Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

NVH40 - Sự xuyên tạc, kích động thâm hiểm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

 

Thứ nhất, đường lối, chính sách, các chiến lược, kế hoạch... phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay đều khẳng định rất rõ ràng, biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; lợi ích quốc gia trên biển là vấn đề trọng yếu, thường xuyên và lâu dài của Việt Nam. Ngay từ thời điểm đang phải dồn toàn lực để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dù khó khăn trăm bề, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã kịp thời đưa lực lượng, phương tiện đi giải phóng các đảo từ tay chế độ cũ, thể hiện tầm nhìn trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.


Trong suốt những năm qua, Việt Nam luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tất cả lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển Việt Nam đã được luật pháp quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định. Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã nhiều lần phát ngôn công khai, khẳng định rõ lập trường, quan điểm nêu trên.

Hệ thống quan điểm của Đảng ta về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Điều đó được thể hiện rõ qua các văn kiện của mỗi kỳ đại hội Đảng. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Trong đó, Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề trên biển hiện nay.


Thứ hai, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn ưu tiên dành mọi nguồn lực tốt nhất cho nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển, đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh tại địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.


Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân yên tâm bám biển, làm giàu từ biển. Nhiều ngành kinh tế biển được chú trọng như khai thác dầu khí, vận tải biển, điện gió ngoài khơi, du lịch biển, đảo, phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học... Tất cả hoạt động kinh tế biển đó thể hiện tính chất của nền quốc phòng toàn dân, thực hiện sách lược gắn kinh tế với quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.


 Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.


Thứ ba, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.


Đảng, Nhà nước ta thực hiện triết lý “Ngoại giao cây tre” - mà bản chất là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt. Mục tiêu lớn nhất là tránh được xung đột, không để xảy ra chiến tranh, giữ gìn môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng đồng thời bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc với quyết tâm cao nhất. Chúng ta biết nhu, biết cương, biết thời thế, biết thực lực, biết mình, biết người, biết tiến, biết lui đúng lúc, hợp thời. Đó cũng là thực hiện triết lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Lạt mềm buộc chặt” mà ông cha ta đã đúc rút từ các bài học đấu tranh dựng nước và giữ nước.


Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của nước ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn.


Thứ tư, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng kiểm ngư vững mạnh, với trang bị, phương tiện ngày càng đồng bộ, hiện đại đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các lực lượng nêu trên luôn có tinh thần, quyết tâm cao, kiên quyết, kiên trì, kiên cường thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, không có chuyện “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”... như kẻ xấu xuyên tạc, vu cáo.


Thứ năm, Đảng, Nhà nước quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Công tác tuyên truyền đã thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự quản lý thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, tạo đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.


Do đó, những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo rõ ràng là xuất phát từ những mưu đồ đen tối, âm mưu kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới, cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời.

 

NVH40 - Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ

 

Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã xem xét nguyện vọng cá nhân và cho thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu đối với một số cán bộ cấp cao. Lợi dụng vấn đề này, các tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, phần tử xấu đã “điên cuồng” chớp thời cơ để thêu dệt, xuyên tạc thông tin, làm sai lệch bản chất vấn đề để chống phá Đảng, Nhà nước.

Trên các trang nhóm phản động “Việt Tân”, “Dân làm báo”, “RFA”,… thường xuyên đăng tải các bài viết có luận điệu xuyên tạc, hướng lái sự việc theo chiều hướng tiêu cực khi cho rằng, đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”, “bất ổn chính trị”... Mục đích, thông qua việc dựng chuyện, thổi phồng sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên hòng hạ thấp uy tín, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, chia rẽ Đảng với dân, từ đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, miễn nhiệm, từ chức là việc diễn ra bình thường, không chỉ ở Việt Nam, mà ở nhiều nước trên thế giới, không phải đến bây giờ mới có. Việc từ chức của cán bộ hoàn toàn không thể và không phải do bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có thể ép buộc, áp đặt vô căn cứ. Đảng và Nhà nước ta đã có những quy định rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ căn cứ pháp lý đối với việc miễn nhiệm, từ chức của cán bộ.

Vấn đề miễn nhiệm, từ chức đã được đặt ra trong các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và được luật hóa trong hệ thống pháp luật nhà nước, cụ thể tại Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Mục tiêu của việc miễn nhiệm cán bộ vừa đáp ứng nguyện vọng của cá nhân, vừa góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, quản lý, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đảm bảo đúng quy định.

Qua đây, mỗi người dân chúng ta càng nhận thấy rõ hơn bản chất và thủ đoạn của các đối tượng chống đối là không thay đổi. Từ đó, cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết lên án, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

NVE40- BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG VIỆT NAM ĐÀN ÁP NGƯỜI DÂN TỘC THEO ĐẠO TIN LÀNH

 

Với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gần đây trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết: “Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo tin lành để phá hoại sự đoàn kết”. Nội dung bài viết vu khống Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành và chia rẽ dân tộc để dễ bề cai trị, nhằm kích động người người dân tộc thiểu số ly khai, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong nhiều bài viết các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cho rằng Việt Nam đã “đàn áp hết sức tàn ác với người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành” cụ thể là người Mông.

Thực tiễn cho thấy, từ những năm 2003 đến nay, vấn đề tuyên truyền, thành lập “nhà nước Mông” trên địa bàn các tỉnh vùng cao, đặc biệt tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên manh nha xuất hiện, sau đó nhanh chóng lan rộng ra toàn huyện. Đỉnh điểm, năm 2011, nhóm đối tượng Vàng A Ía đã tập hợp lực lượng với hơn 7000 người Mông, tổ chức đón “vua Mông”, “xưng vua”, lập “vương quốc Mông” ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè. Chúng dựng hơn 300 lều, lán, lập barie, bố trí người canh gác không cho người lạ vào, đồng thời chuẩn bị vũ trang, tập võ, tập bắn, mua vũ khí, đồng thời móc nối với các đối tượng ở nước ngoài chuẩn bị các điều kiện, phương để lập “vương quốc Mông”. Các đối tượng cực đoan, quá khích còn bắt giữ 16 cán bộ quân đội và cấp ủy, chính quyền cơ sở khi đến công tác tại bản...

Trước tình hình đó, lực lượng Công an đã phối hợp các đơn vị chức năng tiến hành giải tán đám đông tại bản Huổi Khon, bắt giữ 127 đối tượng cản trở người thi hành công vụ, thu nhiều quả nổ tự chế, súng kíp, bao đựng thuốc nổ, đạn, súng AK, cung nỏ, dao kiếm... Sau đó, cơ quan chức năng đã khởi tố, xét xử nhiều đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình sự. Đó là hành động kịp thời, cần thiết, phù hợp với luật pháp Quốc tế và Việt Nam, không giống như luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch đang rêu rao trên mạng xã hội.

Chúng còn vu cáo chính quyền Việt Nam “luôn ngờ vực dân tộc thiểu số nên duy trì chính sách chia rẽ để cai trị”.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm các dân tộc “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Các thành tựu trong thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là những minh chứng thuyết phục phản bác luận điệu vu khống của các thế lực thù địch. Về công tác phát triển giáo dục, đào tạo, hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo và xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 0.4%/năm; 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; Nhà nước Việt Nam còn rất chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo.

Như vậy, luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội là vô căn cứ và đã bị thực tiễn bác bỏ. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các phần tử phản động, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

NVE40- CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA PHÓNG VIÊN VIỆT NAM THỜI BÁO

 

Xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo là thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm chống phá cách Mạng nước ta. Điển hình như bài viết: “Nhà nước Việt Nam bách hại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” của Phóng viên Việt Nam thời báo đang được phát tán trên các diễn đàn phản động. Nội dung của bài viết thể hiện rõ mưu đồ lợi dụng Phật giáo để xuyên tạc thực tiễn tự do tôn giáo, làm cho một số tăng ni, phật tử, quần chúng nhân dân hiểu sai về chính sách tự do tôn giáo, tình hình hoạt động của Phật giáo ở Việt Nam, gây ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo.

Như chúng ta đã biết Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền bình đẳng, tự do về tôn giáo, nhưng kiên quyết xử lý những vi phạm pháp luật. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền quan trọng của công dân, luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam công khai thừa nhận, tôn trọng; không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau. Các tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật được Nhà nước cho phép và hoạt động theo đúng pháp luật quy định. Nghiêm cấm và xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm Hiến pháp, pháp luật. Điều này, không những được ghi rõ tại Điều 24 của Hiến pháp 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 mà còn được Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán qua các thời kỳ cách mạng. Sự thật trên đã bác bỏ luận điệu “Cho đến nay, Đảng Cộng sản vẫn chưa tỏ ra sẵn sàng thay đổi chính sách của họ” của Phóng viên Việt Nam thời báo. Tuy nhiên, những hành động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đều bị nghiêm trị. Điều này, không chỉ Việt Nam, mà các quốc gia đều có quy định và các chế tài xử lý. Lợi dụng quy định của pháp luật về quản lý tôn giáo, tín ngưỡng và không dựa trên thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam để xuyên tạc là biểu hiện mơ hồ, thiển cận trong nhận thức của Phóng viên Việt Nam thời báo.

Thực tiễn đã chứng minh việc xử lý Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được tiến hành theo đúng quy định của hiến pháp, pháp luật, được các tăng ni, phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng tình, ủng hộ. Trong bài viết, Phóng viên Việt Nam thời báo thống kê rằng Đảng, Nhà nước “đàn áp tôn giáo”; “bỏ tù các tăng sĩ cấp cao”; “triệt hạ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống Nhất”; “xóa bỏ các tàn tích của GHPGVNTN” là hoàn toàn sai sự thật. Về cái gọi là Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã không còn tồn tại và được công nhận ở thời điểm hiện nay. Bởi vì, năm1981, tại Đại hội thống nhất Phật giáo tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội với sự tham dự của 168 vị Giáo phẩm, Tăng, Ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn Quang) đã nhất trí thành lập nên một tổ chức duy nhất của Phật giáo cả nước lấy tên là: Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Công văn số 5978/VP-NCPC ngày 14-11-2005 của UBNDTP Đà Nẵng gửi đích danh ông Thích Quảng Độ một lần nữa khẳng định “GHPGVNTN” là một tổ chức không hợp pháp, không được sự công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc ông Thích Quảng Độ tự nhân danh “Viện trưởng Viện hóa đạo” thuộc “GHPGVNTN” ký Văn thư số 01/VHĐ/QĐ/VT ngày 8-7-2005 về việc “chuẩn y thành phần nhân sự Ban đại diện GHPGVNTN Quảng Nam-Đà Nẵng nhiệm kỳ 2005-2007” là trái với các quy định pháp luật hiện hành. Và việc xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật này của ông Thích Quảng Độ nói riêng và Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất nói chung là cần thiết, đúng quy định của pháp luật. Qua đó, trả lại sự tôn nghiêm trong chấp hành pháp luật và sự tôn trọng với các tín đồ Phật giáo chân chính, hoàn toàn không có chuyện “đàn áp”, “triệt hạ” như Phóng viên Việt Nam Thời báo rêu rao, xuyên tạc.

Vì vậy, những thống kê xen lồng đánh giá của Phóng viên Việt Nam thời báo là những thông tin một chiều không khách quan, là góc nhìn thiển cận về lịch sử và hiện tại của Phật giáo. Mọi người dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giáo và tích cực phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về chính sách tôn giáo nói chung, chính sách đối với Phật giáo nói riêng của Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

 

NVE40- NHẬN THỨC ĐÚNG “TỰ DO BÁO CHÍ” KHÔNG PHẢI LÀ TỰ DO VÔ TỔ CHỨC

 

Mới đây trên nhiều trang mạng các thế lực thù địch lại tiếp tục rêu rao bài viết: “Uy tín Đảng cao hơn tương lai đất nước”. Chúng cho rằng “cần phải có tự do báo chí” và đồng thời ra sức xuyên tạc vấn đề này, nhằm thao túng dư luận, gây rối loạn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng cố tình quên rằng việc bảo đảm mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế. Cần khẳng định ngay rằng, những thông tin mà Bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2023 của RSF đưa ra mà các thế lực thù địch dẫn chứng là không khách quan, không đúng thực tế với tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Như chúng ta đã biết báo chí có vai trò là phương tiện để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền tự do báo chí là quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận, cung cấp và phản hồi thông tin trên báo chí… Ở Việt Nam những năm qua, tự do báo chí, tự do ngôn luận được Nhà nước bảo đảm, thể hiện rõ trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn. Thực tiễn về tự do báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì mà RSF và các thế lực thù địch đưa ra. Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại” . Tại Chương II, Luật Báo chí (năm 2016) cũng quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời, cũng quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ”. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Điều 14, Luật Báo chí (năm 2016) đã bổ sung một số đối tượng được thành lập tạp chí khoa học, như: Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ; bệnh viện từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tương đương trở lên. Quy định này cũng cho phép các cơ sở giáo dục, tổ chức khoa học và công nghệ thuộc loại hình tư thục, có đầu tư của nước ngoài được phép ra tạp chí khoa học.

Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2022 cho thấy, “Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 người đã được cấp thẻ nhà báo” . Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo; Hãng thông tấn Asia, Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Rossiya Segodnya (Nga), v.v. Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời sống báo chí ở Việt Nam diễn ra hết sức nhộn nhịp, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội. Trong những năm gần đây, báo chí đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Nhiều giải báo chí toàn quốc, như: Giải Báo chí quốc gia; Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng); Giải Báo chí toàn quốc về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Giải Báo chí toàn quốc về Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Giải Diên Hồng); Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại; Giải Báo chí về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,… được tổ chức hằng năm là dịp để các nhà báo nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp trong làm báo, đồng thời phản ánh hoạt động báo chí ở Việt Nam rất phong phú, sôi động.

Như vậy chúng ta cần hiểu rằng không có quốc gia nào để bảo vệ chế độ, chủ quyền quốc gia mà cho phép những kẻ lợi dụng vấn đề tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền xuyên tạc, chống phá tùy tiện. “Nếu 35 nhà báo bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý” trong thời gian vừa qua thì đó chính là những kẻ đang cố tình bóp méo sự thật, vi phạm Luật Báo chí của Việt Nam. Những kẻ bị bắt không phải vì họ làm nghề viết báo, cũng không phải Việt Nam không cho phép họ làm báo, mà vì họ vi phạm pháp luật, tung tin giả, tin xấu độc xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc xử lý theo pháp luật những kẻ vi phạm đó cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tiếp cận những thông tin chính xác, khách quan của công dân. Do đó, những rêu rao “Việt Nam không có tự do báo chí” là xuyên tạc sự thật, bộc lộ rõ mưu đồ chống phá, tham vọng thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam của các thế lực thù địch cần phải lên án và đấu tranh với những hành vi đó./.

 

NVE40- LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tung ra các bài viết xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, khi tình hình trên Biển Đông có những diễn biến phức tạp hay đến dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử xảy ra trên biển, đảo thì ngay lập tức, trên các báo, đài ở nước ngoài như BBC, RFA, RFI, các trang web, mạng xã hội của các tổ chức, đối tượng phản động lại tăng cường phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc về vấn đề này.

Gần đây, các tổ chức phản động lưu vong tiếp tục lợi dụng sự kiện Trung Quốc điều tàu hải cảnh hoạt động bất hợp pháp tại bãi đá Tư Chính thuộc vùng thềm lục địa của Việt Nam để tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch, quy chụp Đảng, Nhà nước “không lo bảo vệ biển đảo”, né tránh, lãng quên những vấn đề này; lấy cớ việc tổ chức “tưởng niệm” để lôi kéo, kích động chống phá, tổ chức các hoạt động tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự tại các địa điểm công cộng trên địa bàn TP Hà Nội và một số thành phố lớn khác…

Lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối ở trong nước, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đã tiến hành lồng ghép, xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước hòng làm sai lệch thông tin, tình hình về biển Đông và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong quan hệ với các nước láng giềng trên biển; kêu gọi sự can thiệp của bên ngoài, đòi thả tự do cho những kẻ chống phá chính quyền đã bị pháp luật trừng trị. Thay vì tổ chức các hoạt động tưởng niệm tại nghĩa trang liệt sĩ hay một cơ sở thờ tự nào đó với mục đích, ý nghĩa nhân văn, hướng lòng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thì số phản động, chống đối thường chọn “tưởng niệm” tại khu vực công cộng, nơi tập trung đông người nhằm phô trương thanh thế, gây rối trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước. Mục đích nhằm lợi dụng danh nghĩa “tưởng niệm” để xuyên tạc, kích động, cổ súy các hành vi chống phá chính quyền, chia rẽ quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước láng giềng trên biển, tập dượt, tiến hành cuộc “cách mạng đường phố” nhằm tiến tới bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân.

Lịch sử dựng nước, giữ nước đã chứng minh lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, người dân đặc biệt quan tâm, thường xuyên dõi theo những thông tin liên quan và có các ý kiến thể hiện quan điểm góp phần bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Lợi dụng tâm lý này, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đã lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân thiếu hiểu biết nhằm xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam với quốc tế. Các đối tượng cũng tìm cách lồng ghép, quy chụp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lực lượng trực tiếp làm công tác bảo vệ chủ quyền như Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, cho rằng các lực lượng này “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia và tính mạng của nhân dân bị đe dọa”.

Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn. Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Đây là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Bằng luận điệu xuyên tạc, đả kích, các thế lực xấu muốn làm lòng dân bất an, dần mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng. Hơn lúc nào hết, mỗi người cần tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin, nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử chống đối trong và ngoài nước. Mỗi chúng ta cần phải biết cách thể hiện lòng yêu nước, sự biết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ theo đúng nghĩa, đúng cách, không để lòng yêu nước bị lợi dụng vào các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước./.     

 

 

NVD40 - Việt Nam nhất quán quan điểm giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình

 

Trong điều kiện tranh chấp trên biển Đông còn diễn biến phức tạp hiện nay; các thế lực thù địch tăng cường tuyên truyền xuyên tạc về chủ trương giải quyết tranh chấp bất đồng bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam, chúng cho rằng Việt Nam muốn giải quyết bằng “hòa bình” nhưng lại “đầu tư lực lượng” để chuẩn bị cho các “điểm nóng ở cấp độ thấp”; nhằm mục địch chia rẽ, gây kích động ngoại giao các nước khu vực ven biển Đông.

Việt Nam luôn chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý.

Trong bối cảnh tranh chấp phức tạp hiện nay ở Biển Đông, việc tôn trọng và tuân thủ đầy đủ Công ước Luật Biển 1982 càng có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực.

Trước hết, các quốc gia cần tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý cũng như các tiến trình đàm phán đang diễn ra, tránh có những động thái nhằm làm xói mòn, hạ thấp vai trò của Công ước. Mọi yêu sách về biển của các nước cần dựa trên các quy định của Công ước, không áp đặt các yêu sách thái quá, không phù hợp với quy định của Công ước.

Khi có bất đồng hoặc khác biệt liên quan đến giải thích và thực thi Công ước, các bên liên quan cần thương lượng, giải quyết bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Luật Biển 1982.

Trong khi chưa giải quyết được các tranh chấp, các nước liên quan cần tôn trọng và thực hiện đầy đủ DOC, kiềm chế, không thực hiện các hoạt động đơn phương có thể làm phức tạp tình hình và gia tăng tranh chấp, tham gia đàm phán một cách xây dựng nhằm sớm đạt một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất và phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982.

Là một quốc gia ven biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước Luật Biển 1982. Chứ chưa bao giờ có ý định gây hiềm khích và giải quyết bằng “xung đột, bạo lực” như lời lẽ xuyên tạc của các thế lực thù địch. Vì mục tiêu ổn định, hòa bình ở khu vực và thế giới, một biển Đông êm đềm, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế mà các nước đã tham gia ký kết.

 

NVD40 - Không thể xuyên tạc vấn đề “Tự do báo chí” ở Việt Nam

 

Gần đây, thế lực thù địch tiếp tục ra sức đơm đặt xuyên tạc vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam. Ngày 04/5/2024, trên trang blog Đối Thoại tán phát bài “Báo cáo 2024 của RSF: Việt Nam trong nhóm bảy nước đội sổ về tự do báo chí”, nội dung trích dẫn “Báo cáo chỉ số tự do báo chí thế giới 2024” thiếu khách quan, sai thực tế của tổ chức “Phóng viên không biên giới - RSF” xếp loại vô căn cứ Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về chỉ số tự do báo chí; “bỏ tù có hệ thống” những “nhà báo” cất tiếng trên mạng xã hội; “hạn chế” quyền tự do tiếp cận thông tin của người dân; đồng thời phủ nhậ những giá trị tự do, dân chủ ở Việt Nam. Đây không còn là vấn đề xa lạ, kể từ khi được thành lập cho đến nay, tổ chức RSF luôn đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia không có tự do báo chí, tự do ngôn luận. Vậy vấn đề nằm ở đâu?

Xét về cơ sở của việc đánh giá, RSF căn cứ các điều kiện như tính đa nguyên, tính độc lập của phương tiện truyền thông, môi trường truyền thông, khả năng tự kiểm duyệt, khuôn khổ pháp luật, tính minh bạch, chất lượng của cơ sở hạ tầng hỗ trợ việc sản xuất tin tức và thông tin để làm tiêu chí khảo sát. Nhìn qua thì tưởng đây là tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, văn minh của loài người. Nhưng xét kỹ sẽ thấy, RSF chỉ đưa ra các tiêu chí, chứ không đưa khái niệm cụ thể, thế nào là tự do báo chí.

Trong quá trình lập bảng và đưa ra khảo sát, tổ chức này cũng không căn cứ, cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt, mà chỉ áp dụng các quan điểm và quy tắc của những nước tư bản như Mỹ, Pháp..., không hề để ý đến những quốc gia theo chủ nghĩa xã hội với hệ tư tưởng hoàn toàn khác biệt. Vì vậy, phương pháp này của họ chỉ mang tính chủ quan, thiếu minh bạch và không có cơ sở. Họ đòi hỏi các nước phải có tự do báo chí, nhưng là “tự do báo chí tuyệt đối”, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Trên cơ sở này, họ tung hô, ca ngợi những người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng đất nước ở Việt Nam... mà quên mất một điều rằng, không một quốc gia nào trên thế giới có được sự tự do báo chí tuyệt đối, mọi hoạt động báo chí đều nằm trong khuôn khổ pháp luật của quốc gia đó.

Từ đó cho thấy, mục đích của việc xếp hạng này không phải để giúp Việt Nam có được sự tự do báo chí, tiến tới sự phát triển, mà thực chất chỉ là chiêu trò xuyên tạc, bóp méo tình hình báo chí ở Việt Nam; lấy đó làm cơ sở để công kích các vấn đề về nhân quyền, dân chủ, tự do vốn là một trong những chiêu bài mà các nước phương Tây luôn áp dụng để hạ bệ, chống đối nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân về tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của cơ quan báo chí; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền được “phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.

Điều cần lưu ý là các công ước quốc tế về quyền con người cũng như luật pháp của các nước đều coi tự do báo chí là một quyền cơ bản, nhưng đó không phải là quyền tự do tuyệt đối mà phải có giới hạn nhất định và thực hiện quyền này ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy theo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia đó.Cần khẳng định rõ, ở Việt Nam “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng” (khoản 3 Điều 13 Luật Báo chí). Đảng, và Nhà nước đề ra định hướng, quan điểm, xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi cho báo chí hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Cơ quan báo chí có quyền thông tin, và tạo mọi điều kiện để thông tin nhưng phải chịu trách nhiệm về thông tin đưa ra. Việc lợi dụng báo chí để bóp méo sự thật, phát tán tài liệu tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích của tổ chức, cá nhân công dân bị nghiêm cấm. Điều này thể hiện sự bình đẳng, nghiêm minh của pháp luật nhằm bảo hộ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính ở Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, chưa bao giờ báo chí được tạo điều kiện phát huy quyền dân chủ, hoạt động cởi mở, thông thoáng như thời điểm hiện nay. Theo thống kê, tính đến hết năm 2023 cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện, 127 cơ quan báo; 671 cơ quan tạp chí (trong đó có 319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình.Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, trong đó khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người.. Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người. Đây được xác định là lực lượng xung kích trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.

Việc bất chấp thực tiễn và sự áp đặt vô lý của tổ chức RSF suy cho cùng cũng vì mục đích chính trị và kinh tế, hòng biến báo chí trở thành công cụ đắc lực phục vụ quyền lợi cho các nhà tư bản, kéo dài sự phụ thuộc và mở rộng ảnh hưởng của các nước tư bản phương Tây lên những quốc gia khác.

Dù ở bất kỳ quốc gia nào, tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là quyền tự do vô giới hạn, tự do tuyệt đối mà phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý cụ thể. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân như quy định của Luật Báo chí. Như vậy, có thể còn khiếm khuyết nhưng thực tiễn chỉ ra rằng Việt Nam luôn bảo vệ tự do báo chí và ngày càng chú trọng hoàn thiện thể chế để quyền này càng được phát huy, nhân rộng.

 

NVC40 - “MỘT DÂN TỘC, MỘT ĐẢNG VÀ MỖI CON NGƯỜI, NGÀY HÔM QUA LÀ VĨ ĐẠI, CÓ SỨC HẤP DẪN LỚN, KHÔNG NHẤT ĐỊNH HÔM NAY VÀ NGÀY MAI VẪN ĐƯỢC MỌI NGƯỜI YÊU MẾN VÀ CA NGỢI, NẾU LÒNG DẠ KHÔNG TRONG SÁNG NỮA, NẾU SA VÀO CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN”

 

Đây chính là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 18 tháng 6 năm 1968, để bàn về cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đây là thời điểm mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam thu được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao truyền thống hào hùng của dân tộc, thành tích vẻ vang của Đảng và mỗi con người trong sự nghiệp kiến quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc; mà còn nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ phải triệt để đấu tranh khắc phục tư tưởng sống thỏa mãn trong hào quang, chiến thắng của ngày hôm qua, phải luôn tiến về phía trước, đấu tranh loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng, bộ máy nhà nước những người “sa vào chủ nghĩa cá nhân” không còn đủ tư cách, tha hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân. Thực hiện lời dạy của Bác, toàn Đảng toàn dân, toàn quân ta đã đem hết tài năng và sức lực cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu gần 40 năm đổi mới, lời dạy của Bác năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, bài học thực tiễn sâu sắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự là lực lượng chính trị, lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong hai cuộc kháng chiến trước đây. Tư tưởng của Bác tiếp tục là ánh sáng soi đường xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nền tảng, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ kiên quyết đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng, loại trừ chủ nghĩa cá nhân; khơi dậy tinh thần thi đua sáng tạo, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

 

NVC40 - CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG ÂM MƯU LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Những năm gần đây, các đối tượng thù địch gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã và đang ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là “thòng lọng” đối với hoạt động của các tôn giáo. Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là “báo cáo”, “phúc trình” thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế. Trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo.

Đáng chú ý, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước “đàn áp tôn giáo”. Chúng công kích các chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội và kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng “tự do tôn giáo” là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước…


Các đối tượng cực đoan còn lợi dụng một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội. Từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức những cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền. Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ…


Đặc biệt, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài “bảo vệ quyền lợi của giáo hội” để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí nhiều vụ việc bị chúng “chính trị hóa”, “quốc tế hóa”, từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.


Các thế lực thù địch và phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục lạc hậu… để từ đó dùng thần quyền, giáo lý chi phối người dân tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Điển hình là một số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã móc nối đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở 2 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia..…


Trên địa bàn tỉnh Bình Phước cũng đã xuất hiện một số “đạo lạ”, “tà đạo” như: “Pháp luân công”, “Thanh Hải vô thượng sư”, “Pháp môn Diệu âm”, “Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”, “Nhất quán đạo”, “Đảng Hoàng thiên cách mạng thế giới đại đồng”... Các “đạo lạ”, “tà đạo” này đã lôi kéo một bộ phận quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh tham gia, đặc biệt là những người có trình độ nhận thức còn hạn chế, đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo khó khăn, bệnh tật, thậm chí có cả trí thức, cán bộ, đảng viên, sinh viên tham gia. Hoạt động của các tổ chức này có chiều hướng phát triển và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.


Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn nêu trên, cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong tỉnh cần tăng cường tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục...


Song song đó, đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Cần xác định đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, sự điều hành, quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước, góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Đặc biệt, chú trọng giải quyết việc làm cho lao động vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân.

 

NVC40 - Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc về tập thơ “Nhật ký trong tù” không phải do Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) viết

 

Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng xuyên tạc cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các “tác giả” đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

NVB40 - VẠCH TRẦN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngày 11/5/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Hơn 300 khuyến nghị cho Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc”, nội dung xuyên tạc Phiên đối thoại về Báo cáo Quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; phủ nhận giá trị tự do, dân chủ ở Việt Nam; vu cáo chính quyền “vi phạm” nhân quyền trên nhiều lĩnh vực; chúng còn kêu gọi thành lập “Cơ quan nhân quyền quốc gia” ngoài sự quản lý của Nhà nước, cho phép thành lập “Công đoàn độc lập” ở Việt Nam… Tuy nhiên, thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam đã phản bác luận điệu xuyên tạc này.

          Trong suốt các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm bảo vệ và thực thi các quyền con người. Tại Điều 10 Hiến pháp năm 1946 nhấn mạnh, công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung các quy định về quyền con người, trong đó khẳng định rõ hơn việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất của Việt Nam trong việc bảo đảm nhân quyền của công dân Việt Nam.

          Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định, quyền con người, quyền công dân là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng trong phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quyền con người, quyền công dân được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Bất cứ ai vi phạm các quyền này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/10/2022 với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, điều này khẳng định sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam được quốc tế công nhận nên RFA không thể xuyên tạc, phủ nhận. Còn cái mà chúng đòi kêu gọi thành lập “Cơ quan nhân quyền quốc gia” hay “Công đoàn độc lập” ở Việt Nam, thực chất đây là cái cớ để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động đối lập với các cơ quan của hệ thống chính trị nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Có thể thấy, cả phương diện chính sách, pháp luật cũng như thực tiễn về bảo đảm thực hiện nhân quyền ở Việt Nam đã chững minh rõ ràng và dứt khoát rằng, quyền con người, quyền công dân luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta xác định, không một ai có quyền xâm phạm các quyền đó của công dân Việt Nam. Việc các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề nhân quyền để bôi nhọ, xuyên tạc chế độ chính trị ở Việt Nam là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm, của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh, vạch rõ bộ mặt xảo trá của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác./.

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

NVH41 - Đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc về ý nghĩa lịch sử đại thắng mùa xuân năm 1975 và bản chất cuộc kháng chiến chồng mỹ cứu nước. của dân tộc ta.`

             Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng cứ mỗi dịp 30/4, khi nhân dân cả nước kỷ niệm, ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tái diễn điệp khúc xuyên tạc về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975 cũng như bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại - ngày hội thống nhất non sông, Bắc Nam một dải. Đó là thắng lợi vẻ vang của toàn thể dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh bại những thế lực thực dân, đế quốc hùng mạnh. Vẫn luận điệu cũ, một bộ phận người Việt vốn từng ở bên kia chiến tuyến trở lại điệp khúc ta thán về cái gọi là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen”, “ngày tắm máu”…

Vì cho đến hôm nay, họ vẫn không nhìn thẳng để công nhận một sự thật lịch sử, đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, là cuộc chiến tranh vệ quốc, bảo vệ giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông. Gần nửa thế kỷ hòa bình, xây dựng đất nước ngày càng thịnh vượng, phát triển, dân tộc ta với tinh thần hòa hiếu gác lại quá khứ chứ không bao giờ phủ nhận, lãng quên quá khứ. 

Di chứng, hậu quả chiến tranh, sự hy sinh, mất mát sau chừng ấy năm chiến tranh kết thúc thì ở nhiều làng mạc, thôn xóm vẫn còn hiện hữu.

Để làm nên chiến thắng đó, quân và dân Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, làm nên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đi đến thắng lợi cuối cùng, non sông Việt Nam thu về một mối. Đó là thắng lợi to lớn, toàn diện và triệt để của 30 năm chiến tranh giải phóng, một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc ta. Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là sự kế tục và phát triển cao độ thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và của cuộc kháng chiến chống Pháp, là thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đó là chiến thắng không thể phủ định và để có chiến thắng đó, nhân dân ta đã phải chiến đấu trường kỳ, hy sinh biết bao xương máu.

Thế nhưng, các thế lực thù địch vẫn không nhìn thẳng vào sự thật, luôn cố tình đánh tráo, xuyên tạc bản chất, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975. Những ngày gần đây, chúng đăng tải nhiều bài viết, video, hình ảnh sai lệch, xuyên tạc trên Internet, các trang mạng xã hội, tìm cách phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân cả nước. Hàng trăm bài viết kèm các hình ảnh phản cảm dưới tiêu đề “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” được chia sẻ, lan truyền trên mạng xã hội để hướng lái dư luận, đánh tráo bản chất chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Cùng với đó, chúng ca ngợi chế độ dân chủ, tự do và kinh tế phát triển dưới thời chính quyền Sài Gòn; đòi vinh danh chế độ Việt Nam Cộng hòa, thậm chí có ý kiến còn đòi chia đôi lại đất nước giống như trước năm 1975. Từ đó, các đối tượng phủ định ý nghĩa Chiến thắng 30/4/1975, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng; bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động hận thù, ly khai; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân; làm giảm ý chí quyết tâm, đóng góp xây dựng đất nước của nhân dân, trong đó có đồng bào ta sống xa Tổ quốc; cố tình đả kích, phủ nhận chính sách và nỗ lực hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta… Nhiều bài viết với nội dung sai trái, tiêu cực được đăng tải trên Internet như: “Tháng tư vẫn là một kỷ niệm đau buồn cho những người ly hương vì mất nước”;  “tháng tư là tháng vo gạo bằng nước mắt”; “tháng tư là tháng tưởng nhớ những người lính Việt Nam Cộng hòa bị những người lính cộng sản giết một cách man rợ”; “mỗi năm đến ngày 30/4 thì vết thương lại nhức nhối trong lòng”; “tháng tư quốc hận, xin nghiêng mình tưởng niệm những nạn nhân đã ra đi không đến bến bờ và xin ngưỡng mộ những người đã bỏ hết những gì có được, ra đi để lập lại cuộc đời trên đất nước tự do”… 

Không dừng ở việc xuyên tạc trên mạng xã hội mà số đối tượng chống đối mới đây còn xây dựng một bộ phim được gọi là “Cảm tình viên” (The Sympathizer) được quay tại Thái Lan, tái hiện lại Việt Nam thời kỳ trước năm 1975. Nội dung kể về hành trình của một người tình báo cộng sản nằm vùng trong bộ máy nguỵ quân, sau ngày giải phóng tiếp tục hoạt động tình báo, sau đó theo đám phản động lưu vong về nước. Nhân vật này có sự thay đổi nhận thức khi vào trong trại cải tạo, lung lạc tinh thần và cuối cùng trốn chạy sang Mỹ vì cho rằng chỉ có tư tưởng của Mỹ mới tiến bộ, nhân văn. Với nội dung xuyên tạc như vậy, bộ phim được công chiếu ngay sát thời điểm kỷ niệm chiến thắng 30/4, với ý đồ tiêu cực, xuyên tạc chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Chúng còn tổ chức những buổi hòa nhạc kệch cỡm, kêu gọi ủng hộ “ngày quốc hận”, tổ chức tưởng nhớ những người lính Việt Nam Cộng hòa, phủ nhận toàn bộ công lao của quân và dân ta…

Biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người

Ngày 30/4/1975 không phải là “ngày quốc hận” mà là ngày quốc gia độc lập, thống nhất non sông, ngày mở ra một trang sử mới hào hùng cho dân tộc Việt Nam. Đó là khát vọng của nhân dân cả nước, thống nhất Bắc – Nam để chung sức đồng lòng xây dựng giang sơn gấm vóc. Vì vậy, nói ngày 30/4/1975 là “ngày quốc hận”, “tháng tư đen” thể hiện suy nghĩ thù hận, bóp méo bản chất, ý nghĩa thiêng liêng của ngày thống nhất non sông, quan điểm đó đi ngược lại với dòng chảy của lịch sử.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của quân và dân ta. Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam - Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã cho quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng suốt 21 năm ròng rã. Đến ngày 30/4/1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai mươi năm, dân tộc ta đã đi qua cuộc trường chinh muôn vàn gian khổ, gánh chịu bao mất mát, hy sinh để giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Đấy là chân lý thời đại, là cái "dĩ bất biến" của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt xung đột.

Thắng lợi đó khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; một biểu tượng sáng ngời của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế, cũng chính là chiến thắng của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã trải qua hơn 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng đúc kết những kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học xác định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam; phát huy sức mạnh thời đại; vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng, phương thức tiến hành chiến tranh toàn dân và nghệ thuật quân sự chiến tranh toàn dân, xây dựng và phát triển lý luận chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam. Bài học về sự chủ động, nhạy bén, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược chiến tranh cách mạng và nghệ thuật nắm bắt thời cơ, giành những thắng lợi quyết định. Đồng thời, phải luôn luôn chú trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mọi hoàn cảnh, nâng cao sức chiến đấu và phát huy năng lực lãnh đạo của Đảng.

Lâu nay, chúng ta đón nhận những người từ bên kia chiến tuyến trở về với tinh thần gác lại quá khứ, chung tay xây dựng đất nước. Quan điểm hòa hợp, hòa giải bằng tinh thần bao dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước. Nhưng chung tay hoà hợp không có nghĩa là xoá nhoà lịch sử, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc. Chiến thắng 30/4/1975 là mốc son lịch sử, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhiều nước trên thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh. Mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị đều không thể làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa lịch sử.  

Đại thắng mùa xuân 30/4/1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc to lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc và điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc. Đánh giá tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4, Đại hội lần thứ IV của Đảng ta đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Do đó, mỗi người khi tham gia mạng xã hội cần tỉnh táo, nâng cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật của các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá Đảng, Nhà nước.

````

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...