và hiệu quả. Việc xây dựng hệ thống đập, cống chống xâm nhập mặn, mở rộng hệ thống kênh mương, và ứng dụng công nghệ tiên tiến là những nỗ lực đáng kể của Đảng, nhà nước nhằm giảm thiểu tác động của ngập mặn. Đảng, nhà nước cũng tăng cường công tác giáo dục và tư vấn cho người dân về cách phòng chống ngập mặn, từ đó nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên nước một cách bền vững.

Phủ nhận vai trò của Đảng, nhà nước trong việc xử lý ngập mặn là việc thiếu trách nhiệm và không công bằng. Luận điệu này không chỉ là sự xuyên tạc mà còn là sự lợi dụng vấn đề xã hội để tạo ra sự phân biệt và phân hóa trong xã hội. Chúng ta cần đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc này bằng việc thể hiện sự công bằng, trung thực và tôn trọng đối với những nỗ lực của Đảng, nhà nước trong việc giải quyết vấn đề ngập mặn.

Trên con đường xử lý tình trạng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, vai trò của Đảng, nhà nước là không thể phủ nhận. Chúng ta cần đồng lòng, đoàn kết và hỗ trợ nhau để cùng vượt qua thách thức này và bảo vệ môi trường sống cho tương lai. Hãy đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc và giữ vững niềm tin vào sứ mệnh của Đảng, nhà nước.

 

NVC41 - THÁNG NĂM NHỚ BÁC

 

Trong những ngày Tháng Năm lịch sử, mỗi người dân Việt Nam chúng ta ai ai cũng đều hướng về ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu, trong tim luôn trào dâng một cảm xúc bồi hồi khó tả khi hướng về Thủ đô Hà Nội, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - trái tim của cả nước với tấm lòng trân trọng, biết ơn và thành kính. Đã 55 năm kể từ ngày Bác đi xa, nhưng sự nghiệp và tư tưởng, tấm gương đạo đức vĩ đại, sáng ngời của Bác vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trường tồn theo thời gian, mãi mãi tỏa sáng trong hành trình phát triển của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ.

Sinh thời, với cương vị là Chủ tịch Nước, là lãnh tụ tối cao của Đảng, nhưng cứ đến dịp 19-5, kỷ niệm Ngày sinh của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn từ chối những lễ nghi phiền phức, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức linh đình vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, gian khổ. Qua mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh nhật của Bác, chúng ta đều thấy một sự giản dị, khiêm tốn đến cao thượng. Đó là bài học quý giá cho mỗi chúng ta trong bất kỳ giai đoạn lịch sử của đất nước. Là dịp để chúng ta soi vào tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, học tập đức tính khiêm tốn, giản dị, mẫu mực của Bác.

Kỷ niệm 134 năm Ngày sinh của Bác (19/5/1890 - 19/5/2024) năm nay là dịp để mỗi chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc tới Bác Hồ kính yêu; toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Bác hằng mong muốn./.

NVC41 - NHẬN DIỆN MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ DƯỚI CHIÊU BÀI “TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”, “NHÀ HOẠT ĐỘNG NHÂN QUYỀN”, “NGƯỜI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN”

 

Để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân luôn tuyên truyền cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền” hay “người bất đồng chính kiến” nhằm vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Việc những đối tượng bị tạm giam giống như “miếng mồi” béo bở cho các tổ chức, cá nhân chống phá thực hiện các hoạt động vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Trang VOA Tiếng Việt đăng bài nêu, tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho hai blogger độc lập Nguyễn Chí Tuyến và Nguyễn Vũ Bình. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) từng công bố báo cáo tổng kết toàn cầu về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2023 với những thông tin sai lệch, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nay lại tiếp tục đưa bài viết lên án việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam hai đối tượng trên. Trang BBC Tiếng Việt với bài viết “Làn sóng đàn áp mới khi Việt Nam vẫn muốn có ghế ở Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc” với lời lẽ vu cáo, miệt thị. Trên mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân đội lốt dân chủ, nhân quyền trở lại điệp khúc lên án, chỉ trích cùng những bài viết có tính áp đặt, can thiệp công việc nội bộ của cơ quan tư pháp Việt Nam.

Với việc đưa ra những thông tin xuyên tạc, vu cáo nhằm chính trị hóa vụ án hình sự là điều dễ nhận thấy trong các chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Việc gắn những ngôn từ mà họ thường xướng lên như “tù nhân lương tâm”, “đàn áp tiếng nói bất đồng” phản ánh cách tư duy ngụy biện, không có cơ sở pháp lý. Bởi, trong nền tư pháp Việt Nam không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”… Mục đích chính của việc gắn mác trên nhằm biến các đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội thành những “ngọn cờ” đấu tranh cho cái gọi là dân chủ, nhân quyền, từ đó hậu thuẫn, kích động các đối tượng chống phá trong nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta… Đây là một âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động nhằm đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế; cổ xúy, hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối, phá hoại công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Phải thừa nhận rằng, “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” thực sự là một cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong công chúng. Có lẽ đó cũng là lý do ngày càng có nhiều đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam, được các đối tượng dựng lên như những “tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để các thế lực thù địch vu cáo, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam như Cấn Thị Thêu, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Văn Túc, Lê Đình Lượng... Đây đều là những đối tượng thực hiện các hành vi tán phát thông tin, tài liệu chống phá Đảng, Nhà nước, lợi dụng danh nghĩa đấu tranh dân chủ, nhân quyền để phạm tội.

Từ những thông tin trên cho thấy, để thực hiện các hành vi can thiệp vào công việc nội bộ cũng như đưa ra các thông tin xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm cách cổ xúy các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong nước, kích động số này gây rối xã hội, chống phá chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia. Từ đó tạo thêm vây cánh và nhân rộng “chân rết” phục vụ cho những hành động chống phá Việt Nam thông qua các vấn đề về tự do, tôn giáo và nhân quyền, tiến tới thực hiện “cách mạng màu” bạo loạn và lật đổ chính quyền.


Sự thật về cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”…

Tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị mang tính phổ quát toàn cầu, mỗi quốc gia tùy theo đặc điểm văn hóa và thể chế chính trị sẽ có quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Vì thế, việc áp đặt quan điểm của nước này vào nước khác là không phù hợp, đó cũng được coi là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Vì vậy, việc một số tổ chức tự đề ra báo cáo nhân quyền là việc làm mang ý đồ chính trị, họ đã tự khoác cho mình chiếc áo nhân quyền để lấy cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là những hành vi cần lật tẩy, lên án trước dư luận và cộng đồng quốc tế.

Liên quan vấn đề này, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ: Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có việc những người vì tự do bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ. Như tại các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo đúng các quy định của pháp luật. Bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam, được thực hiện phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng như các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận rộng rãi.

Quan điểm trên là rất rõ ràng, khách quan, Việt Nam không có việc bắt bớ, đàn áp cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”... Những trường hợp bị khoác danh nghĩa nói trên thì thực chất là các đối tượng phạm tội, đã thực hiện hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ. Các đối tượng bị xử lý hình sự mà một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí, các phần tử phản động, cơ hội chính trị rêu rao “tù nhân lương tâm” thì không liên quan gì “lương tâm” cả khi họ đã thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, gây nguy hiểm cho xã hội, cho cộng đồng. Cũng như mọi quốc gia độc lập, có chủ quyền trên thế giới, Việt Nam tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người bằng hệ thống luật pháp cũng như áp dụng trên thực tế. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân nhưng không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác... Những hành vi tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, kích động vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước; tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm giữ gìn an ninh trật tự, ổn định chính trị - xã hội.

Điểm chung của các vụ việc này là đều được xử lý dựa trên luật pháp hiện hành, trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Vậy nên, cái gọi “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” thực chất chỉ là một thuật ngữ hết sức mập mờ được tạo ra nhằm đánh lạc hướng, thậm chí đầu độc dư luận, khiến họ khó có thể phân biệt đâu là những người hoạt động vì nhân quyền đích thực, đâu là những đối tượng sử dụng con bài nhân quyền nhằm mục đích gây rối, phá hoại. Việc hai đối tượng Nguyễn Chí Tuyến, Nguyễn Vũ Bình bị khởi tố, tạm giam để điều tra cũng như quá trình xử lý các đối tượng phạm pháp trước đó về hành vi tương tự là việc làm cần thiết của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Một tổ chức phi chính phủ hay một quốc gia dù lớn mạnh cỡ nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với nước khác bằng những nhận xét về tình hình tự do, nhân quyền một cách áp đặt, chủ quan, sai lệch. Nhân dân Việt Nam đã và đang được sống trong một đất nước tự do, độc lập, trong đó những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Mọi sự đánh giá từ các tổ chức quốc tế tự xưng về nhân quyền hay các thế lực từ bên ngoài không làm thay đổi bản chất thực tế, bởi chỉ có người dân sống trên Tổ quốc này mới cảm nhận rõ những thành quả mà họ đang thụ hưởng.

Đương nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, kể cả các nước tiên tiến, việc đảm bảo về nhân quyền luôn là quá trình phấn đấu, từng bước hoàn thiện. Quá trình thực hiện không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế nhưng khi đánh giá cần cách nhìn khách quan, không thể xoáy vào những hạn chế đó để đánh đồng, quy chụp “bức tranh nhân quyền” xám xịt như luận điệu của những kẻ chống phá. Do vậy, mỗi người cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo, cảnh giác trước cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến”; từ đó góp phần đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm bảo vệ sự ổn định chính trị, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.

NVB41 - DŨNG KHÍ CỦA ‘BỘ ĐỘI CỤ HỒ” LUÔN TƯƠI SÁNG MÀU CỜ, SẮC ÁO

 

Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta cho rằng: “Vấn đề nhân sự do Đại hội XIII của Đảng có nhiều sai sót, đã để một số quan chức “đội lốt cán bộ, đảng viên” chui sâu vào bộ máy của Đảng”, đã “leo lên những chiếc ghế cao”… Có ý kiến cho rằng, “nguyên nhân của sự tha hóa, biến chất ở một số cán bộ, đảng viên là do tham nhũng”, “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng lẫn nhau” và “lợi ích nhóm”... Từ đó, họ quy kết, vu cáo “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong lãnh đạo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”; đã đề ra chủ trương, biện pháp “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nửa vời”, nên “tham nhũng năm sau cao hơn năm trước”, “quan chức vào lò ngày càng nhiều hơn”...

Nhận thức rõ diễn biến phức tạp của tình hình, tác động tiêu cực của nó và ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ Quân đội ta đã bày tỏ sự bất bình trước sự lan truyền tin đồn, giả mạo, sự thêu dệt, đồn thổi, tán phát các thông tin xấu, độc nhằm xuyên tạc sự thật về công cuộc đổi mới, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cực lực phản đối và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các luận điệu xuyên tạc, vu khống, cáo buộc Đảng ta không đủ năng lực lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước cũng như lãnh đạo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đã bôi đen hiện thực công cuộc đổi mới, phủ nhận sạch trơn kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và hệ thống chính trị trong những năm vừa qua, nhất là 10 năm gần đây. Quan điểm, tinh thần, thái độ, trách nhiệm và dũng khí của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta là rõ ràng, nhất quán, không bao giờ chấp nhận những cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, đã vi phạm những điều đảng viên không được làm, thực hiện sai quy chế, quy định về nêu gương và trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra nhiều sai phạm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, vị thế, danh dự của Đảng, cản trở công cuộc đổi mới đất nước; xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Lúc này, dũng khí của “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện rõ ở tầm nhìn, quan điểm và thái độ không đồng tình với các phản ứng tiêu cực, quan điểm “lệch lạc”, thiếu nhất quán của một số cán bộ, đảng viên, người dân vì đã nói, viết, chia sẻ, tán phát những thông tin chưa được kiểm chứng theo kiểu “bám đuôi”, “nói leo”, tòng phạm với kẻ xấu; thậm chí đã đẩy một số vụ việc đi quá xa, quá đà, trượt sang hướng thiếu kiểm soát, thiếu thông tin xác thực nhưng đã tung lên mạng xã hội, gây dư luận xấu, sự hiểu nhầm rất đáng tiếc.

Dựa vào các sự việc ấy, ở bên kia chiến tuyến, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, những người bất mãn, bất đồng chính kiến với Đảng ta đã “chớp thời cơ”, triệt để khai thác các thông tin thiếu kiểm chứng ấy để “té nước theo mưa”, viết bài, dàn dựng các video clip có nội dung xấu, độc rồi tung lên mạng xã hội với thái độ “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, vu cáo, buộc tội Đảng, Nhà nước ta sai lầm về đường lối đổi mới; quy kết Trung ương và đồng chí Tổng Bí thư có khuyết điểm là để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, dẫn đến một số cán bộ cấp cao vi phạm kỷ luật đến mức phải xử lý pháp luật, cho thôi giữ chức vụ...

Cần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật và đánh giá một cách khách quan, toàn diện, công tâm về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thấy rằng, việc đề ra chủ trương, đường hướng, tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng, hệ thống văn bản mang tính pháp quy, quy chế, quy định về lãnh đạo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và khẩn trương điều tra; quyết liệt xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực thời gian qua là quyết liệt, đúng người, đúng việc; chứng tỏ Đảng ta nói được, làm được, làm đến cùng. Đảng, Nhà nước không chỉ đem lại giá trị đích thực của cuộc sống hòa bình, môi trường chính trị - xã hội ổn định để tiếp tục đưa công cuộc đổi tiến lên, mà còn lấy lại động lực thúc đẩy sự phát triển ở Việt Nam; đem lại niềm vui, niềm tin cho nhân dân, giải tỏa bức xúc cho các tầng lớp nhân dân. Điều đó thể hiện rõ cái tâm, cái tuệ, cái tầm của Đảng, trách nhiệm, sự tâm huyết của Đảng đối với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước.

Trước sau như một, Đảng ta nhất quán khẳng định rằng, tham nhũng không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng cho công cuộc đổi mới, mà còn cản trở việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, làm thui chột động lực phấn đấu của một bộ phận cán bộ, đảng viên trẻ, nhất là việc đùn đẩy, né tránh, không dám chịu trách nhiệm của một số người đứng đầu ban, bộ, ngành, địa phương vì sợ sai, sợ liên lụy đến trách nhiệm; làm ảnh hưởng đến uy tín, vị thế và thanh danh của Đảng, Nhà nước, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tính ưu việt của chế độ XHCN; là “miếng đất màu mỡ” để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc sự thật, chống phá công cuộc đổi mới; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công tác nhân sự của Đảng.

Quyết tâm chính trị to lớn, quyết liệt của Đảng, Nhà nước và của Quân đội ta là không thay đổi, đặc biệt là sự tâm huyết, ý chí sắt đá của người đứng đầu Đảng ta là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đồng chí nói rõ quan điểm: Không bao giờ dung thứ cho tham nhũng, tiêu cực, bất kể là ai, là tổ chức nào, nắm giữ chức vụ, cương vị gì, hễ “tay nhúng chàm”, phản bội sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thì người càng có chức vụ cao, có quyền lực lớn, nhất thiết phải xử trước, xử thật nghiêm minh, đúng người, đúng tội, làm gương cho người khác.

Đây là việc làm cần thiết, rất thiết thực để “trị bệnh cứu người”, “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một vài người để cứu muôn người”, “không để một vài cây bị sâu bệnh lây lan ra cả rừng cây”; phải lập lại tôn ty trật tự, nền nếp, lấy lại kỷ cương, phép nước, các giá trị tốt đẹp mà cách mạng đã đem lại cho nhân dân ta; là đền đáp công ơn của các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào đã hy sinh vì nước, vì dân.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không hề làm cho uy tín của Đảng bị suy giảm mà trái lại, ngày càng được nâng cao, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước đồng tình, ủng hộ, thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để “nhặt hết cỏ dại mong gặt hái mùa vàng bội thu”; tiếp tục xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Phẩm chất nhân cách, dũng khí của “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện rõ ở lập trường, quan điểm chống “giặc nội xâm”.

Góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của mình, luôn chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân và người dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng; nhất là việc giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc khắc phục tình trạng phát ngôn, viết tin, bài có nội dung xấu rồi tung lên mạng xã hội do thiếu ý thức xây dựng, thiếu thông tin hoặc hiểu biết không đầy đủ về bản chất sự việc, sự thật. Lúc này, dũng khí của “Bộ đội Cụ Hồ” là kiên quyết đấu tranh chống lại mọi loại thông tin xấu, độc; hướng dẫn mọi người thực hiện đúng quy chế, quy định về phát ngôn, sử dụng mạng xã hội để giữ vững ổn định chính trị - xã hội; góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” và “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Dũng khí, khí phách, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” luôn tỏa sáng trong khó khăn, thử thách; ra sức phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 35 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024); làm cho màu cờ, sắc áo và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” mãi mãi tỏa sáng trong thời kỳ mới./.



NVB41 - HIỆU QUẢ THIẾT THỰC TỪ PHONG TRÀO THI ĐUA QUYẾT THẮNG

 

Trong kháng chiến, kiến quốc, phong trào thi đua yêu nước có một vị trí đặc biệt quan trọng, đóng góp thiết thực, to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc.

Tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của đất nước là phong trào Thi đua quyết thắng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, chỉ đạo phong trào thi đua của Quân đội, nhất là việc xây dựng, phát triển các đơn vị quyết thắng. Ngày 10 - 8 - 1965, nói chuyện tại Đại hội thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của các lực lượng vũ trang nhân dân”, Hồ Chí Minh nói: “… Để cùng với toàn dân làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước, các lực lượng vũ trang của ta hãy thực hiện tốt 5 điều sau đây: Phát huy truyền thống vẻ vang quyết chiến, quyết thắng, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, ra sức tiêu diệt địch và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, đánh giặc giỏi, huấn luyện giỏi, xây dựng nhiều “Đơn vị quyết thắng” hơn nữa.

Để có được nhiều điển hình tập thể, cá nhân tiên tiến, đơn vị quyết thắng, theo Hồ Chí Minh cần có chủ trương, biện pháp thi đua đúng đắn, tích cực, đồng bộ. Trước hết, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải có quan điểm đúng về thi đua. Người quan niệm công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua, không được lầm tưởng thi đua “là một công việc khác với những công việc làm hàng ngày”. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vì mục đích của thi đua yêu nước, thi đua quyết thắng là để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, cho nên phải huy động được sức mạnh của đông đảo nhân dân cũng như cán bộ, chiến sĩ. Tháng 6 - 1968, cho ý kiến về làm và xuất bản sách “Người tốt việc tốt”, Hồ Chủ tịch căn dặn không được bỏ qua những việc tưởng là tầm thường, vì theo Người: “Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân và chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”.

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ thi đua phải là công việc trường kỳ, liên tục, bền bỉ, thiết thực với cách tổ chức, kế hoạch cụ thể, thiết thực, phù hợp và phải chú ý tăng cường sự đoàn kết, giúp đỡ nhau, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên và đẩy mạnh năng suất, chất lượng, hiệu quả. Người yêu cầu trong thi đua cần phải tránh tình trạng: đặt kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương; hình thức, “đầu voi đuôi chuột”; ganh đua, giấu nghề…

Tư tưởng, lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quán triệt, triển khai thực hiện tích cực, thường xuyên, hiệu quả trong các giai đoạn lịch sử của đất nước. Nổi lên là phong trào thi đua quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn diễn ra sôi nổi, thiết thực, hiệu quả trong kháng chiến cũng như kiến quốc với rất nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu. Tiêu biểu như trong kháng chiến chống Pháp là phong trào thi đua “Giết giặc lập công”, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là phong trào thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và từ khi đất nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là phong trào Thi đua quyết thắng. Qua các phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực ấy đã xuất hiện hàng vạn tập thể, cá nhân anh hùng, đơn vị, cá nhân quyết thắng, chiến sĩ thi đua… góp phần tô đẹp vườn hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Quân đội, của Tổ quốc Việt Nam.

Những năm gần đây, toàn quân đã tiếp tục đẩy mạnh phong trào Thi đua quyết thắng, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 34 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 57 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới. Báo cáo tổng kết công tác thi đua khen thưởng tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ X đã đánh giá: trong 5 năm qua công tác thi đua khen thưởng và phong trào Thi đua quyết thắng toàn quân đã đạt được những kết quả quan trọng, lập nhiều thành tích xuất sắc, trở thành động lực to lớn cổ vũ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng, người lao động vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Nét mới trong phong trào Thi đua quyết thắng hiện nay luôn gắn chặt với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” và Cuộc vận động Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các hoạt động thi đua thường xuyên có sự đổi mới, sinh động, cấp trên nêu gương mẫu mực, cấp dưới tích cực noi theo… Qua đó đã xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu và được nhân rộng, lan tỏa trong toàn quân, trong đó có nhiều Đoàn viên thanh niên trưởng thành trong phong trào Thi đua quyết thắng được giới thiệu để kết nạp vào Đoàn, vào Đảng. Chỉ tính trong năm 2023 toàn quân có 46.233 công trình, phần việc thanh niên các cấp được thực hiện, đã bồi dưỡng, giới thiệu 12.600 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp Đảng.

Những kết quả tốt đẹp trên đã bác bỏ các thông tin chống phá của các thế lực thù địch, thế lực xấu đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, nói xấu Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó chúng tuyên truyền rằng phong trào thi đua của Quân đội không còn hiệu quả như trước đây, mà giờ chỉ còn là hình thức, không có tác dụng. Âm mưu của chúng là để làm giảm uy tín của Quân đội, thực hiện mục đích thâm độc “phi chính trị hóa” Quân đội, tách rời sự lãnh đạo của Đảng, sự tin yêu, giúp đỡ của nhân dân với Quân đội, từ đó phá hoại sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu quan trọng đặt ra là Quân đội phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống có hiệu quả sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, thế lực xấu, như Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Kiên quyết khắc phục bằng được những hạn chế, khuyết điểm… Không để các thế lực xấu, thù địch, lợi dụng hạn chế, khuyết điểm để thổi phồng, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Quân đội, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội”.

Chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào Thi đua quyết thắng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, đất nước và nhân dân tin cậy, giao phó. Trước mắt, toàn quân tích cực tiến hành hiệu quả phong trào Thi đua quyết thắng năm 2024 với chủ đề: “Đoàn kết, mẫu mực, kỷ cương, chủ động, sáng tạo, quyết thắng”, tổ chức chặt chẽ Đại hội thi đua Quyết thắng từ cấp cơ sở đến cấp trực thuộc Bộ giai đoạn 2019 - 2024 và chuẩn bị cho Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI.

 


NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...