Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Sức mạnh của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “ngàn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946- ngày toàn quốc kháng chiến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác có sức mạnh rất lớn giúp động viên, lan tỏa tinh thần đấu tranh vì dân tộc.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946.

Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-blô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14/9/1946. Ngày 16/9/1946, Người rời cảng Tu-lông (Pháp) trở về nước. Ngày 16/10, Người gặp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14/9 không được thực hiện ở Nam bộ.

Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946

Tại Bắc bộ, cuối tháng 11/1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân đội thực dân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16/12/1946 như đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17-12-1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông.

Ngày 18/12/1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20/12/1946 quân Pháp sẽ hành động.
Trước tình hình đó, ngày 18 và 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm ! kháng chiến thắng lợi muôn năm.

Hà Nội ngày 19/12/1946.

Hồ Chí Minh”

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đúng như dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau chín năm trường kỳ kháng chiến, năm 1954 - “Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã chứng tỏ sức mạnh của lòng yêu nước phi thường của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh giành lại một nửa Việt Nam hòa bình làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất.

Ba mươi năm sau vào mùa Xuân 30/4/1975, đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm cờ chiến thắng lên nóc Dinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, Bắc - Nam thống nhất, sum họp một nhà.

Có thể nói, ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

Kỷ niệm 71 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhanh chóng đưa đất nước bước ra khỏi tình trạng tham nhũng, lãng phí, nghèo nàn lạc hậu, phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Giá trị lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cách đây 71 năm, để bảo vệ nền độc lập, tự do cho đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đó là lời hịch non sông, kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết, đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Thời gian đã lùi xa, nhưng lời hiệu triệu đó vẫn còn nguyên giá trị.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, rồi từng bước mở rộng đánh chiếm Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Vừa chỉ đạo quân dân miền Nam chiến đấu chống quân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán, nhân nhượng để tìm kiếm giải pháp hòa bình. Nhưng mọi cố gắng của ta đều bị thực dân Pháp khước từ. Với trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 12-12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn quốc kháng chiến; ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đó là văn kiện chính trị quan trọng, có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc.

Giá trị lịch sử

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến khẳng định khát vọng hòa bình, ý chí và quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Trong dòng chảy liên tục của lịch sử dựng nước và giữ nước, mong muốn hòa bình để dựng xây đất nước là khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam. Mở đầu Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.. Khát vọng hòa bình của nhân dân ta sẽ không bao giờ có được khi kẻ thù có dã tâm xâm lược nước ta. Cho nên, Người khẳng định rõ ý chí, quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong bảo vệ nền độc lập, tự do - thành quả của Cách mạng Tháng Tám vừa giành được: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời khẳng định đó là sự kết tinh của truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là sự tiếp nối ý chí và quyết tâm “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập” đã được Người khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập.

Đây là lời hịch cứu nước, có tác dụng cổ vũ, thôi thúc và động viên toàn dân nhất tề đứng lên đánh giặc. Để huy động sức mạnh, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Lời hiệu triệu của Người là tiếng gọi thiêng liêng của non sông, đất nước, thôi thúc cả dân tộc bước vào cuộc chiến đấu mới.

Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên kháng chiến với ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tại Hà Nội, sau hiệu lệnh nổ súng, Vệ quốc đoàn và Tự vệ đồng loạt tiến công các mục tiêu trong trung tâm Thành phố. Phối hợp với bộ đội, các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp chặn địch. Cùng với quân, dân Thủ đô, quân và dân các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra, như: Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang,... cũng nổ súng tiến công giam chân địch trong các thành phố, thị xã, giành được thắng lợi bước đầu. Ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, lực lượng vũ trang và nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kế hoạch bình định, kiềm chế không cho địch đưa lực lượng chi viện cho Trung Bộ và Bắc Bộ. Cuộc chiến đấu quyết liệt, anh dũng của quân và dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã giành được những thắng lợi quan trọng, làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp. Như vậy, Lời kêu gọi đã hiệu triệu, động viên và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của toàn dân tộc để chúng ta làm nên những thắng lợi bước đầu, tạo nền tảng cho những chiến công oanh liệt về sau, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc.

Lời kêu gọi đã phác họa những nét cơ bản về đường lối chống thực dân Pháp, góp phần chỉ đạo, định hướng cho cuộc kháng chiến giành thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ trong tương quan lực lượng có lợi cho địch. Để giành thắng lợi, chúng ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều. Nắm chắc vấn đề đó, với tầm nhìn thấu suốt, nên trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ những nét cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp: toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh. Người chỉ rõ lực lượng tham gia kháng chiến là toàn dân tộc, bao gồm mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không phân biệt tôn giáo, đảng phái; đánh Pháp bằng bất cứ thứ vũ khí gì có thể; đồng thời, Người cũng chỉ rõ cuộc chiến sẽ rất gian lao, lâu dài, phải trải qua gian khổ, hy sinh, nhưng thắng lợi cuối cùng “nhất định về dân tộc ta”.

Như vậy, trong khuôn khổ ngắn gọn, nhưng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện quan trọng, mang tính chỉ đạo không chỉ trong những ngày đầu, mà còn có tác dụng định hướng cho sự phát triển của cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như về sau. Trên cơ sở tư tưởng đó, kết hợp với hoạt động thực tiễn, Đảng ta từng bước hoàn chỉnh thành đường lối, chỉ đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi.

Giá trị hiện thực

Bảy mươi năm đã trôi qua, lời hịch thiêng liêng kêu gọi toàn dân tộc đoàn kết, đứng lên chiến đấu, giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ đã để lại những bài bài học sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “… tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân và Đảng, Nhà nước tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Theo đó, để thực hiện thành công mục tiêu trên, tạo sức mạnh to lớn cho công cuộc đổi mới, chúng ta cần quán triệt và từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, coi đó là điểm tương đồng để thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn xã hội. Đồng thời, thực hiện đoàn kết mọi tầng lớp, lực lượng trong xã hội, trên nền tảng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; giải quyết hài hòa các lợi ích làm cơ sở cho sự ổn định, đoàn kết và thống nhất. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, kiên quyết đấu tranh có hiệu quả bệnh quan liêu, tham nhũng, tạo lòng tin trong nhân dân.

Cùng với đó, cần nêu cao tinh thần chủ động, cảnh giác cách mạng, kiên quyết giữ vững hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay chịu tác động sâu sắc từ những biến động mạnh mẽ và phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên nhiều lĩnh vực, lại được che dấu trong các quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, v.v. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với chúng ta là phải luôn chủ động, tỉnh táo, cảnh giác, kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa hợp tác với đấu tranh vì lợi ích cao nhất của đất nước. Phải phát huy sức mạnh tổng hợp, thế và lực để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột chiến tranh, kịp thời đối phó với những tình huống gây “đột biến”, cần có kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi. Có như vậy mới giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định, góp phần tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đồng thời, Lời kêu gọi còn là bài học sâu sắc đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân trước hết được xây dựng vì mục đích hòa bình, giữ gìn sự ổn định để phát triển đất nước. Tư tưởng đó được kế thừa trong lịch sử dân tộc và được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Để có được hòa bình, “chúng ta phải nhân nhượng” và quyết “hy sinh tất cả” để bảo vệ độc lập khi Tổ quốc lâm nguy. Trong giai đoạn hiện nay, tinh thần đó tiếp tục gợi mở về những biện pháp linh hoạt, mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần phải biết giữ vững nguyên tắc chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm “thêm bạn, bớt thù”, tránh được các xung đột và chiến tranh, thực hiện hòa nhập nhưng không “hòa tan” trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận; trong đó, chú trọng xây dựng tiềm lực về chính trị, tinh thần, phát huy nhân tố con người là yếu tố quyết định.


Tiếp nối hào khí của bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” thời Lý, “Hịch tướng sĩ” thời Trần, “Bình Ngô đại cáo” thời Lê Sơ,... Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là một áng hùng văn bất hủ, chứa đựng những giá trị và tư tưởng mang tính thời đại, là lời hịch động viên cả nước đứng lên chiến đấu bằng thái độ kiên định và dứt khoát. Lời kêu gọi còn là bản cương lĩnh kháng chiến có tính khái quát cao, chứa đựng những quan điểm về đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc và khẳng định niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Những tư tưởng cơ bản đó cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong giai đoạn mới của cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến - lời hịch của non sông

Đã 71 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 - 19/12/2017), nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin vững bền về con đường cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, toàn thể quốc dân đồng bào đã nhất tề đứng dậy chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước trước lời hiệu triệu sục sôi hào khí “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “nghìn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946 - Ngày toàn quốc kháng chiến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-blô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tu-lông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Tại Bắc Bộ, cuối tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân đội thực dân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16-12-1946 như đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17-12-1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Ngày 18-12-1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô  Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946 quân Pháp sẽ hành động.

Trước tình hình đó, ngày 18 và 19-12-1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm ! kháng chiến thắng lợi muôn năm.

Hà Nội ngày 19/12/1946.

 Hồ Chí Minh”

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đúng như dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau chín năm vào năm 1954 - “Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã chứng tỏ sức mạnh của lòng yêu nước phi thường của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh dành lại một nửa Việt Nam hòa bình làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất. Ba mươi năm sau vào mùa Xuân 30/4/1975, đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm cờ chiến thắng lên nóc Đinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập tự do cho dân tộc, Bắc - Nam thống nhất, sum họp một nhà.

Có thể nói, ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

71 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin tất thắng, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh sẽ ngày càng khẳng định thế và lực quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.


Kỷ niệm 71 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhanh chóng đưa đất nước bước ra khỏi tình trạng tham nhũng, lãng phí, nghèo nàn lạc hậu, phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Bài học lịch sử 'Toàn quốc kháng chiến 19.12.1946' vẫn còn nguyên giá trị

Trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh khốc liệt đang đến gần, trước những thách thức tồn vong của quốc gia, dân tộc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã tận dụng mọi khả năng có thể để cứu vãn hòa bình, trong đó có việc đẩy nhanh những cuộc tiếp xúc với đại diện quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại Hà Nội. Phía Việt Nam đã đồng ý cho một số chức sắc Việt thuộc các đảng phái dưới ảnh hưởng của Trung Hoa Dân Quốc nắm giữ một số chức vụ trong Chính phủ. VNDCCH còn nhượng bộ về kinh tế, chấp thuận cho quân đội Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc mua 2/3 số lương thực chuyển từ miền Nam ra...

Song song với đó, Chính phủ VNDCCH tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn, nhất là hai nước Anh và Mỹ. Cùng chung ý thức hệ, ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Chính phủ VNDCCH tìm mọi cách liên lạc với Liên Xô. Để giành ủng hộ của Mỹ và các nước phương Tây khác, tháng 11.1945, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định tự giải tán, nhằm “phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà”.

Đối với nước Pháp, ngay sau ngày Việt Nam giành độc lập, VNDCCH đã tích cực và thiện chí tìm kiếm giải pháp thương lượng nhằm giải quyết quan hệ Việt - Pháp, luôn bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ thân thiện giữa hai nước Việt Nam và Pháp; khẳng định sẵn sàng tôn trọng những quyền lợi kinh tế, văn hóa, quân sự của Pháp trên đất Việt Nam. Một trong những cố gắng nhằm vãn hồi hòa bình quan trọng của Chính phủ VNDCCH là chuyến thăm nước Pháp kéo dài hơn 4 tháng (từ 31.5 - 20.10.1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, mọi nỗ lực vãn hồi hòa bình của VNDCCH vẫn không vượt qua được dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Giới thực dân hiếu chiến quyết áp đặt lại ách thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Trước tình hình đó, ngày 18 và 19.12.1946, Ban Thường vụ T.Ư Đảng CSĐD họp Hội nghị, quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Việc bỏ qua cơ hội lịch sử thiết lập những quan hệ hợp tác bình đẳng giữa Pháp và Việt Nam, Chính phủ Pháp đã làm vỡ tan hy vọng cuối cùng về một nền hoà bình ở Đông Dương, đẩy những người lính Pháp vào cuộc chiến vô nghĩa.
“Cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở những năm tháng đó có giá trị thức tỉnh và soi rọi cho không chỉ cho những ngày đã qua mà còn cho hiện tại nóng bỏng hôm nay, khi những thách thức và cơ hội, những khả năng hợp tác, đấu tranh luôn thường trực và đan xen nhau. Nó nhắc nhở ta nhìn về lịch sử để càng thêm trân quý hòa bình”,

Cuộc chiến tranh đã bắt đầu như thế nào?

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Pháp chịu hậu quả nặng nề với hơn 3 triệu người chết, bị thương và bị bắt; hàng trăm nghìn ngôi nhà, công trình kiến trúc bị phá hủy; nhiều tuyến giao thông tê liệt... ngân sách thiếu hụt 55%. Pháp cần lượng vật chất lớn để khôi phục đất nước sau chiến tranh. Tăng cường vơ vét ở thuộc địa để bù vào lỗ hổng về ngân sách là yêu cầu thật sự bức thiết. Với mưu đồ trên, Pháp ráo riết chuẩn bị cho việc xâm lược trở lại Đông Dương.

Một số tác giả nước ngoài đổ lỗi cho Việt Nam tiến công trước, “đánh trước”, là bên “gây chiến”. Thực tế, luận điểm này là hệ quả của việc (vô tình hoặc hữu ý) đã cắt rời diễn trình lịch sử khi chỉ tập trung vào thời điểm cuối năm 1946 và chú ý hiện tượng, chưa đi sâu vào bản chất sự việc để nghiên cứu.

Trong cuốn sách Việt Nam 1946 - chiến tranh bắt đầu như thế nào? (2008), nhà nghiên cứu Stein Tonnesson (Na Uy) đã phơi bày thái độ của các nhà chức trách Pháp tại Đông Dương quyết tâm chà đạp lên chủ quyền của nước VNDCCH, từ chối đề nghị đàm phán và cố tình dồn Việt Nam vào chân tường. Ý đồ đen tối của họ là muốn phía Việt Nam nổi giận, tạo cho giới chức Pháp tại Đông Dương cái cớ mà họ cần để kéo nước Pháp vào chiến tranh.

Việc chủ động mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc kháng Pháp cách đây 71 năm thể hiện ý chí kiên quyết bảo vệ độc lập tự do của toàn dân tộc, phản ánh trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần sẵn sàng cứu nước của quân và dân ta; thể hiện sự nhạy bén cách mạng của T.Ư Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sớm phát hiện nguy cơ chiến tranh, xác định quyết tâm kháng chiến đi đôi với thái độ thiện chí kiên trì giữ gìn hòa bình, lãnh đạo/chỉ đạo quân và dân cả nước chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc chiến.

Toàn quốc kháng chiến và bài học lịch sử

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đem lại nền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam - thành quả mà nhân dân ta đã phải đổ biết bao xương máu mới giành lại được. Tuy vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, giới cầm quyền hiếu chiến Pháp được sự đồng lõa, tiếp tay của các đế quốc đồng minh đã rắp tâm xâm lược nước ta một lần nữa; đơn phương xóa bỏ mọi cam kết, không thi hành Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946, tăng cường các hoạt động quân sự, nhằm phá hoại nền hòa bình của nhân dân ta.

Với tinh thần yêu chuộng hòa bình, mong muốn giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng, kiềm chế, đàm phán với chính quyền Pháp, nhằm tránh cuộc chiến tranh xảy ra nhưng không thành công. “Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Trước tình hình đó, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Người chỉ rõ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Hưởng ứng lời hiệu triệu của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc bằng những loạt đại bác từ pháo đài Láng bắn vào các mục tiêu trong thành phố, chính thức bước vào cuộc chiến đấu, với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Trên khắp các địa phương từ Bắc vào Nam, quân và dân cả nước đã anh dũng, đồng loạt đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân và dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền của 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Thành công của Toàn quốc kháng chiến và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là yếu tố quan trọng, tạo tiền đề cho thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài liên tục suốt 30 năm của quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng.


70 năm đã trôi qua, nhưng sự kiện mở đầu Toàn quốc kháng chiến vẫn mãi là biểu tượng sáng ngời của ý chí kiên cường, lòng quả cảm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của nhân dân ta, của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sự lựa chọn của lịch sử

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, toàn thể quốc dân đồng bào đã nhất tề đứng dậy chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước trước lời hiệu triệu sục sôi hào khí “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “nghìn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946 - Ngày toàn quốc kháng chiến.

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”. Đã 71 năm trôi qua, nhưng hào khí của Lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam, mãi mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin mãnh liệt về con đường cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Sau cách mạng tháng tám 1945, thực dân Pháp tìm mọi cách thực hiện dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Bội ước hiệp định sơ bộ 6/3/1945 và thoả ước 19/4/1945, thực dân Pháp ráo riết tăng cường lực lượng và đến tháng 11/1946, số quân của chúng đã lên tới 10 vạn. Chúng lần lượt cho quân đổ bộ trái phép vào Đà Nẵng, Đồ Sơn, Cát Bà đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và chuẩn bị kế hoạch đánh vào cơ quan đầu não của ta ở thủ đô Hà Nội.

Ngày 18 và 19/12/1946, hội nghị mở rộng Ban chấp hành Trung Ương Đảng họp khẩn cấp ở Vạn Phúc, Hà Đông quyết định phát động cả nước kháng chiến và chỉ ra đường lối kháng chiến lâu dài.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Có thể nói, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

71 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc.

Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin tất thắng, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh sẽ ngày càng khẳng định thế và lực quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.


Kỷ niệm 71 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

Chiến thắng của tinh thần Quyết chiến, Quyết thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do

Hướng tới kỷ niệm 45 năm chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta cùng ôn lại những diễn biến chính của trận đánh 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Trong 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến ngày 29/12/1972 quân và dân Miền Bắc đã giành chiến thắng vang dội trên bầu trời Hà Nội đó là trận Điện Biên Phủ trên không, như lời của Đại tướng – vị Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã viết: “Đó chính là chiến thắng của tinh thần Quyết chiến, Quyết thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, của tinh thần thông minh và trí sáng tạo của con người Việt Nam đối với khối lượng sắt thép và Đôla khổng lồ của Đế quốc Mỹ, con người đã chiến thắng vũ khí, chí nhân đã thắng hung tàn, chính nghĩa đã thắng phi nghĩa”.

Chúng ta phải khẳng định chiến dịch Điện Biên Phủ trên không là một cuộc chiến tranh có tính chất vô cùng ác liệt từ trước đến nay ở Việt Nam – một cuộc tập kích quy mô lớn nhất của Không quân Mỹ vào Hà Nội - Hải Phòng và một số thành phố khác, chiến dịch được mang tên “Lai Nơ Bếch Cơ II” (Tạm dịch là “Tiền vệ” hay “Cứu bóng trước khung thành”).

Một bên là những vũ khí thiết bị tối tân nhất, ứng dụng những khoa học công nghệ quân sự tiến bộ nhất phục vụ cho mục đích xâm lược với 193 chiếc B52, bằng gần một nửa số máy bay B52 của toàn nước Mỹ và 1077 chiếc máy bay chiến thuật, 1/4 tàu sân bay của toàn nước Mỹ. Một bên là các loại vũ khí thô sơ, cũ kỹ trong khi phải thực hiện nhiều nhiệm vụ ở nhiều nơi trong cả nước, lực lượng PK – KQ lúc đó bảo vệ Thủ đô Hà Nội chỉ có 5 Trung đoàn Tên lửa, 6 Trung đoàn Pháo cao rải ở các Quân khu có 15 Trung đoàn, máy bay Míc-21 có 2 Trung đoàn, Ra đa cảnh giới, dẫn đường có 4 Trung đoàn rải ra khắp Miền Bắc.

Trong cuộc chiến này, kẻ địch đã dùng âm mưu là sử dụng B52 – Siêu Pháo đài bay để ném bom chiến lược. Với tính năng hiện đại tối tân nhất, Đế quốc Mỹ đưa ra con ngáo ộp B52 để hăm dọa Việt Nam và thế giới, chúng coi đó là siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm, là uy lực và là vũ khí chiến lược của Không lực Hoa Kỳ, là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp quân sự hàng đầu thế giới.
Đứng trước sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, vật chất kinh tế, quân sự, cả thế giới hướng về Hà Nội, bạn bè khắp năm châu lo lắng nhìn về Hà Nội, Đế quốc Mỹ thì huênh hoang: “Giờ đây không quân Mỹ có thể ném bom vào bất cứ chỗ nào trên lãnh thổ Bắc Việt Nam như đi dạo chơi vào chỗ trống”

Để chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn của Đế quốc Mỹ, quân và dân ta mà nòng cốt là Quân chủng PK – KQ ngày đêm nghiên cứu tìm hiểu cách đánh B52 với khẩu hiệu: “Vạch nhiễu tìm thù”, sau nhiều nỗ lực với mồ hôi và xương máu của cán bộ, chiến sỹ Quân chủng PK – KQ, cuốn cẩm nang bìa đỏ có tên “Cách đánh B52 của Bộ đội Tên lửa” được ra đời. Với trí thông minh, sáng tạo của bộ đội PK – KQ Anh hùng trong cuộc đấu trí “Kỹ thuật với kỹ thuật, trí tuệ với trí tuệ”, khắc phục nhiễu B52 để bắn trúng, chiến đấu bên cạnh bộ đội PK – KQ là lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân Hà Nội và cả nước đã bày ra thiên la, địa võng dồn hờn căm lên nòng súng chờ giặc tới là diệt.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 chiếc B52, có 16 chiếc rơi tại chỗ. Tổn thất 17%, con quỷ giữ - Bộ máy giết người không chịu đựng được nữa cố gồng mình lên rồi gục ngã. Cả thế giới phải khâm phục tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của dân tộc Việt Nam. Tổng thống Mỹ Ních-Xơn và mưu sỹ Kít- Xinh- Giơ từ  tráo trở lật lọng, dọa dẫm nay phải xuống giọng chấp nhận ngồi vào đàm phán, ngày 27/01/1973 Mỹ phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Bên cạnh những chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta, chúng ta không thể nào quên tội ác tày trời mà không quân Hoa Kỳ đã gây ra. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B52, 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội – Hải Phòng và một số nơi khác, hơn 100 ngàn tấn bom, đạn. Chúng đã phá huỷ 5.480 ngôi nhà, 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.455 người khác. Những đau thương, tang tóc diễn ra dưới làn bom B52 của Mỹ càng làm tăng thêm nỗi đau, lòng căm thù của dân tộc Việt Nam, cả thế giới và cả chính những người dân Mỹ phải lên án những hành động dã man của Không quân Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam.

Để làm nên chiến thắng vẻ vang: “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, nhân tố đầu tiên đó là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chỉ đạo năng động, sáng tạo, đúng đắn của Bộ Chính trị, Quân uỷ TW, Bộ Quốc phòng, sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực cố gắng, tinh thần dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo, lòng kiên cường của cán bộ, chiến sỹ Quân chủng PK – KQ và thế trận phòng không nhân dân.

Thắng lợi của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972 là thắng lợi của ý trí quyết đánh và quyết thắng của quân và dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sức mạnh tuyệt vời của con người Việt Nam, làm phong phú thêm truyền thống yêu nước và văn hoá giữ nước của dân tộc.


Điện Biên Phủ trên không- trận quyết chiến chiến lược vĩ đại đã để lại cho thế hệ chúng ta hôm nay và mai sau bài học vô giá về phát huy sức mạnh của ý chí, quyết tâm, trí tuệ sáng tạo của Việt Nam; phát huy sức mạnh tổng hợp để giành chiến thắng, khẳng định một lần nữa về sự tất thắng của đường lối Quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, phòng không nhân dân. 

Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm từ chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”(12/1972 - 12/2017)

Với sự kiện 12 ngày đêm tháng 12/1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, buộc chúng phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Với những ý nghĩa lịch sử to lớn và nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết để vận dụng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay như:

Về ý nghĩa đối với dân tộc

Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” đã thể hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn của Đảng ta, của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chế độ XHCN ưu việt của nhân dân ta. Đó là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc, là ý chí quyết đánh, dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bằng tất cả sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn. Đó là chiến thắng của sự kế thừa và phát huy truyền thống quân sự Việt Nam, của đường lối chiến tranh nhân dân.

“Điện Biên phủ trên không” là trận quyết chiến có ý nghĩa chiến lược, góp phần tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta, để chúng ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” mãi mãi trở thành dấu son chói lọi trong truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Chiến thắng mang ý nghĩa thời đại sâu sắc

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được thôi thúc bởi ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của cả dân tộc, sự cổ vũ những chiến công to lớn của quân và dân miền Nam đánh bại sức mạnh quân sự của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ, mở đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam; đem lại lòng tin cho nhân loại tiến bộ trên trái đất đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh sức sống của học thuyết Mác - Lê nin về chiến tranh cách mạng trong thời đại ngày nay và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam.

Về những bài học kinh nghiệm

Phát huy nhân tố chính trị tinh thần, tăng cường sức mạnh, ý chí chiến đấu, tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng của quân và dân ta. Nhân tố chính trị tinh thần đó được bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng, từ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, lòng yêu Tổ quốc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, từ truyền thống của dân tộc và ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta. Nhân tố đó được thể hiện trong lời dạy của Hồ Chủ tịch ngay từ khi đế quốc Mỹ sử dụng B.52 trên chiến trường Việt Nam:“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay B gì đi chăng nữa ta cũng đánh... Mà đã đánh là nhất định thắng”. Vận dụng sáng tạo những bài học cơ bản đó trong điều kiện, hoàn cảnh mới là một đảm bảo quan trọng để trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn xứng đáng là lực lượng chính trị trung thành, lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Linh hoạt, sáng tạo trong xây dựng thế trận và sử dụng lực lượng. Quân và dân ta đã xây dựng được một thế trận phòng không hết sức sáng tạo và độc đáo, đó là thế trận cài xen kẽ trong chiến đấu phòng không, là thế trận hết sức hiểm hóc của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cũng chính là chiến thắng của nghệ thuật sử dụng lực lượng, bày binh, bố trận, cơ động tác chiến, theo một ý định cách đánh sáng tạo của quân và dân ta.


Phát huy sức mạnh tổng hợp. Chúng ta đã rất thành công trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân, tạo nên hệ thống hoả lực phòng không rộng khắp, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù. Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; là sự giúp đỡ, ủng hộ của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em; của các lực lượng cách mạng, dân chủ hoà bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Tất cả các lực lượng đó đã tạo thành sức mạnh tổng hợp để quân và dân ta làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Mưu đồ thâm độc của đế quốc Mỹ trong tháng 12 năm 1972

Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược dài hơn 20 năm của dân tộc ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn, kết thúc bằng đại thắng mùa Xuân 1975. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, mất mát và hy sinh, đồng thời cũng đã lập nên biết bao chiến công hiển hách. "Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến công như thế.

Sau bốn năm rưỡi thương lượng vòng vo ở Hội nghị Pa-ri, Mỹ vẫn toan tính dùng “con ngáo ộp” B52 trong “canh bạc cuối cùng” trên bầu trời Hà Nội. Đúng như dự đoán của Bác Hồ “Mỹ nhất định sẽ thua nhưng chúng chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội...”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tham mưu dự kiến trước cho những phương án đánh B52.

Vào tháng 10 năm 1972, lẽ ra giữa ta và Mỹ đã đi tới một hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như đã thỏa thuận, nhưng phía Mỹ đã bội ước, Mỹ đã đưa máy bay chiến lược “pháo đài bay” B.52, máy bay cường kích chiến thuật “tàng hình - cánh cụp cánh xòe” F111A hiện đại nhất của Không lực Mỹ, cùng hàng trăm máy bay tiêm kích các loại khác chúng mang hàng chục ngàn tấn bom hủy diệt Thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận nhằm “đưa miền Bắc VN về thời kỳ đồ đá”.

Mưu đồ của Tổng thống Ních-xơn và tập đoàn hiếu chiến Mỹ là dùng sức mạnh của B52, con chủ bài cuối cùng, để ép ta trên bàn đàm phán, hòng buộc ta phải chấp nhận những điều kiện áp đặt của họ.

Nhưng, cuộc tập kích chiến lược ồ ạt và tàn bạo bằng B52 của Mỹ đã thất bại hoàn toàn, buộc Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt không điều kiện cuộc tập kích, phải chịu thua trên bầu trời Hà Nội, để rồi sau đó buộc phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

 Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B- 52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày, đêm đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B- 52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt trong suốt 8 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đây là cuộc đọ sức quyết liệt nhất từ trước tới nay. Nghệ thuật tác chiến phòng không hiệp đồng chiến đấu, quân binh chủng của bộ đội ta đã chứng tỏ sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không ba thứ quân mà nòng cốt là bộ đội Phòng không - Không quân.

Hiệp định Pa-ri đã được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết sẽ không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước...

Hà Nội, với danh hiệu “Thủ đô của lương tri loài người”, quân và dân Hà Nội đã đồng lòng, hiệp sức, kiên cường, dũng cảm bảo vệ vùng đất, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

Nhân dân thế giới và cả nước Mỹ bàng hoàng khi chứng kiến sự thảm bại của “uy lực Mỹ” - B.52, bị bắn rơi tại Thủ đô nhỏ bé của đất nước bé nhỏ bên bờ Thái Bình Dương.

Những “niềm tự hào” của nước Mỹ, những “quân nhân ưu tú” trong lực lượng không quân chiến lược, những phi công “pháo đài bay” đầy kiêu hãnh, là niềm mơ ước, thần tượng của các phi công Mỹ khác, nay khiếp sợ cúi đầu run rẩy thốt lên trong ánh mắt còn vương nỗi kinh hoàng khi trả lời các phóng viên báo chí: "sợ lắm”, “rất sợ”, “thật khủng khiếp”, “tôi không ngờ hỏa lực phòng không của Hà Nội mạnh và bắn chính xác đến thế”…

Romesh Chandra, Tổng Thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới: Việt Nam đồng nghĩa với sự vinh quang, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Mỗi lần đứng bên cạnh hố bom do Mỹ rải xuống Việt Nam, chúng tôi đều nhận ra rằng, nhân dân Việt Nam không phải hy sinh chỉ vì Việt Nam mà cả vì chúng tôi.

Hãng Reuters cũng đưa tin: Tọa độ lửa Hà Nội là lò sát sinh B.52 và người lái B.52. Nếu cứ đánh tiếp theo đà này thì trong 2 tháng nữa B.52 sẽ tuyệt chủng. Họ còn nói: Xưa và nay chưa từng có một dân tộc nào nhỏ mà lại có trọng lượng lớn như vậy đối với lịch sử nhân loại.

Tờ báo danh tiếng Europa, Jaque Madol: Việt Nam sẽ thắng! Không một kẻ thù nào tiêu diệt được một dân tộc vĩ đại như Việt Nam. Nếu dân tộc này đầu hàng thì cả nhân loại sẽ bị sụp đổ.

Chính John Negro, chuyên viên của Kissinger thừa nhận: "Chúng ta ném bom Bắc Việt Nam để rồi chúng ta chấp nhận thua".

Còn ở trong nước Đài Phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng Sài Gòn - Gia Định, truyền trên sóng những lời “chia lửa”: Sài Gòn gửi Hà Nội: ”… Lửa miền Bắc đã khêu lửa miền Nam, lửa Hà Nội đang giục lửa Sài Gòn và từ ngoài vô trong, từ hậu phương lớn bất khuất đến tiền tuyến lớn anh hùng đang lên tiếng trả lời đanh thép: Đánh! Lửa thiêu cháy pháo đài bay B.52, lửa đốt cháy kho bom thành Tuy Hạ, chụp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, lửa thiêu hàng mảng lớn cơ đồ “bình định” của Mỹ - Thiệu. Lửa chiến đấu của quân và dân ta ở cả 2 miền Nam - Bắc đang ngày càng cao ngọn. Và đó là tốt nhất để trả lời Nixon và bè lũ…"

"Mỹ đã cút" tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhân dân ta tiến lên đánh cho "ngụy nhào". Miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không phải chỉ riêng của Việt Nam mà của cả loài người tiến bộ. Bởi đế quốc Mỹ đem B52 giội bom xuống Hà Nội không chỉ nhằm mục đích đè bẹp cuộc kháng chiến ở Việt Nam mà còn nhằm đe dọa cả phong trào cách mạng thế giới. 

Chiến thắng lịch sử - giá trị tương lai

Đã là người dân Việt Nam hẳn mỗi chúng ta không ai có thể quên được những ký ức hào hùng của 12 ngày đêm khói lửa chiến đấu với cuộc tấn công điên cuồng của không quân Mỹ vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng mùa đông năm 1972. Với âm mưu hủy diệt không phải chỉ là những gì dưới mặt đất, bằng bom đạn, mà quan trọng hơn là hủy diệt được ý chí chiến đấu và quyết thắng củadân tộc Việt Nam, nhằm gây sức ép buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện như kẻ bại trận trong một Hiệp định Pa-ri đã được hai bên ký tắt.

Tối ngày 18-12-1972, Ních-xơn bất ngờ khởi động Chiến dịch mang mật danh quân sự là Lai-nơ-bếch-cơ 2 (Linebacker II. Người đứng đầu Nhà Trắng là Tổng thống Ních-xơn khi đó hoàn toàn tin vào chiến thắng cuối cùng thuộc về mình vì vừa mới trúng cử thêm một nhiệm kỳ nữa.

Nhưng tất cả những gì đã diễn ra trong hai tuần cuối cùng của năm 1972 ấy đã làm tổn thất không chỉ là số lượng khí tài mà là uy thế quân sự, đặc biệt là của lực lượng không quân chiến lược Mỹ trước con mắt của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Hà Nội, Hải Phòng và hậu phương miền Bắc vẫn trụ vững sau trận đánh, khí thế quân dân ta vẫn kiên cường và lạc quan hướng tới chặng đường cuối cùng để thực hiện cái nguyên lý của Bác Hồ đã để lại như một cẩm nang cho chiến thắng: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã hoàn thành trọn vẹn chỉ hơn hai năm sau đó (4-1975).

Như chúng ta đều biết, ngày 18/12, từ 19h20 đến 20h18, nhiều tốp máy bay B-52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm... Cuộc chiến đấu ác liệt của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Hà Nội bắt đầu, mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm "Hà Nội Điện Biên Phủ trên không". 20h18, tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa phòng không 261 do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng hai quả đạn, hạ một máy bay B-52 (rơi xuống cánh đồng thuộc Phủ Lỗ và Đông Xuân, giữa tỉnh Vĩnh Phú và Hà Nội, cách trận địa gần 10 km). Đây là chiếc máy bay B-52 G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Đêm cùng ngày, Mỹ huy động 90 lần B-52 ném ba đợt bom xuống Thủ đô Hà Nội. Xen kẽ các đợt này có 8 lần F 111 và 127 lần máy bay cường kích bắn phá các khu vực nội, ngoại thành. Trong đêm đầu tiên Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc Thủ đô Hà Nội. 85 khu vực dân cư bị trúng bom làm chết 300 người.

Ngày và đêm 19/12 4h30, địch ném bom đợt thứ 3 vào các khu vực Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam (Mễ Trì), xã Nhân Chính, nhà máy Cao su Sao Vàng... Các trận địa tên lửa, pháo phòng không với các đơn vị dân quân tự vệ Thủ đô bắn hàng nghì̀n viên đạn các loại tiêu diệt một máy bay F4. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn Tên lửa 257 bắn rơi tại chỗ một máy bay B-52 D. Đêm 18 rạng ngày 19/12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đến một số đơn vị phòng không - không quân và khu vực Đông Anh, Yên Viên nơi vừa bị B-52 ném bom, động viên thăm hỏi bộ đội và nhân dân Thủ đô.

Ngày 20/12 Từ 19h đến sáng 21/12, địch huy động 78 lần B-52 ném bom Hà Nội và hơn 100 lần máy bay cường kích các loại vào đánh phá nội, ngoại thành Hà Nội. Từ 20h5 đến 20h7, trong hai phút từ cự ly 22 km với hai quả đạn, tiểu đoàn 93, trung đoàn tên lửa 261 bắn cháy một máy bay B-52 rơi tại chỗ ở khu vực ga Yên Viên, cách Hà Nội hơn 10 km. 20h34, tiểu đoàn 77, trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi chiếc B-52 thứ 2 ở ngoại thành. Từ 20h29 đến 20h38, ba tiểu đoàn tên lửa (78, 79, 94) tập trung hỏa lực bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 thứ 3. Đêm 20 rạng ngày 21/12, bộ đội tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội bắn 35 quả đạn, "hạ gục" 7 chiếc B-52, trong đó 5 chiếc rơi tại chỗ. Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội đánh tốt, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của nhân dân.

Ngày 21/12 Chiến sự tại Hà Nội và Hải Phòng diễn ra ác liệt. Ban ngày, 180 lần máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu trọng yếu: ga Hàng Cỏ và Sở Công an (Hà Nội), nhà máy điện yên Phụ, Bộ Giao thông, cầu Phủ Lý và 6 đợt đánh vào khu vực thị xã Thanh Hóa. Từ 21h37 đến rạng sáng 22/12, địch huy động 24 lần máy bay B-52 và 36 lần máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển... Ngoài ra, 30 lần F4, F105 vào đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão (Kiến An, Hải Phòng). Hôm đó, quân và dân ta bắn rơi 11 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ ba B-52, hai F4, hai A7, một F111, một A6, một RA50, một F105...

Ngày 22/12 2h38, bộ đội rađa phát hiện chính xác các tốp B-52 và máy bay chiến thuật Mỹ ở hướng Tây Nam. Lần này địch sử dụng 24 chiếc B-52 và 36 máy bay chiến thuật vào đánh phá sân bay, bệnh viện Bạch Mai, ga Giáp Bát, Gia Lâm, Văn Điển... và các trận địa tên lửa, 18 lần F 111 hoạt động xen kẽ ở độ cao thấp nhằm bất ngờ đánh phá vào các mục tiêu đã trinh sát. 3h42, các kíp chiến đấu của tiểu đoàn 57 bộ đội phòng không Hà Nội đồng loạt nổ súng bắn rơi tại chỗ một B-52 ở chợ Bến, Mỹ Đức, Hà Tây. Cùng thời điểm này, tiểu đoàn 71 bắn rơi tại chỗ một máy bay B-52 ở Thanh Miện, Hải Hưng (Hải Dương ngày nay). 3h46, tiểu đoàn tên lửa 93 lại bắn rơi một chiếc B-52 ở khu vực Quỳnh Côi, Thái Bình. Trong ngày, quân và dân ta bắn rơi 5 máy bay, trong đó bắn rơi tại chỗ ba chiếc B-52, một chiếc F4. Ngày 21, 22/12, tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), các chiến sĩ tự vệ nhà máy Liên Cơ Hà Nội bằng 19 viên đạn 14,5 ly ngay loạt đạn đầu đã bắn rơi một máy bay F 111 "cánh cụp cánh xòe" của Mỹ. - Ngày 23/12 Ban ngày, 54 lần máy bay chiến thuật của không quân Mỹ đánh phá các khu vực ngoại thành Hà Nội. Mai Dịch, Trạm Trôi, Hoài Đức ( Hà Tây ). Ban đêm, 33 chiếc B-52 đánh Đồng Mỏ ( Lạng Sơn ) và khu vực Bắc Giang; 30 chiếc máy bay F4 và F105, 11 máy bay F111 đánh vào Yên Viên, Giáp Bát, Đa Phúc và các sân bay Nội Bài, Yên Bái. Hướng biển, có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân Mỹ vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An ( Hải Phòng ). Ta bắn bốn máy bay trong đó có hai B-52, một F4, một A7.

Ngày 24/12 Ban ngày, địch huy động 44 lần máy bay chiến thuật đánh phá khu vực Thái Nguyên (Cao Ngạn và dọc đường số 1), Sen Hồ, Việt Yên (Hà Bắc). Ban đêm, từ 19h50, địch dùng 33 lần B-52 đánh phá ác liệt ga Kép, Bắc Giang, phối hợp với 39 lần máy bay chiến thuật yểm hộ đánh phá các sân bay Yên Bái, ga Kép và khu vực Vĩnh Tuy (Hà Nội). Quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 5 chiếc máy bay, trong đó có một B-52, hai F4, hai A7. Lấy cớ nghỉ lễ Noel, 24h ngày 24/12, địch tạm ngừng cuộc tập kích để củng cố lực lượng.

Ngày 25/12 Quân đội Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. - Ngày 26/12 13h, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay cường kích các loại vào ném bom dữ dội các khu vực trận địa tên lửa và trạm biến thế Đông Anh. Tiểu đoàn tên lửa 72, trung đoàn 285 đã bắn rơi một máy bay F4. Từ 22h5, địch sử dụng 105 lần B-52 và 110 lần máy bay chiến thuật hộ tống đánh ồ ạt, liên tục vào nhiều mục tiêu trên cả ba khu vực: Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên (Mỹ tập trung 66 lần B-52 vào đánh phá Hà Nội, 21 lần B-52 đánh Thái Nguyên và 18 lần B-52 đánh Hải Phòng). Từ 22h40, B-52 ồ ạt đến ném bom rải thảm dữ dội vào tất cả các mục tiêu nội, ngoại thành Hà Nội. Khu phố Khâm Thiên và Khu Hai Bà Trưng bị tàn phá nặng nề. Từ các trận địa khu vực ngoại thành, ba tiểu đoàn tên lửa (57, 76, 88) đã tập trung bắn rơi một máy bay B-52. Sau ít phút các tiểu đoàn (57, 58, 79, 85, 87, 94) lập tức bắn rơi tại chỗ hai máy bay B-52, một chiếc rơi xuống xã Định Công (Thanh Trì). Với kinh nghiệm dày dạn, các tiểu đoàn tên lửa Phòng không (59, 93, 78, 79) đã phân tích chính xác, mục tiêu B-52 trong dải nhiễu, bắn rơi thêm hai B-52. Cùng thời gian này tại Hải Phòng, tiểu đoàn tên lửa 81 bắn rơi một B-52, Đại đội 74 pháo 100 mm, trung đoàn 252 cũng bắn rơi một B-52. Trận chiến đấu đêm 26/12 diễn ra hơn một giờ, lực lượng phòng không ba thứ quân của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã đánh một trận lớn, bắn rơi 8 máy bay B-52 và 10 máy bay chiến thuật khác. Đây là trận đánh then chốt quyết định bắn rơi nhiều máy bay chiến lược B- 52 nhất trong 9 ngày qua. - Ngày 27/12 Sáng 27/12, 100 lần máy bay chiến thuật của địch chia làm ba đợt đánh phá dữ dội vào các khu vực nội, ngoại thành Hà Nội như nhà máy dệt 8/3, ga và kho Văn Điển, cầu Đuống, Gia Lâm, đài phát thanh Mễ Trì, các trận địa tên lửa, rađa... Đại đội 61 tiểu đoàn 20 bắn rơi một máy bay F4. Cùng ngày 27, không quân ta cất cánh hai lần bắn rơi hai chiếc F4 của Mỹ. Từ 19h đến 22h, 36 lượt B-52, có 66 lượt máy bay chiến thuật yểm hộ, tập trung đánh phá các khu vực: Đông Anh, Yên Viên, Bạch Mai, Khuyến Lương, Đa Phúc, Dục Nội, Cổ Loa. Xen kẽ giưa các đợt hoạt động của B-52 là 17 lần F 111 tiếp tục thay nhau đánh phá. 22h20, Bộ Tư lệnh Không quân cho phi công Phạm Tuân lái máy bay MIG- 21 cất cánh bất ngờ từ sân bay Yên Bái được Sở chỉ huy và rađa dẫn đường trực tiếp bảo đảm, vượt qua hàng rào bảo vệ của máy bay F4 tiến về hướng đội hình B-52. Đến bầu trời khu vực Mộc Châu - Sơn La, anh tiếp cận được mục tiêu, công kích bằng hai quả tên lửa. Một chùm lửa bốc cháy trùm lên chiếc B-52 đầu tiên bị không quân ta bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không". 23h, bằng 32 quả đạn, các đơn vị tên lửa phòng không đã bắn tan bốn máy bay B-52, trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ. 23h02, hai tiểu đoàn tên lửa (71, 72) bắn tiêu diệt tốp máy bay B-52 từ hướng Tây lao vào đánh phá Hà Nội. Bằng hai quả đạn theo phương pháp bám chính xác vào giữa nền dải nhiễu đậm, chiếc B-52 chưa kịp cắt bom đã bị trúng đạn bốc cháy rơi xuống làng Ngọc Hà, đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội). Đây là chiếc B-52 duy nhất chưa kịp cắt bom đã bị bắn rơi. Tiểu đoàn 59 và tiểu đoàn 77 cũng bắn rơi hai máy bay B-52 ngay sau đó. Trong ngày và đêm đó, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 14 máy bay, trong đó có 5 B-52, 5 chiếc F4, hai A7, một A6, một máy bay lên thẳng HH- 53 đến cứu giặc lái.

Ngày 28/12 Từ 10h đến 17h, 131 lần máy bay chiến thuật các loại đánh vào trận địa của bộ đội phòng không - không quân. Không quân ta cất cánh, bắn rơi một máy bay RA- 5C. Cùng ngày, Bộ Tổng Tham mưu thông báo: Tổng thống Mỹ Nixon chấp thuận nối lại các phiên họp Hội nghị Paris. 21h41, phi công Vũ Xuân Thiều được lệnh của Sở chỉ huy Không quân, lái chiếc MIG-21 cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy, do Sở chỉ huy sân bay Thọ Xuân và rađa dẫn đường vòng ra phía sau đội hình B-52 đuổi địch đến vùng trời Sơn La. Phát hiện được B- 52 bám sát ở cự ly gần, Vũ Xuân Thiều xin công kích, quyết tiêu diệt địch. Sau khi bắn cháy máy bay địch, phi công Vũ Xuân Thiều cũng anh dũng hy sinh. Trận đánh ngày và đêm 28/12, quân và dân ta bắn rơi ba máy bay Mỹ, trong đó có hai B-52, một RA- 5C. 

Ngày 29/12 23h16, 60 lần B-52 lần lượt đánh vào: 30 chiếc B-52 đánh khu gang thép Thái Nguyên và khu Trại Cau, 18 B-52 đánh khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn), 12 B-52 đánh Kim Anh (Vĩnh Phú). Ngoài ra, 70 lần máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh xen kẽ các sân bay Thọ Xuân, Yên Bái, Hòa Lạc, Kép và khu vực Kim Anh (VĨnh Phú), , Đông Anh (Hà Nội), ngoại vi Thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh. Ta bắn rơi hai máy bay, trong đó Tiểu đoàn tên lửa 79 bảo vệ Hà Nội bắn rơi một B-52, một F4. Đây là trận đánh kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" bảo vệ Thủ đô Hà Nội cuối tháng Chạp năm 1972.

Đúng 7h ngày 30/12, Nixon ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B- 52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày, đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

45 năm đã trôi qua, những người trực tiếp tham chiến của cả hai bên đều đã tổng kết trận đánh. Với Mỹ là chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52, còn với ta là cuộc phòng thủ kiên cường nhưng lại mang tên gọi của một trận công kiên diễn ra 18 năm trước đó: “Điện Biên Phủ” nhưng lại ở “trên không” và ở ngay giữa lòng Thủ đô của đất nước, đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ về một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn ra trên bầu trời Hà Nội, cũng như Mỹ sẽ sử dụng B-52.

Thời gian đã dần lùi xa, nhiều vị tướng lĩnh trụ cột và những chiến sĩ kỳ cựu tham gia chỉ huy và trực tiếp tham dự trận chiến ấy không còn nữa, những người trẻ đều đã bước vào tuổi lão niên. Nhiều hiện vật đã được đưa vào bảo tàng, nhiều pho sử tổng kết chiến tranh đã được ghi lại. Bên cạnh những con số thống kê như những biểu tượng chiến thắng, như số lượng những chiếc máy bay của địch, đặc biệt là những “pháo đài bay” B-52, loại máy bay mà cho đến nay chưa từng bị bất cứ đối phương nào trên thế giới bắn hạ lại bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội và miền Bắc trong 12 ngày đêm 45 năm trước. Chiến thắng ấy là kết tinh của ý chí chiến đấu cùng nghệ thuật quân sự tài tình của lực lượng phòng không – không quân Việt Nam, của những con người sẵn sàng hy sinh tất cả cho độc lập tự do của Tổ Quốc, cho hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng ấy một lần nữa thể hiện tinh thần “ quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mà có lẽ cũng chỉ Việt Nam mới có, mọi người dân đều có thể  ra đi nhẹ nhàng, nhà cửa và tài sản bên trong có thể giao phó cho những người hàng xóm hay chính quyền có trách nhiệm ở lại; họ sẵn sàng giao con cái của mình cho những người không mấy thân thích nhưng cùng cảnh ngộ hay được xã hội phân công; họ đến đâu cũng được những chủ nhà vốn là những người nông dân mộc mạc sẵn sàng nhường những chỗ ở tốt nhất với câu nói cửa miệng không hề khách sáo mà lại chan chứa tình nghĩa: “Các bác vì nước, vì dân, (đôi khi còn nói: Vì thằng Mỹ)… mới phải về đây với chúng em”… Hồi ấy, rất ít thấy nói đến trộm cắp, cướp của, giết người… Phải chăng, khi mọi người cùng chung ý chí, cùng chia sẻ cảnh ngộ, cùng mong đến ngày thắng lợi với ước mơ thanh bình thì xã hội trở nên trong sạch, ngay trong khói đạn của chiến tranh và nghèo khó?…


Những phẩm chất ấy đã từng nhiều lần xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta qua những thử thách trong quá khứ lịch sử mà những ngày diễn ra “Điện Biên Phủ trên không” là một bằng chứng sống động. Kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào về quá khứ, chúng ta hãy biết phát huy những truyền thống, những phẩm chất vốn tiềm ẩn trong con người Việt Nam chúng ta, tích cực tham gia công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, góp phần đưa nước ta đi lên sánh ngang với bè bạn năm châu như mong ước của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

NVI42 - CÁC THỦ ĐOẠN NÓI XẤU, XUYÊN TẠC VỀ TỶ LỆ NỮ GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

  Ngày 01/11/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung nói xấu, xuyên tạ...